BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG NGUYỄN THỊ HẢI HÀ NGHIÊN CỨU
ĐIỀU KIỆN LAO ĐỘNG, SỨC KHOẺ VÀ BỆNH TẬT
CỦA THUYỀN VIÊN TÀU VIỄN DƯƠNG
TẠI 2 CÔNG TY VẬN TẢI BIỂN VIỆT NAM
NĂM 2011-2012 Chuyên ngành: VỆ SINH XÃ HỘI HỌC VÀ TỔ CHỨC Y TẾ
Mã số: 62.72.01.64
LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y HỌC Người hướng dẫn khoa học:
1. GS.TS. NGUYỄN TRƯỜNG SƠN
2. GS. TS. ĐẶNG ĐỨC PHÚ Hà Nội - 2014
luận án nào khác. Nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hải Hà
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BIỂU ĐỒ/ HÌNH
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN 3
1.1. ĐẶC ĐIỂM MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN TRÊN BIỂN 3
1.1.1. Ảnh hưởng của giông, gió, bão 3
1.1.2. Ảnh hưởng của sóng biển 4
1.1.3. Ảnh hưởng của nhiệt độ không khí và bức xạ mặt trời 5
1.2. ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN LAO ĐỘNG TRÊN TÀU VẬN TẢI
VIỄN DƯƠNG 6
1.2.1. Khái niệm về các loại hình vận tải biển và vận tải biển viễn dương 6
1.2.2. Về thuyền viên và đội tàu vận tải viễn dương 8
1.2.3. Điều kiện môi trường lao động trên tàu viễn dương 9
1.2.4. Điều kiện xã hội, tổ chức lao động và vệ sinh dinh dưỡng trên tàu
viễn dương 16
1.3. ĐẶC ĐIỂM SỨC KHOẺ VÀ CƠ CẤU BỆNH TẬT CỦA
THUYỀN VIÊN 20
1.3.1. Đặc điểm sức khoẻ của thuyền viên vận tải viễn dương 20
1.3.2. Các nghiên cứu về bệnh tật của thuyền viên vận tải viễn dương 22
3.3. ẢNH HƯỞNG CỦA HÀNH TRÌNH TRÊN BIỂN ĐẾN SỰ BIẾN
ĐỔI SỨC KHOẺ VÀ BỆNH TẬT CỦA THUYỀN VIÊN VẬN TẢI
VIỄN DƯƠNG 19
3.3.1. Ảnh hưởng của hành trình trên biển đến một số chỉ số thể lực của
thuyền viên 19
3.3.2. Biến đổi một số chỉ số sinh học của thuyền viên trước và sau một
chuyến hành trình 19
3.3.3. Ảnh hưởng của hành trình trên biển đến sự thay đổi tỷ lệ một số bệnh
lý của thuyền viên 27
3.4. THỰC TRẠNG CHĂM SÓC SỨC KHOẺ CHO THUYỀN VIÊN
VẬN TẢI VIỄN DƯƠNG VIỆT NAM VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC
32
3.4.1. Thực trạng chăm sóc sức khoẻ thuyền viên vận tải viễn dương Việt
Nam 32
3.4.2. Đề xuất giải pháp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ thuyền viên 34
3.4.3. Kết quả can thiệp bằng biện pháp đào tạo kiến thức và kỹ năng thực
hành môn y học biển 35
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 39
4.1. ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN LAO ĐỘNG TRÊN TÀU VẬN TẢI
VIỄN DƯƠNG VIỆT NAM 39
4.1.1. Đặc điểm môi trường lao động trên các tàu vận tải viễn dương 39
4.1.2. Điều kiện vệ sinh an toàn và tổ chức lao động trên tàu vận tải viễn
dương 43
4.1.3. Điều kiện sống, sinh hoạt và vệ sinh trên tàu của thuyền viên tàu vận
tải viễn dương 45
4.1.4. Về điều kiện dinh dưỡng trên tàu 46
4.2. THỰC TRẠNG SỨC KHOẺ VÀ CƠ CẤU BỆNH TẬT CỦA
THUYỀN VIÊN VẬN TẢI VIỄN DƯƠNG VIỆT NAM 46
4.2.1. Thể lực và các chỉ số sinh học ở thuyền viên 46
4.2.2. Về cơ cấu bệnh tật của thuyền viên vận tải viễn dương Việt Nam 52
IMHA: International Maritime Health Association (Hội y học biển
quốc tế)
IMO : International Maritime Organization (Tổ chức hàng hải
quốc tế)
JNC
Joint National Committee
MARPOL Ô nhiễm môi trường biển (Maritime Pollution )
Pd Huyết áp tâm trương
Ps Huyết áp tâm thu
RHM Răng hàm mặt
SOLAS Safety of Life At Sea (An toàn sinh mạng trên biển)
STCW Standards of Training Certification and Watchkeeping for
Seafarers (Tiêu chuẩn cấp chứng chỉ đào tạo và trực ca
cho thuyền viên)
TCVSCP Tiêu chuẩn vệ sinh cho phép
THA Tăng huyết áp
TV Thuyền viên
VNTB Vòng ngực trung bình
VSATLĐ Vệ sinh an toàn lao động
WHO World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới) DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Giới hạn chỉ số Yaglou 9
Bảng 1.2. Tiêu chuẩn ánh sáng nơi làm việc 14
Bảng 2.1. Phân loại chỉ số BMI theo tiêu chuẩn của WHO sử dụng cho
người Châu Á – 2000 44
Bảng 2.2. Phân loại huyết áp cho người từ 18 tuổi trở lên 45
(theo JNC VII - 2003) 45
Bảng 2.3. Các hội chứng rối loạn thông khí phổi 46
Bảng 3.22. Tỷ lệ mắc các bệnh nội tiết, dinh dưỡng, chuyển hóa ở thuyền
viên 16
Bảng 3.23. Tỷ lệ mắc một số bệnh hô hấp của các thuyền viên 16
Bảng 3.24. Tỷ lệ thuyền viên bị THA theo mức độ năng nhẹ 17
Bảng 3.25. Tỷ lệ thuyền viên bị THA theo nhóm nghề nghiệp 17
Bảng 3.26. Tỷ lệ thuyền viên bị THA theo nhóm chức danh 17
Bảng 3.27. Tỷ lệ rối loạn điện tâm đồ theo nhóm nghề nghiệp 18
Bảng 3.28. Tỷ lệ rối loạn sức nghe theo nhóm nghề nghiệp trên tàu 18
Bảng 3.29. Thay đổi thể lực của thuyền viên trước và sau hành trình 19
Bảng 3.30. Tần số mạch và HA trung bình theo nhóm nghề nghiệp của
thuyền viên trên tàu trước và sau hành trình 21
Bảng 3.31. Biến đổi công thức máu của thuyền viên trước và 22
Bảng 3.32. Ðặc điểm đường máu của thuyền viên trước và 22
Bảng 3.33. Thay đổi tỷ lệ rối loạn đường máu của thuyền viên trước và sau
hành trình 23
Bảng 3.34. Biến đổi các thành phần nước tiểu của thuyền viên trước và sau
hành trình 24
Bảng 3.35. Thay đổi loại hình thần kinh của thuyền viên trước và sau hành
trình 25
Bảng 3.36. Tỷ lệ mắc bệnh của thuyền viên vận tải viễn dương (n=300) 27
Bảng 3.37. Biến đổi tỷ lệ một số bệnh lý tim mạch của các thuyền viên
trước và sau hành trình 29
Bảng 3.38. Biến đổi điện tâm đồ của thuyền viên trước và sau hành trình 29
Bảng 3.39. Suy giảm sức nghe của thuyền viên trước và sau hành trình theo
nhóm nghề nghiệp trên tàu 30
Bảng 3.40. Biến đổi sức nghe của thuyền viên trước vàsau hành trình theo
tuổi nghề 31
Bảng 3.41. Mức độ trầm cảm của các đối tượng nghiên cứu (test Beck) 32
Bảng 3.42. Thực trạng tổ chức và nhân lực y tếcủa hai công ty vận tải viễn
dương 32
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam là một quốc gia biển, với trên 3260 km bờ biển và một
vùng biển rộng tới trên 1.000.000 km
2
(lớn gấp 3 lần diện tích đất liền).
Những năm gần đây kinh tế biển của nước ta đang trên đà khởi sắc và ngày
càng phát triển mạnh mẽ. Nghị quyết 4 của Ban chấp hành Trung ương
Đảng khóa X đã đề ra Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, trong đó
xác định kinh tế biển phải trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước
với tỷ trọng ngày càng tăng. Mục tiêu của Nghị quyết Trung ương 4, Đại
hội ĐCSVN khoá X nêu rõ “đến năm 2020, phấn đấu đưa nước ta trở thành
quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc
gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, làm cho đất nước giàu mạnh và mục tiêu cụ thể là phấn đấu
đến năm 2020, kinh tế biển và ven biển đóng góp khoảng 53-55% tổng
GDP của cả nước …”. Kinh tế biển phát triển đã và đang thu hút ngày càng
nhiều lực lượng lao động trong đó có ngành vận tải biển.
Lao động trên các tàu biển (gọi là thuyền viên) là loại hình lao động
đặc biệt. Ngay từ giây phút đầu tiên bước vào nghề đi biển, người thuyền
viên phải sống và làm việc trong một môi trường hết sức khắc nghiệt của
biển cả và trên chính con tàu của họ. Loại hình lao động này mang tính đặc
thù rất cao như thường xuyên phải cô lập với đất liền, người thân. Tiếng
ồn, rung, lắc diễn ra liên tục suốt ngày đêm, dinh dưỡng bị mất cân
đối…[25]. Tất cả các yếu tố bất lợi của môi trường và điều kiện lao động
trên tàu biển đã có ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe, sự phát sinh các bệnh
tật có tính chất đặc thù như say sóng, rối loạn thần kinh chức năng, rối loạn
chuyển hoá, tăng huyết áp và hậu quả cuối cùng là ảnh hưởng tới khả năng
lao động và giảm tuổi nghề của thuyền viên [21], [44], [77], [87].
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. ĐẶC ĐIỂM MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN TRÊN BIỂN
Môi trường tự nhiên được xem là yếu tố đầu tiên ảnh hưởng đến sức
khỏe người lao động, đặc biệt là môi trường tự nhiên trên biển. Nếu như
trên bờ người lao động có nhiều biện pháp để hạn chế những điều kiện
khắc nghiệt của môi trường tự nhiên thì trên biển người lao động phải hàng
giờ, hàng ngày trong suốt hành trình trên biển phải trực tiếp đối mặt với
môi trường tự nhiên khắc nghiệt của biển cả, mà trước tiên phải kể đến:
1.1.1. Ảnh hưởng của giông, gió, bão
Trên bề mặt trái đất, biển là nơi hình thành các cơn áp thấp, giông,
bão và các trận cuồng phong, hậu quả gây nên những hiện tượng biển động
với độ cao của sóng rất lớn làm ảnh hưởng lớn đến các hoạt động sản xuất
cũng như an toàn sinh mạng của người lao động biển. Về cơ bản, khí hậu
vùng biển nước ta là loại khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng đôi khi cũng có
những biểu hiện của khí hậu ôn đới [11].
Biển nước ta chịu tác động của nhiều loại hệ thống thời tiết như:
- Hệ thống thời tiết phía Bắc ảnh hưởng chủ yếu đến biển nước ta vào
mùa Đông - Xuân với biểu hiện chủ yếu là gió mùa đông bắc phát triển mạnh.
Vào thời gian này nhiệt độ không khí khá thấp (trung bình 15-20 độ), khô
hanh, lạnh, gió mùa đông bắc có khi mạnh cấp 6, cấp 7, có thể lên cấp 8, cấp
9. Điều này làm ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống sinh hoạt cũng như hoạt
động sản xuất trên biển. Các lao động biển chịu nhiều tác động rất mạnh của
4
rung, xóc, lắc, nhiều người bị say sóng, ăn uống hạn chế, sức khỏe giảm sút
dẫn đến năng suất và chất lượng lao động bị ảnh hưởng.
- Hệ thống thời tiết phía Nam chịu tác động của áp thấp mùa hạ Châu
lớn đến hoạt động của các tàu thuyền trên biển.
Tóm lại, vùng biển Việt Nam vừa mang đặc trưng của vùng khí hậu
nhiệt đới, gió mùa, lại vừa mang đặc điểm của khí hậu hải dương vừa nóng,
ẩm, nhiều gió, áp thấp, vừa nhiều giông bão. Sóng biển có độ cao trung
bình lớn. Đây là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất
trên biển, sóng lớn hơn có thể gây ra say sóng đối với nhiều người làm ảnh
hưởng đến nhiều hoạt động chức năng sinh lý của cơ thể và khả năng lao
động của họ. Sóng trong giông bão có thể đe doạ an toàn sinh mạng của các
lao động biển [8], [92], [93].
1.1.3. Ảnh hưởng của nhiệt độ không khí và bức xạ mặt trời
Lao động trên biển, con người chịu tác động trực tiếp của nhiệt độ
không khí nóng vào mùa hè và lạnh vào mùa đông. Về mùa hè, ngoài các
bức xạ trực tiếp từ mặt trời chiếu xuống, người lao động trên biển còn phải
chịu sức nóng gián tiếp từ các tia bức xạ từ mặt nước phản chiếu lên cộng
với sức nóng do các máy móc hoạt động toả ra. Chính điều này làm cho
nhiệt độ bên trong con tàu tăng lên từ 5
0
C đến 10
0
C, và cũng làm cho cơ
thể luôn phải trong trạng thái điều nhiệt cao, gánh nặng thân nhiệt tăng làm
ảnh hưởng đến nhiều hoạt động chức năng của cơ thể như chức năng điều
nhiệt, chức năng tuần hoàn, chức năng bài tiết, hô hấp, tiêu hóa
6
Mặt khác, nhiệt độ giữa trong và ngoài con tàu lại chênh nhau rất
nhiều làm cho khả năng điều nhiệt của cơ thể khi di chuyển giữa trong và
ngoài tàu trở nên rất khó khăn và dễ bị cảm cúm [129].
1.2. ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN LAO ĐỘNG TRÊN TÀU VẬN TẢI
VIỄN DƯƠNG
2 tuần trên biển như tuyến vận tải Đông Nam Á, các tỉnh phía Nam Trung
Quốc. Đặc điểm của các tàu hoạt động trong khu vực này thường là các tàu
có trọng tải từ một vài nghìn tấn đến vạn tấn. Trong trường hợp khẩn cấp
có thể ghé cảng gần nhất từ 24 - 72 tiếng. Tại tuyến này có thể bổ sung
thêm thực phẩm tươi sống trên đường đi (phải mua bằng ngoại tệ với giá
đắt hơn nhiều giá trong nước mua bằng nội tệ). Vì lý do này việc bổ sung
thực phẩm tươi sống và hoa quả tươi cũng bị hạn chế nhiều.
Vận tải biển viễn dương (World wide):
Đây là loại hình vận tải của những con tàu có trọng tải lớn nhất từ vài
vạn tấn đến vài chục vạn tấn hàng hoá, có thể đi lại trên mọi tuyến hàng hải
quốc tế và có thể cập cảng ở tất cả các đại dương trên thế giới. Đặc điểm
của tuyến vận tải này là thời gian một chuyến hành trình thường dài trung
bình khoảng 1 năm, thời gian tàu chạy liên tục trên biển không có khả năng
cập cảng kéo dài nhất là 40 - 45 ngày, thời gian này tàu hoàn toàn cô lập
với đất liền. Trong trường hợp khẩn cấp tàu không thể ghé cảng gần nhất
trong một và chục giờ được, nên rủi ro khi bị ốm đau, bệnh tật hoặc tai nạn
là rất lớn. Sự cô lập của thuyền viên với đất liền là rất lớn, sự trợ giúp về y
8
tế trong trường hợp khẩn cấp từ đất liền nhiều khi khó có khả năng thực
hiện được. Do vậy, gánh nặng thần kinh tâm lý gây ra cho thuyền viên là
rất lớn. Mặt khác việc cung cấp thực phẩm tươi sống, rau quả tươi cũng
khó thực hiện được, việc bảo quản trong kho lạnh quá dài ngày làm mất đi
giá trị của thực phẩm. Đây là nguyên nhân chủ yếu làm cho chế độ ăn của
đoàn thuyền viên bị mất cân đối nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến sức
khoẻ, sự phát sinh bệnh tật của thuyền viên vận tải viễn dương.
1.2.2. Về thuyền viên và đội tàu vận tải viễn dương
Tàu viễn dương là những tàu có trọng tải lớn, thường vào khoảng
trên 1 vạn tấn/tàu và phạm vi hoạt động rộng khắp trên mọi đại dương của
trái đất [97].
Môi trường vi khí hậu gồm các yếu tố: Nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió.
Những yếu tố này có ảnh hưởng lớn và thường xuyên đến sức khoẻ người
thuyền viên. Người ta thường sử dụng chỉ số Yaglou hay chỉ số Tam Cầu
(WBGT) để phản ánh tổng hợp các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió và
đưa ra mối quan hệ và tiêu chuẩn giới hạn cho từng loại cường độ lao động
theo thời gian [70], [134] như sau:
Bảng 1.1. Giới hạn chỉ số Yaglou
Thời gian LĐ
Giới hạn chỉ số Yaglou
LĐ nhẹ LĐ vừa LĐ nặng
8 giờ LĐ 31,1 28,3 26,7
75% LĐ, 25% nghỉ 31,7% 29,5 28,0
50% LĐ và 50% nghỉ
32,5 30,8 29,4
25% LĐ, 75% ngh
ỉ
33,3
32,2
31,1
10
Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì nếu lao động vừa trong 8
giờ thì chỉ số nhiệt độ không được vượt quá 26,7
0
C. Khi lao động trong
nhân, các thành phần kinh tế khác do tàu công suất nhỏ, tận dụng các con
tàu cũ, quá hạn sử dụng để khai thác do đó hầu hết không đảm bảo các tiêu
chuẩn thông gió cũng như các tiêu chuẩn vệ sinh khác. Vấn đề này quan
trọng nhất là với các lao động trong buồng máy, nơi nhiệt độ, độ ẩm cao
kết hợp với hơi xăng dầu càng làm ảnh hưởng nhiều đến sức chịu đựng và
khả năng làm việc của người lao động [67], [77], [97].
Độ ẩm không khí trên tàu
Các tàu vận tải lớn nói chung do có hệ thống điều hoà không khí khá
đảm bảo nên độ ẩm tương đối ổn định. Trái lại, các loại tàu nhỏ, lạc hậu
hoặc các tàu cá chỉ có thông gió tự nhiên nên ẩm độ tuỳ thuộc hoàn toàn
vào môi trường tự nhiên của biển [77].
1.2.3.2. Các yếu tố vật lý
Tiếng ồn
Trong y học lao động người ta phân loại âm thanh theo tần số như
sau [70]:
- Âm thanh có tần số dưới 300 Hz: gọi là âm tần số thấp
- Âm thanh có tần số từ 300 - 1000 Hz: gọi là âm tần số trung bình
- Âm thanh có tần số trên 1000 Hz (≥85dBA): gọi là âm tần số cao
Đây là vấn đề nan giải nhất trên các loại tàu biển hầu như không thể
khắc phục được mà những người lao động biển chỉ còn cách phải chung
sống. Các nghiên cứu về ô nhiễm tiếng ồn trên các tàu biển cho thấy: ngay
cả khi tàu ở trong cảng chỉ có các máy đèn hoạt động thì mức độ ô nhiễm
tiếng ồn cũng lên đến ≥ 85dBA, nhiều chỗ đã vượt tiêu chuẩn cho phép
(trên 85 dBA) [7], [16], [22], . Trong khi hành trình trên biển tàu phải chạy
tất cả các máy chính thì tiếng ồn còn cao hơn nhiều lần và diễn ra liên tục
suốt ngày đêm.
12
Ảnh hưởng của tiếng ồn đến chức năng của cơ thể:
- Với tiếng ồn tần số trung bình thường gây giảm sức nghe.