DỊCH VỤ GIAO NHẬN HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU BẰNG ĐƯỜNG BIỂN - Pdf 24

Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Kinh Vĩnh
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ GIAO NHẬN HÀNG HÓA
XUẤT NHẬP KHẨU BẰNG ĐƯỜNG BIỂN
1.1. Tổng quan về hoạt động giao nhận vận tải
1.1.1. Khái niệm về dịch vụ giao nhận và người giao nhận
 Dịch vụ giao nhận
Giao nhận vận tải là những hoạt động nằm trong khâu lưu thông phân phối,
một khâu quan trọng nối liền sản xuất với tiêu thụ, hai mặt chủ yếu của chu trình tái
sản xuất xã hội.
Giao nhận vận tải thực hiện chức năng đưa sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi
tiêu thụ, hoàn thành mặt thứ hai của lưu thông phân phối là phân phối vật chất, khi
mặt thứ nhất là thủ tục thương mại đã hình thành.
Giao nhận gắn liền và song hành với quá trình vận tải. Thông qua giao nhận
các tác nghiệp vận tải được tiến hành: tập kết hàng hoá, vận chuyển, xếp dỡ, lưu kho,
chuyển tải, đóng gói, thủ tục, chứng từ…Với nội hàm rộng như vậy, nên có rất nhiều
định nghĩa về giao nhận.
Theo quy tắc mẫu của Liên đoàn các hiệp hội giao nhận quốc tế (FIATA) về
dịch vụ giao nhận, “dịch vụ giao nhận được định nghĩa như là bất kỳ loại dịch vụ nào
liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng
hóa cũng như các dịch vụ tư vấn có liên quan đến các dịch vụ trên, kể cả các vấn đề
về hải quan, tài chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập chứng từ liên quan đến
hàng hóa”.
Như vậy về cơ bản, giao nhận hàng hóa là tập hợp những công việc có liên
quan đến quá trình vận tải nhằm thực hiện việc di chuyển hàng hóa từ nơi gửi hàng
(người gửi hàng) đến nơi nhận hàng (người nhận hàng).
 Người giao nhận
Người ta thường hiểu người kinh doanh dịch vụ giao nhận hay các doanh
nghiệp giao nhận là người giao nhận (Forwarder, Freight Forwarder, Forwarding
Agent). Theo FIATA, “người giao nhận là người lo toan để hàng hóa được chuyên
chở theo hợp đồng ủy thác và hành động vì lợi ích của người ủy thác. Người giao
SVTH: Hoàng Thị Nguyệt Anh

SVTH: Hoàng Thị Nguyệt Anh
Lớp: 05DQN Trang 2
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Kinh Vĩnh
1.1.2. Hoạt động giao nhận là một phần của hoạt động Logistics
Thuật ngữ logistics đã có từ lâu trên thế giới, trước hết ở ngành quân sự, nó
bao gồm các bài toán về di chuyển quân lương, bố trí lực lượng, thiết kế và bố trí kho
tàng, quản lý vũ khí, … sao cho phù hợp nhất với tình hình nhằm mục tiêu chiến
thắng đối phương. Trong sản xuất kinh doanh, Logistics đề cập tới việc tối thiểu hóa
chi phí, từ việc mua sắm nguyên vật liệu cho tới việc lập, thực hiện kế hoạch sản xuất
và giao hàng. Mục tiêu của Logistics trong sản xuất kinh doanh là giảm thiểu các chi
phí phát sinh, đồng thời vẫn phải đạt được các mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra.
Ở Việt Nam, kinh tế phát triển chậm hơn các nước, nhất là so với các nước Âu
-Mỹ. Vì vậy mà khái niệm Logistics còn khá mới mẻ và ta mới triển khai được một
phần của Logistics.
Luật Thương mại năm 2005, điều 233 quy định: “Dịch vụ logistics là hoạt
động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc
bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục
giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các
dịch vụ khác có liên quan tới hàng hoá theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù
lao”.
Để cụ thể hơn, Chính phủ ban hành Nghị định 140/2007/NĐ-CP ngày
05/09/2007 quy định chi tiết về phân loại dịch vụ Logistics. Theo đó, dịch vụ
Logistics theo quy định tại Điều 233 Luật Thương mại được phân loại như sau:
1. Các dịch vụ Logistics chủ yếu, bao gồm:
a) Dịch vụ bốc xếp hàng hoá, bao gồm cả hoạt động bốc xếp container;
b) Dịch vụ kho bãi và lưu giữ hàng hóa, bao gồm cả hoạt động kinh doanh kho
bãi container và kho xử lý nguyên liệu, thiết bị;
c) Dịch vụ đại lý vận tải, bao gồm cả hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan và
lập kế hoạch bốc dỡ hàng hóa;
SVTH: Hoàng Thị Nguyệt Anh

Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Kinh Vĩnh
giao nhận thuần túy đã dần trở thành hoạt động tổ chức quản lý toàn bộ dây chuyền
phân phối vật lý và là một bộ phận trong chuỗi mắt xích “cung - cầu”. Người vận tải
giao nhận trở thành người cung cấp dịch vụ logistics.
Như vậy, có thể nói rằng: dịch vụ giao nhận là một phần của dịch vụ Logistics
và dịch vụ logistics là sự phát triển cao, hoàn thiện của dịch vụ vận tải giao nhận.
1.1.3. Điều kiện kinh doanh dịch vụ Logistics
Như đã nói ở trên, dịch vụ giao nhận là một phần của dịch vụ Logistics và
dịch vụ Logistics là sự phát triển cao, hoàn thiện của dịch vụ vận tải giao nhận, nên
Việt Nam đã ban hành Luật Thương Mại 2005 và Nghị định 140/2007/NĐ-CP trong
đó quy định rõ điều kiện kinh doanh dịch vụ Logistics và giới hạn trách nhiệm đối
với thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics (bao hàm cả khái niệm giao nhận hàng
hóa). Cụ thể đối với thương nhân kinh doanh các dịch vụ Logistics chủ yếu như sau:
 Điều kiện kinh doanh đối với thương nhân kinh doanh các dịch vụ
Logistics chủ yếu:
1. Là doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh hợp pháp theo pháp luật Việt Nam.
2. Có đủ phương tiện, thiết bị, công cụ đảm bảo tiêu chuẩn an toàn, kỹ thuật và
có đội ngũ nhân viên đáp ứng yêu cầu.
3. Thương nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ logistics ngoài việc đáp ứng các
điều kiện quy định tại khoản 2 chỉ được kinh doanh các dịch vụ logistics khi
tuân theo những điều kiện cụ thể sau đây:
a) Trường hợp kinh doanh dịch vụ bốc dỡ hàng hoá thì chỉ được thành lập
công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không
quá 50%;
b) Trường hợp kinh doanh dịch vụ kho bãi thì được thành lập công ty liên
doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 51%; hạn
chế này chấm dứt vào năm 2014;
SVTH: Hoàng Thị Nguyệt Anh
Lớp: 05DQN Trang 5
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Kinh Vĩnh

− Ghi chú về những mất mát, tổn thất đối với hàng hoá (nếu có).
− Giúp người xuất khẩu trong việc khiếu nại đối với những hư hỏng, mất mát
hay tổn thất của hàng hoá.
SVTH: Hoàng Thị Nguyệt Anh
Lớp: 05DQN Trang 6
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Kinh Vĩnh
1.1.4.2. Đại diện cho người nhập khẩu
Người giao nhận với những thoả thuận cụ thể sẽ giúp khách hàng của mình
(người nhập khẩu) những công việc sau:
− Theo dõi quá trình vận chuyển hàng hoá trong trường hợp người nhập khẩu
chịu trách nhiệm về chi phí vận chuyển.
− Nhận và kiểm tra tất cả các chứng từ liên quan đến quá trình vận chuyển hàng
hoá.
− Nhận hàng từ người vận tải.
− Chuẩn bị các chứng từ và nộp các lệ phí giám sát hải quan, cũng như các lệ
phí khác liên quan.
− Chuẩn bị kho hàng chuyển tải (nếu cần thiết).
− Giao hàng hoá cho người nhập khẩu.
− Giúp người nhập khẩu trong việc khiếu nại đối với những tổn thất, mất mát
của hàng hoá.
1.1.4.3. Các dịch vụ khác
Ngoài các dịch vụ kể trên, người giao nhận còn cung cấp các dịch vụ khác
theo yêu cầu của khách hàng như dịch vụ gom hàng, tư vấn cho khách hàng về thị
trường mới, tình huống cạnh tranh, chiến lược xuất khẩu, các điều kiện giao hàng phù
hợp, v.v..
1.1.5. Quyền hạn và nghĩa vụ của người giao nhận
− Ðược hưởng tiền công và các khoản thu nhập hợp lý khác.
− Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình theo hợp đồng.
− Quá trình thực hiện hợp đồng, nếu có lý do chính đáng vì lợi ích của khách
hàng thì có thể thực hiện khác với chỉ dẫn của khách hàng nhưng phải thông

cầu. Anh ta phải chịu trách nhiệm về những hành vi và lỗi lầm của người chuyên chở,
của người giao nhận khác mà anh ta thuê để thực hiện hợp đồng vận tải như thể là
hành vi và thiếu sót của mình. Quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của anh ta như thế
nào là do luật lệ của các phương thức vận tải quy định. Người chuyên chở thu ở
khách hàng khoản tiền theo giá cả của dịch vụ mà anh ta cung cấp chứ không phải là
tiền hoa hồng.
Người giao nhận đóng vai trò là người chuyên chở không chỉ trong trường hợp
anh ta tự vận chuyển hàng hoá bằng các phương tiện vận tải của chính mình
(Perfoming Carrier) mà còn trong trường hợp anh ta, bằng việc phát hành chứng từ
vận tải của mình hay cách khác, cam kết đảm nhận trách nhiệm của người chuyên
chở (người thầu chuyên chở - Contracting Carrier). Khi người giao nhận cung cấp các
dịch vụ liên quan đến vận tải như đóng gói, lưu kho, bố xếp hay phân phối ..... thì
SVTH: Hoàng Thị Nguyệt Anh
Lớp: 05DQN Trang 8
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Kinh Vĩnh
người giao nhận sẽ chịu trách nhiệm như người chuyên chở nếu người giao nhận thực
hiện các dịch vụ trên bằng phương tiện và người của mình hoặc người giao nhận đã
cam kết một cách rõ ràng hay ngụ ý là họ chịu trách nhiệm như một người chuyên
chở.
Khi đóng vai trò là người chuyên chở thì các điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn
thường không áp dụng mà áp dụng các Công ước quốc tế hoặc các Quy tắc do Phòng
thương mại quốc tế ban hành.
Tuy nhiên, người giao nhận không chịu trách nhiệm về những mất mát, hư
hỏng của hàng hoá phát sinh từ những trường hợp sau đây:
− Do lỗi của khách hàng hoặc của người được khách hàng uỷ thác,
− Khách hàng đóng gói và ghi ký mã hiệu không phù hợp,
− Do nội tỳ hoặc bản chất của hàng hoá,
− Do chiến tranh, đình công ,
− Do các trường hợp bất khả kháng.
Ngoài ra người giao nhận không chịu trách nhiệm về mất khoản lợi đáng lẽ

Trước hết là quan hệ với khách hàng, có thể là người gửi hàng hoặc người
nhận hàng thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau, mang nhiều quốc tịch khác
nhau. Mối quan hệ này được điều chỉnh bằng hợp đồng ủy thác giao nhận.
Quan hệ với Chính phủ và các cơ quan chức năng đại diện cho Chính phủ
như: Bộ Thương mại, Hải quan, Giám định, Cơ quan quản lý ngoại hối, kiểm dịch, y
tế,…
Quan hệ với người chuyên chở và đại lý của người chuyên chở: đó có thể là
chủ tàu, người môi giới, hay bất kỳ người kinh doanh vận tải nào khác, mối quan hệ
này được điều chỉnh bằng hợp đồng cung cấp dịch vụ.
Ngoài ra, người giao nhận còn có mối quan hệ nghiệp vụ với ngân hàng,
người bảo hiểm.
1.2. Giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu tại cảng biển
1.2.1. Cơ sở pháp lý và nguyên tắc
1.2.1.1. Cơ sở pháp lý
Việc giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu phải dựa trên cơ sở pháp lý như: các
quy phạm pháp luật quốc tế (các công ước về vận đơn, vận tải; công ước về hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế… ), các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Việt
nam về giao nhận vận tải; các loại hợp đồng và L/C… thì mới đảm bảo quyền lợi của
chủ hàng xuất nhập khẩu.
SVTH: Hoàng Thị Nguyệt Anh
Lớp: 05DQN Trang 11
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Kinh Vĩnh
 Các quy phạm pháp luật quốc tế có thể kể ra như:
− Công ước Vienne 1980 về buôn bán quốc tế.
− Công ước quốc tế để thống nhất một số quy tắc về vận đơn đường biển,
ký tại Brussels ngày 25/08/1924.
− Nghị định thư sửa đổi Công ước quốc tế để thống nhất một số quy tắc
về vận đơn đường biển (Nghị định thư Visby 1968).
− Công ước Liên hiệp quốc về chuyên chở hàng hóa bằng đường biển,
1978.

− Cảng không chịu trách nhiệm về hàng hóa ở bên trong nếu bao, kiện hoặc dấu
xi, chì vẫn còn nguyên vẹn và không chịu trách nhiệm về những hư hỏng, mất
mát mà người nhận phát hiện ra sau khi đã ký nhận với cảng.
− Việc xếp dỡ hàng hóa trong phạm vi cảng là do cảng tổ chức thực hiện.
Trường hợp chủ hàng hoặc người vận chuyển muốn đưa người và phương tiện
vào cảng xếp dỡ thì phải được cảng đồng ý và phải trả các lệ phí, chi phí liên
quan cho cảng.
− Cảng có trách nhiệm bảo quản hàng hóa lưu tại kho, bãi cảng theo đúng kỹ
thuật và thích hợp với từng vận đơn, từng lô hàng. Nếu phát hiện thấy tổn thất
của hàng hóa đang lưu kho bãi, cảng phải báo ngay cho chủ hàng biết, đồng
thời áp dụng các biện pháp cần thiết để ngăn ngừa, hạn chế tổn thất.
− Việc xếp dỡ, giao nhận, bảo quản hàng hóa tại cảng được thực hiện trên cơ sở
hợp đồng ký kết giữa cảng và chủ hàng hoặc người vận chuyển hoặc người
được ủy thác.
1.2.2. Nhiệm vụ của các bên tham gia quá trình giao nhận hàng hóa xuất
nhập khẩu tại cảng biển
a. Nhiệm vụ của cảng:
− Ký kết hợp đồng xếp dỡ, giao nhận, bảo quản, lưu kho hàng hoá với chủ hàng.
− Giao hàng xuất khẩu cho tàu và nhận hàng nhập khẩu từ tàu, nếu được uỷ
thác.
− Kết toán với tàu về việc giao nhận hàng hoá và lập các chứng từ cần thiết khác
để bảo vệ quyền lợi của các chủ hàng.
− Giao hàng nhập khẩu cho các chủ hàng trong nước theo sự uỷ thác của chủ
hàng nước ngoài (hãng tàu – người vận tải).
− Tiến hành việc xếp dỡ, vận chuyển, bảo quản, lưu kho trong khu vực cảng
− Chịu trách nhiệm về những tổn thất của hàng hoá do mình gây nên trong quá
trình giao nhận vận chuyển xếp dỡ.
− Hàng hoá lưu kho bãi của cảng bị hư hỏng, tổn thất thì cảng phải bồi thường
nếu có biên bản hợp lệ và nếu cảng không chứng minh được là cảng không có
lỗi.

Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Kinh Vĩnh
• Chi tiết hầm tầu (hatch list)
• Vận đơn đường biển trong trường hợp uỷ thác cho cảng nhận
hàng
Các chứng từ này đều phải cung cấp 24h trước khi tàu đến vị trí hoa tiêu.
• Nếu là hàng container lưu tại kho bãi cảng, người nhận hàng còn phải
giao cho cảng Lệnh giao hàng (Delivery Oder – D/O), Bản sao vận
đơn.
− Theo dõi quá trình giao nhận để giải quyết các vấn đề phát sinh
− Lập các chứng từ cần thiết trong quá trình giao nhận để có cơ sở khiếu nại các
bên có liên quan.
− Thanh toán các chi phí cho cảng.
c. Nhiệm vụ của hải quan
• Tiến hành thủ tục hải quan, thực hiện việc kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải
quan đối với tàu biển và hàng hoá xuất nhập khẩu.
• Ðảm bảo thực hiện các quy định của Nhà nước về xuất nhập khẩu, về thuế
xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
• Tiến hành các biện pháp phát hiện, ngăn chặn, điều tra và xử lý hành vi buôn
lậu, gian lận thương mại hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá, ngoại hối, tiền
Việt nam qua cảng biển.
Ngoài ra, quá trình giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu còn nhiều cơ quan
tham gia như: Đại lý tàu biển, chủ hàng nội địa… với những chức năng, nhiệm vụ
khác nhau.
1.2.3. Trình tự giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu tại cảng biển
1.2.3.1. Đối với hàng xuất khẩu
a. Đối với hàng hóa phải lưu kho bãi tại cảng
Ðối với loại hàng này, việc giao hàng gồm hai bước lớn:
 Bước 1: Giao hàng xuất khẩu cho cảng
SVTH: Hoàng Thị Nguyệt Anh
Lớp: 05DQN Trang 15

phó (Mate’s Receipt) để trên cơ sở đó lập vận đơn (Bill of Lading – B/L).
+ Căn cứ vào số lượng hàng đã xếp ghi trong Tally sheet (Bảng kiểm đếm),
cảng và tàu sẽ lập Bảng tổng kết xếp hàng lên tàu (General Loading
SVTH: Hoàng Thị Nguyệt Anh
Lớp: 05DQN Trang 16
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Kinh Vĩnh
Report) và hai bên sẽ ký xác nhận vào bảng này kết thúc việc giao nhận
hàng với tàu.
+ Tính toán thưởng phạt xếp dỡ, nếu có.
b. Đối với hàng hóa không phải lưu kho bãi tại cảng
Ðây là hàng hoá XK do chủ hàng ngoại thương vận chuyển từ các nơi trong
nước để xuất khẩu, có thể để tại các kho riêng của mình chứ không qua các kho của
cảng. Từ kho riêng, các chủ hàng hoặc người được chủ hàng uỷ thác có thể giao trực
tiếp cho tàu.
Các bước giao nhận cũng diễn ra như đối với hàng qua cảng, chỉ khác là
không phải ký hợp đồng thuê kho bãi của cảng (giao tay ba).
c. Đối với hàng hóa đóng trong container
• Gửi hàng nguyên container (FCL)
− Người xuất khẩu liên lạc với hãng tàu, thông báo các thông tin về hàng
hóa, nơi đi, nơi đến… Hãng tàu sẽ fax cho chủ hàng bảng lịch tàu để chủ
hàng chon chuyến tàu. Sau khi đã thống nhất hàng sẽ đi chuyến tàu nào thì
hãng tàu sẽ fax cho chủ hàng Booking Note (Bản đăng ký lưu khoang, lưu
cước), chủ hàng điền vào và đưa lại cho đại diện hãng tàu hoặc Đại lý tàu.
− Sau đó hãng tàu sẽ cấp lệnh giao vỏ container rỗng để chủ hàng mượn và
cấp cho chủ hàng seal (kẹp chì). Chủ hàng hoặc người vận tải thay mặt chủ
hàng nhận container phải ký vào phiếu EIR – một dạng của bien bản giao
container – để quy trách nhiệm khi làm hư hỏng hoặc mất mát container.
− Chủ hàng lấy container rỗng về địa điềm đóng hàng của mình.
− Mời đại diện hải quan, kiểm nghiệm, kiểm dịch, giám định (nếu có) đến
kiểm tra và giám sát việc đóng hàng vào container. Sau khi đóng xong,

 Cảng nhận hàng từ tàu:
− Dỡ hàng và nhận hàng từ tầu (do cảng làm)
− Lập các giấy tờ cần thiết trong quá trình giao nhận (nhân viên giao
nhận phải cùng cảng lập)
− Ðưa hàng về kho bãi cảng
 Cảng giao hàng cho các chủ hàng
− Khi nhận được thông báo hàng đến, chủ hàng phải mang vận đơn gốc,
giấy giới thiệu của cơ quan đến hãng tàu để nhận lệnh giao hàng (D/O
SVTH: Hoàng Thị Nguyệt Anh
Lớp: 05DQN Trang 18
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Kinh Vĩnh
– Delivery Order). Hãng tàu hoặc đại lý giữ lại vận đơn gốc và trao 3
bản D/O cho người nhận hàng.
− Chủ hàng đóng phí lưu kho, phí xếp dỡ và lấy biên lai.
− Chủ hàng mang biên lai nộp phí, 3 bản D/O cùng hoá đơn (Invoice) và
phiếu đóng gói (Packing List) đến văn phòng quản lý tàu tại cảng để ký
xác nhận D/O và tìm vị trí hàng, tại đây lưu 1 bản D/O.
− Chủ hàng mang 2 bản D/O còn lại đến phòng thương vụ cảng để làm
phiếu xuất kho. Bộ phận này giữ 1 D/O và làm 2 phiếu xuất kho cho
chủ hàng.
− Chủ hàng tiến hành làm thủ tục hải quan (nộp 1 D/O).
− Sau khi Hải quan xác nhận “Hoàn thành thủ tục hải quan”, chủ hàng có
thể đem hàng ra khỏi cảng và chở hàng về kho riêng.
b. Đối với hàng hóa không phải lưu kho bãi tại cảng
Trong trường hợp này, chủ hàng hoặc người được chủ hàng uỷ thác đứng ra
giao nhận trực tiếp với tàu.
− Ðể có thể tiến hành dỡ hàng, 24 giờ trước khi tàu đến vị trí hoa tiêu, chủ hàng
phải trao cho cảng một số chứng từ:
+ Bản lược khai hàng hoá (2 bản)
+ Sơ đồ xếp hàng (2 bản)

nhận hàng cùng D/O đến Văn phòng quản lý tàu tại cảng để xác nhận D/O.
− Lấy phiếu xuất kho và nhận hàng.
• Gửi hàng lẻ (LCL)
Chủ hàng mang vận đơn gốc hoặc vận đơn gom hàng (House B/L) đến
hãng tàu hoặc đại lý của người gom hàng để lấy D/O, sau đó nhận hàng tại
CFS quy định và làm các thủ tục như trên.
SVTH: Hoàng Thị Nguyệt Anh
Lớp: 05DQN Trang 20
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Kinh Vĩnh
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIAO NHẬN HÀNG HÓA XUẤT NHẬP BẰNG
ĐƯỜNG BIỂN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẠI LÝ VẬN TẢI SAFI
2.1. Giới thiệu về Công ty cổ phần đại lý vận tải SAFI
2.1.1. Các thông tin cơ bản về công ty
Tên pháp định: Công ty cổ phần Đại lý Vận tải SAFI
Tên quốc tế: Sea & Air Freight International
Tên viết tắt: SAFI
Logo:
Trụ sở: Số 39 Đoàn Như Hài, Phường 12, Quận 4, Tp.HCM
Điện thoại: (08) 38253560
SVTH: Hoàng Thị Nguyệt Anh
Lớp: 05DQN Trang 21
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Kinh Vĩnh
Fax: (08) 38253610
Website: www.safi.com.vn
Giấy CNĐKKD: Số 063595 đănh ký lần đầu ngày 31/08/1998 do sở kế hoạch và
đầu tư thành phố Hồ Chí Minh cấp, đăng ký thay đổi lần 1 ngày
26/05/2006
Vốn điều lệ: 11.385.008.045
Mã số thuế: 03011471330 – 1
Tài khoản tiền: số 007100001597.3 tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

Việt Nam với các chức năng chính là môi giới và đại lý tàu biển, đại lý vận tải
đường không và đường biển, dịch vụ khai quan và giao nhận vận tải hàng hóa xuất
nhập khẩu, có trụ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Năm 1995, Công ty thành lập chi nhánh Hà Nội để phục vụ khách hàng ở
phía Bắc và mở rộng thêm mạng lưới hoạt động của công ty tại khu vực phía Bắc.
Năm 1996, SAFI đã thành lập phòng Logistics để đáp ứng yêu cầu của
khách hàng để chuyên tập trung cho công việc khai quan và giao nhận hàng hoá
xuất nhập khẩu.
Năm 1998, công ty quyết định thành lập chi nhánh Hải Phòng thực hiện các
dịch vụ Đại lý vận tải đường biển, dịch vụ container chung chủ, Đại lý tàu và dịch
vụ khai quan giao nhận cho các nhà máy và khách hàng trong địa bàn Hải Phòng
và lân cận.
SVTH: Hoàng Thị Nguyệt Anh
Lớp: 05DQN Trang 23
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Kinh Vĩnh
Tháng 5 năm 1998, Công ty được cổ phần hoá theo Quyết định
1247/1998/QĐ- BGTVT của Bộ giao thông vận tải và đổi tên thành Công ty cổ
phần Đại lý vận tải SAFI với số vốn điều lệ ban đầu là 5.692.504.027 đồng.
Sau hơn một năm cổ phần hoá, SAFI đó đạt được những thành tích đáng
khích lệ với sự đóng góp tích cực của chi nhánh Hà Nội và các phòng nghiệp vụ
của SAFI Sài Gòn và chi nhánh mới thành lập ở Vũng Tàu. Bên cạnh đó, liên
doanh COSFI với đối tác là hãng tàu COSCO của Trung Quốc được thành lập vào
tháng 11 năm 1998 cũng đã đạt được kết quả kinh doanh với tỷ lệ lãi cao.
Tháng 7 năm 2000, SAFI mở thêm chi nhánh ở Đà Nẵng để cung cấp dịch
vụ cho khu vực Miền Trung.
Tháng 3 năm 2001, Xí nghiệp Hải Phong được thành lập với chức năng
chính là làm đại lý Container và đại lý vận tải giao nhận.
Tháng 10 năm 2004, Liên doanh Yusen - Việt Nam được thành lập có trụ sở
chính tại thành phố Hồ Chí Minh và chi nhánh ở Hà Nội. Trong năm này, kho bãi
có diện tích 2.500m2 tại Quận 7 Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã được đưa vào

 Trụ sở chính
Địa chỉ: 39 Đoàn Như Hài, Q.4, Tp. HCM, Việt Nam
Điện thoại: (08) 38253560 Fax: (08-8) 38253610
Telex: 3813157 SAFI VT Email:
 Các chi nhánh:
− Chi nhánh Hà Nội:
Địa chỉ: Trung tâm thương mại Văn Hồ, số 51 Lê Đại Hành,
Q. Hai Bà Trưng, Hà Nội, Việt Nam
Điện thoại: (84-8) 9745570 Fax: (84-8) 9745580 – 9745581
Email:
− Chi nhánh Hải Phòng:
SVTH: Hoàng Thị Nguyệt Anh
Lớp: 05DQN Trang 25

Trích đoạn Tình hình quốc tế Mục tiêu và phương hướng hoạt động của công ty Các biện pháp nâng cao hoạt động giao nhận tại công ty SAFI 1 Cân đối cơ cấu trong giao nhận Tăng cường công tác marketing, mở rộng thị trường
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status