Báo cáo thực tập tốt nghiệp Nhà máy chế biến tinh bột Sắn - Yên Thành
LI M ĐU
1. Đặt vấn đề
Sắn là cây lương thực của cư dân nhiều vùng, nhất là các vùng trung du và miền
núi được nhân dân ta trồng từ nhiều năm trước. Trong kháng chiến chống thực dân
Pháp và đế quốc Mỹ, Sắn là kho dữ trữ lương thực tự nhiên của người dân và bộ đội
trong vùng. Ngày nay, với sự chuyển biến mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường hoà
nhập với sự phát triển chung của nền kinh tế thế giới cây Sắn đã nhanh chóng chuyển
đổi từ cây lượng thực truyền thống sang thành cây công nghiệp. Các sản phẩm của
Sắn như Sắn lát, Sắn viên, tinh bột Sắn…. đã trở thành mặt hàng được trao đổi rộng
rãi trên thị trường quốc tế. Nếu như trước đây Sắn chỉ được luộc lên làm thực phẩm
hoặc xào nấu làm thức ăn thì ngày nay người ta cho rằng Sắn là loại cây mang nhiều
lợi ích và có tương lai đầy hứa hẹn. Sắn không chỉ là cây lương thực, cây thực phẩm
mà còn là loại cây công nghiệp tạo ra các sản phẩm như: cồn, đường, bột ngọt, tinh
bột…. Như vậy cây Sắn đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển của ngành lương
thực, thực phẩm nói riêng cũng như sự phát triển của đất nước nói chung.
Một trong những sản phẩm quan trọng nhất từ Sắn là bột Sắn và tinh bột Sắn.
Nó được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như: công nghiệp dệt, công nghiệp
giấy, chất kết dính, dược phẩm, công nghệ thực phẩm….Đối với nước ta Sắn và tinh
bột Sắn được sản xuất theo 2 phương pháp chính là thủ công với quy mô gia đình và
được sản xuất trên dây chuyền công nghệ hiện đại. Ngày nay, do yêu cầu cao về chất
lượng cũng như mong muốn nâng cao hiệu quả kinh tế cùng với sự phát triển của các
ngành công nghiệp khác, Sắn được sản xuất trên dây chuyền công nghệ hiện đại.
Nghệ An là vùng đất nửa trung du nửa miền núi thích hợp cho việc trồng cây
Sắn. Lượng Sắn sản xuất ra ngày càng nhiều, để nâng cao giá trị sử dụng của cây Sắn
và tăng thu nhập cho người lao động, đa dạng hoá sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày
càng cao của người tiêu dùng. Từ năm 2003 nhà máy chê biến tinh bột Sắn Công
Thành - Yên Thành - Nghệ An (trực thuộc tổng công ty máy động lực và máy nông
nghiệp) được thành lập, nhà máy đã không ngừng cải tiến thiết bị, nâng cao trình độ
cán bộ công nhân viên, tìm tòi các phương án phù hợp trong từng công đoạn để đưa
pháp bảo quản sản phẩm.
2
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Nhà máy chế biến tinh bột Sắn - Yên Thành
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU VỀ NHÀ MÁY CHẾ BIẾN
TINH BỘT SẮN YÊN THÀNH
1.1. Giới thiệu chung về nhà máy
1.1.1. Vị trí
Nhà máy chế biến tinh bột Sắn Yên Thành được xây dựng gần trung tâm xã
Công Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Vị trí nhà máy khoảng 18.9 vĩ độ bắc,
105.4 kinh độ đông. Nằm ngay quốc lộ 7A nối liền quốc lộ 1A với nước bạn Lào.
1.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của nhà máy
Nhà máy chế biến tinh bột Sắn Yên Thành là chi nhánh của tổng Công ty máy
động lực và máy nông nghịêp tại Nghệ An được thành lập ngày 16 tháng 1 năm 2003,
theo quyết định số 03/ MĐL-MNN của Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng Công ty máy
động lực và máy nông nghiệp Việt Nam. Là một Chi nhánh mới thành lập, quản lý 02
cơ sở bao gồm: Nhà máy xuất khẩu Yên Thành và khách sạn VEAM – Cửa Lò. Nhà
máy được đầu tư xây dựng với dây chuyền công nghệ hiện đại, đặc biệt là được thiết
kế chế tạo tại Việt Nam, có công suất là 50 tấn sản phẩm / ngày. Quá trình đầu tư xây
dựng được thực hiện nhanh chóng và khẩn trương. Tháng 10/ 2003, nhà máy hoàn
thành và chạy thử thành công với tổng kinh phí là 15,2 tỷ đồng.
Năm 2004, Nhà máy chính thức đi vào hoạt động, sản phẩm đạt chất lượng cao,
nhanh chóng chiếm được ưu thế trên thị trường và được ViNaColtrol cấp chứng chỉ đạt
tiêu chuẩn xuất khẩu, là dự án được hoàn thành sớm nhất trong 3 dự án của chi nhánh.
Bảng 1.1: Lượng lao động của nhà máy qua các năm
Năm
Số
lượng
Trong đó
biến tinh bột sắn, sản xuất, chế biến thức ăn chăn nuôi và chế biến phân vi sinh (02 dự
án này đang hoàn tất hồ sơ thiết kế thi công). Là doanh nghiệp Trung ương duy nhất
trên địa bàn huyện Yên Thành, đơn vị tiêu biểu cho nghành công nghiệp của huyện, 4
năm liền có chỉ tiêu nộp Ngân sách Nhà Nước cao nhất huyện Yên Thành (năm 2005,
2006, 2007 và 2008). Có đóng góp quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu công
nghiệp hoá hiện đại hoá nông thôn của Đảng.
1.1.3. Mặt bằng tổng thể
Nhà máy được xây dựng trên mặt bằng với diện tích 6,5 ha. Trong đó bao gồm:
- Khoảng 2 ha nhà xưởng, kho, sân bãi và các phòng ban.
- 1.5 ha trồng cây, bao gồm cây cảnh, cây lấy gỗ (tràm, bạch đàn) và thảm cỏ tạo
môi trường sinh thái.
- 2 ha các hồ chứa nước bao gồm: 2 hồ dự trữ nước cho sản xuất và rửa, 3 hồ xử
lý sinh học.
- 1 ha cho khu vực xây dựng nhà máy xử lý nước thải, các công trình liên quan
1.1.4. Cơ cấu tổ chức
Bên cạnh việc thực hiện các chỉ tiêu kinh tế, nhà máy còn đặc biệt chú trọng đến
việc thành lập và chỉ đạo hoạt động của các đoàn thể. Ngay sau khi được thành lập,
ban lãnh đạo nhà máy đã xúc tiến việc thành lập chi bộ đảng với 06 đảng viên, Công
đoàn với 57 đoàn viên và chi đoàn Thanh niên nhà máy với 52 đoàn viên. Đến nay,
chi bộ nhà máy đã có tới 16 đảng viên, Công đoàn có 95 đoàn viên và đoàn Thanh
niên có 87 đoàn viên. Mỗi năm 01 lần, nhà máy đã phối hợp với Công đoàn và đoàn
Thanh niên tổ chức cho cán bộ, công nhân đi tham quan nghỉ mát từ 03 đến 05 ngày.
4
GIÁM ĐỐC
Phó giám đốc
điều hành
Phó giám đốc
sản xuất
Phòng
kế
6
Nguyên liệu
Tiếp nhận
Cân
Bãi nguyên liệu
Phễu cấp liệu
Làm sạch sơ bộ
Bóc vỏ khô
Tạp chất
RửaNước thải phân li Nước thải
Làm sạch lần 2 Tạp chất
Băm
Nghiền
Trích ly thôSữa loãng
Trích ly tinh
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Nhà máy chế biến tinh bột Sắn - Yên Thành
Hình 2.1. Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất tinhb bột Sắn
Qua sơ đồ trên ta thấy quy trình chế biến tinh bột Sắn tại nhà máy chế biến tinh
bột Sắn Yên Thành giống với quy trình chế biến tinh bột Sắn của các nhà máy khác.
2.1.2. Thuyết minh quy trình
1. Công đoạn tiếp nhận nguyên liệu
Nguyên liệu được các xe chuyển đến nhà máy từ vùng nguyên liệu. Sắn được sử
dụng là loại giống Sắn KM94, KM98 -5. Bởi vì các giống này có hàm lượng tinh bột
khá cao, tính chất hoá lý phù hợp với việc chế biến nên khi đưa vào sản xuất thì hiệu
suất thu hồi cao, đạt tiêu chuẩn chất lượng. Đầu tiên Sắn được đem qua bộ phận cân
điện tử để xác định khối lượng trước khi đem vào bãi chứa nguyên liệu của nhà máy.
Sau đó Sắn nguyên liệu được tiến hành lấy mẫu để xác định chất lượng Sắn tươi
nguyên liệu và định giá mua, đồng thời cũng xác định các tạp chất có trong nguyên
liệu như đất, cát, lá….và tỷ lệ Sắn hư hỏng thối rữa của Sắn nguyên liệu. Sắn tươi
thùng bóc vỏ khô có dạng hình trống quay được nhờ động cơ. Sắn được làm sạch nhờ
một phần đất đá, và bóc đi phần vỏ gỗ bên ngoài nhờ tác dụng của lực ma sát giữa
nguyên liệu với thành thiết bị và giữa nguyên liệu với nguyên liệu. Vỏ gỗ của Sắn
được bóc ra khoảng 45- 50%, sắn sau khi ra khỏi thùng quay thì đổ vào bể rửa ướt.
Tại bể rửa ướt Sắn được các cánh khuấy của máy rửa ướt đảo trộn và chuyển
dần về cuối máy. Tại đây Sắn được làm sạch nhờ tác dụng khuấy đảo của các mái
chèo và nước. Nước rửa được lấy từ nước thải phân ly và nước sạch từ ngoài vào. Ở
máy rửa nước bố trí hai đường ống nước rửa gồm nước sạch và nước thải phân ly. Ở
guồng cuối của máy rửa củ chỉ bố trí nước sạch dưới dạng tia để làm sạch lần cuối.
Dưới tác dụng của các cánh khuấy, Sắn được đảo trộn nhờ đó mà những vỏ lụa còn
lại và những tạp chất khác được tách triệt để, đồng thời dưới tác dụng của các cánh
khuấy có dạng mái chèo làm cho Sắn gãy nhỏ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình
băm tiếp theo. Chất thải của máy rửa củ ướt được rơi xuống buồng chứa và được tháo
ra theo các cửa xa. Số lần và thời gian giữa các lần xa tạp chất phụ thuộc vào độ bẩn
nguyên liệu, thường một ca làm việc tháo khoảng 5-8 lần.
8
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Nhà máy chế biến tinh bột Sắn - Yên Thành
A. Cấu tạo máy bóc vỏCấu tạo máy bóc vỏ Máy bóc vỏ
Hình 2.2. Máy bóc vỏ
1. Mô tơ điện 5. Cửa chất thải ra
2. Cửa nạp liệu 6. Cánh xoắn
3. Nắp đậy lòng bóc vỏ 7. Con lăn
4. Cửa nguyên liệu ra
B. Nguyên tắc hoạt động
Lòng bóc vỏ hoạt động được là do sự truyền động của mô tơ điện, khi mô tơ
đá, cùi Sắn, cành cây còn sót lại nhằm tạo điều kiện cho máy mài quy hoạt động tốt
hơn và tránh hư hỏng, Sắn được đổ vào phễu của máy băm, tại đây Sắn được băm nhỏ
nhờ dao gắn trên trục nằm ngang. Dao băm được làm bằng inox dày 15mm. Dao tĩnh
được hàn trên 1 khung thép và cách đều nhau một khoảng 18mm.
Công suất động cơ: 5,5 kw
Tốc độ vòng quay: 15 vòng/phút
10
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Nhà máy chế biến tinh bột Sắn - Yên Thành
Cấu tạo máy chặt Máy chặt
Hình 2.4. Máy chặt
1. Thân trên 5. Cánh gạt
2. Trục 6. Họng phân phối
3. Thân lưới 7. Vít định lượng
4. Thùng phân phối 8. Mô tơ
∗ Nguyên tắc quy hoạt động.
Củ Sắn sau khi được làm sạch, cấp vào dao chặt, được dao động và dao tĩnh chặt
nhỏ, các mẩu Sắn nhỏ hơn khe hở của dao tĩnh và dao động rơi xuống thùng phân
phối. Dao chặt có tác dụng làm giảm kích thước của mẩu sắn xuống còn 0,5 – 1 cm
nhằm giảm tải cho máy mài.
Hình 2.5. Cấu tạo dao chặt
1. Thân máy 4. Dao tĩnh
2. Trục 5. Puly
3. Dao động
11
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Nhà máy chế biến tinh bột Sắn - Yên Thành
4. Mài
Sắn sau khi được băm thì đổ xuống thùng phân phối, trong thùng phân phối có
các cánh khuấy để đưa Sắn qua vít định lượng xuống máy mài. Dưới tác dụng của các
Quá trình trích ly thô nhằm tách một phần bã, mủ Sắn trong dung dịch chứa hỗn
hợp, tách tinh bột ra khỏi bã và nước. Tại đây các miếng Sắn vừa được băm sẽ được
các lưỡi dao hình răng cưa của máy nghiền băm nhỏ do sự cọ xát giữa lưỡi dao và vỏ
rualo. Nhờ có nước bổ sung mà dịch sau khi nghiền dễ dàng chảy xuống thùng chứa
dịch cháo, mặt khác nước cũng giúp cho quá trình nghiền không bị tắc nghẽn. Trong
quá trình này HCN trong củ Sắn ở trạng thái tự do, hoà tan dần trong nước đến khi
không còn trong sản phẩm. Sự tiếp xúc của acid này với sắt dễ hình thành chất
feocryanide làm cho dịch tinh bột Sắn có màu xanh lơ. Do vậy, ở công đoạn này tất
cả các bộ phận thiết bị có tiếp xúc với tinh bột Sắn cần được làm bằng thép không rỉ.
Dịch sữa sau khi ra khỏi máy nghiền thì có độ nhớt cao, được bơm vào 4 máy
cụm tách bã thứ nhất qua đường dẫn phía trên nắp máy. Tại đây các máy ly tâm hoạt
động, dưới các mô tơ bã lớn được loại bỏ tại đây. Nhờ chuyển động ở dạng ly tâm và
các cánh khuấy cộng thêm nước mà bã dịch chuyển từ đáy rổ lên phía trên của máy ly
tâm văng ra xung quanh thành vỏ, sau đó được dẫn ra ngoài qua cửa ra. Nước cung
13
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Nhà máy chế biến tinh bột Sắn - Yên Thành
cấp cho quá trình trích ly có tác dụng làm loãng dịch cháo cho vào tách làm tăng hiệu
suất tách và làm giảm thời gian tách bã. Tại đây chúng ta thu được dịch sữa thô. Bã
thu được cụm này được bơm lên cụm thứ 2 cũng gồm 4 máy, tại đây bã lớn thu được
từ cụm 1 được hoà trộn thêm nước và tiếp tục tách để thu được dịch sữa thô. Một lần
nữa bã thu ở cụm số 2 sẽ được bơm lên cụm thứ 3 là rửa bã cuối cùng để lấy hết tinh
bột tự do. Dịch sữa thô thu được ở cả 3 cụm trên được dẫn ở 2 thùng được ở phía
dưới 3 cụm. Ở công đoạn này dịch sữa thô phải đạt được từ 6- 10% trước khi đưa vào
công đoạn tiếp theo.
7. Trích ly tinh
Quá trình trích ly nhằm loại bỏ gần như hoàn toàn xơ, bã và một ít mủ trong dịch
sữa thô còn sót lại trong quá trình tách bã. Quá trình này được thực hiện trên cyclon
lắng thuỷ lực và máy ly tâm đĩa để thu dịch sữa non.
Dịch sữa thô(nước, tinh bột, tạp chất xơ và các chất hoà tan, cát, sạn) thu được
chứa sữa. Phần bã không lọt qua lưới sẽ trượt trên bề mặt lưới rơi xuống cửa tháo bã
ra ngoài. Để tăng khả năng trích ly người ta bố trí nước hay dịch sữa loãng phun qua
hệ thống pipet.
Tốc độ quay của lồng ly tâm: 800 – 1000 vòng/phút
8. Phân ly
Dịch sữa sau khi được tách bã sẽ được hệ thống bơm ly tâm đưa qua máy phân
ly. Tác dụng của phân ly là tách các thành phần ngoài tinh bột ra như protein, xơ, dịch
bào….
Hệ thống phân ly gồm 3 máy được chia làm 2 phần: phân ly thô và phân ly tinh.
+ Phân ly thô: nhằm mục đích loại bỏ hết tạp chất, mủ, protein, nhựa củ ra khỏi
dịch sữa non tạo nên dịch sữa già. Đồng thời cô đặc dịch sữa non nồng độ 15 – 18%
lên nồng độ đạt khoảng 20 – 21%.
+ Phân ly tinh.Quá trình này cũng giống như phân ly thô nhưng dịch sữa thu hồi
đạt bome cao và gần như hoàn toàn tách loại bỏ được các thành phần mủ, protein và
các tạp chất khác. Nồng độ sau quá trình phân ly 2 đạt 20 -21%. Đây là giai đoạn cuối
cùng của làm sạch dịch sữa và làm trắng một phần dịch sữa trước khi đưa vào công
đoạn tách nước. Ở công đoạn này cần phải chú ý đến mức độ sạch mủ tạp chất của
dịch sữa, nhất là sau công đoạn này phải chuyến dịch sữa tới thùng có hệ thống khuấy
đảo để tránh hiện tượng dịch bị vón cục, gây khó khăn cho việc tách nước sau này.
15
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Nhà máy chế biến tinh bột Sắn - Yên Thành
Hơn nữa trong quá trình khuấy làm cho dịch không bị biến màu khi việc tách nước bị
gián đoạn và làm cho mủ nổi lên trên bè mặt sẽ được công nhân vớt đi.
Quá trình phân ly được tiến hành như sau:
Đầu tiên dịch sữa sẽ đi qua hệ thống lắng bằng xyclon sau đó qua bình lọc để
lọc các thành phần như xơ, bã còn sót lại. Sau khi qua hệ thống lắng thì dịch sữa mới
được đưa vào máy phân ly thô, sau khi ra khỏi máy phân ly thô thì dịch sữa sẽ được
đưa vào máy phân ly tinh. Trong quá trình phân ly thì có bổ sung thêm nước sạch để
quá trình phân ly diễn ra tốt hơn.
hoá sinh này sẽ ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm. Vì vậy yêu cầu giai đoạn này
phải diễn ra nhanh bằng máy ly tâm siêu tốc và liên tục được thiết kế theo công nghệ
thích hợp để tách nước và nâng cao nồng độ tinh bột.
Quá trình này diễn ra như sau:
Sau quá trình cô đặc sữa bột có Be khoảng 18- 20 độ được bơm đưa qua máy ly
tâm tách nước để tách nước ra. Dịch sữa được nạp vào máy, sau khi sữa đầy thì đóng
17
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Nhà máy chế biến tinh bột Sắn - Yên Thành
van và bắt đầu quá trình tách nước. Động cơ hoạt động truyền chuyển động cho
thùng quay qua ly hợp chuyển động. Khi thùng ly tâm quay dưới tác dụng của lực ly
tâm và tính chất vật lý của dịch sữa, các hạt có kích thước nhỏ hơn lỗ của vải lọc
được văng ra ngoài còn lại bột lớn hơn được giữ lại trên bè mặt của tấm vải lọc. Nhờ
vậy mà nước được tách ra khỏi bột và được đưa về thùng chứa trích ly. Đồng thời
máy ly tâm quay với tốc độ lớn làm cho bột nóng lên và một phần nước trong bột bị
thoát ra ngoài làm giảm độ ẩm của bột. Khi độ ẩm của bột còn khoảng 35-40% và độ
dày lớp bột trong máy khoảng(80 -100mm) thì bộ phận thuỷ lực hoạt động và làm
cho dao cào bột nâng lên cao , bắt đầu cào bột, bột được cào xong thì dao gạt bột tự
động trở về vị trí ban đầu. Tại nơi máng dẫn bột có thể kiểm tra độ ẩm của bột. Thời
gian làm cho bột khô khoảng 4- 5 phút , lúc này ta thấy bột khô và trắng nhưng chưa
được đánh tơi lắm thì ta đánh tơi trong bộ phận vít tải đòng thời đưa sang máy sấy.
Tiếp tục bơm sữa thì lại bắt đầu bắt đầu quá trình mới. Bột ẩm được đem qua hệ
thống sấy nhờ các vít tải. Trong quá trình ly tâm thì nước sẽ thấm qua vải lọc theo
máng về thùng chứa và được bơm trở lại cung cấp cho quá trình phân ly, còn phần
dịch sữa loãng thì được bơm ngược trở lại để tiếp tục phân ly.
Cấu tạo máy li tâm tách nước Máy li tâm tách nước
18
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Nhà máy chế biến tinh bột Sắn - Yên Thành
Hình 2.9. Máy li tâm tách nước
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Nhà máy chế biến tinh bột Sắn - Yên Thành
∗ Nguyên lý hoạt động
Không khí được quạt hút thông qua caloriphe để làm sạch, sau đó không khí
sạch sẽ vào máy gia nhiệt, tại đây không khí được gia nhiệt từ nhiệt độ 25- 30
0
C lên
đến 210 – 220
0
C và được đưa vào ống sấy.
Lúc này không khí sẽ hút bột ẩm lên cao theo chiều cao của tháp sấy tại đây bột
sẽ được sấy khô đến độ ẩm từ 12 – 13% sau đó bột được đưa qua hệ thống làm nguội
và được đóng bao.
Công suất của động cơ điện: 75 kw
10. Sấy
Bột sau khi ly tâm có độ ẩm 32-35%, được đưa đến thùng phân phối bột ẩm.
Thùng phân phối có tác dụng là nơi chứa bột ẩm và sau đó phân phối định lượng cho
quá trình sấy. Trong thùng sấy có lắp các cánh khuấy để chống hiện tượng vón cục và
kết dính hoạt động liên tục. Hệ thống sấy gồm có lò sấy, đầu đốt, tháp sấy, các xyclon
thu hồi bột, quạt hút và đẩy, máy vẩy bột, vít tải. Bột được di chuyển nhờ sức hút và
đẩy của không khí. Lò được cung cấp nhiệt bằng dầu đốt bằng dầu DO. Tác nhân sấy
là không khí sạch, không khí được hút qua máy lọc không khí, sau đos được qua máy
trao đổi nhiệt. Ở đây không khí nhận nhiệt và nâng nhiệt độ lên 250
0
C. Không khí
được hút vào trong ống cùng với bột ẩm đã được đánh tơi, tại đây xẩy ra quá trình
trao đổi nhiệt, bột ẩm bị bốc hơi nước và đạt độ ẩm 10-12%. Quá trình sấy diễn ra
trong vài giây để đảm bảo tinh bột không bị vón và không bị cháy.
∗ Cấu tạo máy sấy khí động.
21
bột được sàng lại những phần tử thô và tạp chất thải ra ngoài. Phần bột mịn rơi xuống
phễu hứng và được vít tải đưa đến điểm giữa, vít tải phân phối sau đó được đưa đến
máy đóng bao. Tuỳ đơn đặt hàng mà có thể đong bao 50kg hoặc 100kg, nhưng
thường đóng bao 50 kg.
Bột được đóng qua bao nilon có bọc ở ngoài để chống hút ẩm. Hiện tại nhà máy
đang sử dụng may đầu bao bằng máy cầm tay.
Tại đây bột được kiểm tra chất lượng nếu chưa đạt yêu cầu về độ ẩm thì tiến
hành sấy lại, nếu chưa đạt chất lượng thì hồi lưu lại máy mài. Cuối cùng kiểm tra quy
cách đóng bao, sau đó mag phiếu kiểm soát và nhập kho.
Bột thành phẩm phải đạt các yêu cầu chất lượng sau:
-Ph: 5-7
- Độ ẩm: Max- 12%
- Độ trắng: Max – 40ppm
- Tạp chất xơ: min – 96%
- Hàm lượng tinh bột: min – 96%
- Độ dẻo: 700 BU
- Độ tro: Max – 0,1%
23
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Nhà máy chế biến tinh bột Sắn - Yên Thành
Hình 2.12. Máy đóng bao
1. Băng tải 4. Thùng hứng 7. Ống thoát khí làm mát
2. Thùng đóng 5. Xyclone nguội 8. Quạt nguội
3.Phễu cân 6. Khoá khí 9. Rây bột
13. Bảo quản thành phẩm
Tinh bột Sắn là chất dễ hấp thụ ẩm. Do đó, bột phải được bảo quản ở điều kiện
nhiệt độ, độ ẩm bình thường, tránh bị nắng mưa. Khi xếp bột thành phẩm vào kho ta
phải xếp giữa, các bao có khoảng cách để tránh hiện tượng bốc nóng, bột bị nén chặt
lại làm cho bột bị đắng, không được lưu trữ lâu trong kho, nếu cần phơi nắng lại để
tránh bị ẩm.
khoảng 6,5 – 6,8.
+ Nước thải từ công đoạn tinh chế bột có hàm lượng ô nhiễm chất hữu cơ cao
(COD: 10000 – 13000mg/l; BOD: 4000 – 9000mg/l), hàm lượng cặn lơ lửng, cặn khó
25