§iÒu kiÖn h×nh thµnh vµ nh÷ng thµnh tùu chñ yÕu vÒ v¨n häc nghÖ thuËt cña v¨n minh Ên §é
1
L¹ng Giang, th¸ng 5 n¨m 2007
Điều kiện hình thành và những thành tựu chủ yếu về văn học nghệ thuật của văn minh ấn Độ
Mục lục.
A. mở đầu.
1. Lý do chọn đề tài.
2. Phơng pháp nghiên cứu.
3. Giới hạn đề tài.
4. Cấu tạo của đề tài.
B. Nội dung.
Chơng I. Điều kiện hình thành văn minh ấn Độ cổ- trung đại.
1. Sơ lợc lịch sử ấn Độ cổ- trung đại.
a. Thời kì văn minh lu vực sông ấn ( từ đầu thiên kỉ III đến giữa thiên kỉ II
TCN)
b. Thời kì Vêđa ( từ giữa thiên kỉ II đến giữa thiên kỉ I TCN).
c. Từ thế kỉ VI TCN đến thế kỉ XIX.
2. Điều kiện hình thành nền văn minh ấn Độ cổ- trung đại.
a. vị trí địa lý, c dân.
b. Sự phát triển kinh tế.
c. Sự ra đời của thành thị.
Chơng II. Thành tựu văn học nghệ thuật của văn minh ấn Độ
cổ- trung đại.
1. Sơ lợc những thành tựu văn minh ấn Độ cổ- trung đại.
1.1. Chữ viết.
1.2. Văn học.
1.3. Nghệ thuật.
1.4. Khoa học.
1.5. Tôn giáo.
2. Thành tựu văn học nghệ thuật của văn minh ấn Độ cổ- trung đại.
2.1. Thành tựu văn học.
THPT có hai tiết nói đến sự phát triển của ấn độ và những thành tựu rực rỡ
của văn minh ấn độ. Để tìm hiểu thêm về điều kiện ra đời và thành tựu văn
minh ấn độ đặc biệt là phần văn học nghệ thuật phục vụ cho việc giảng
dạy tiết 9 và 10 trong chơng trình sách giáo khoa đợc tốt hơn mà tôi đã
chọn đề tài cho sáng kiến kinh nghiệm của tôi là điều kiện hình thành
và những thành tựu chủ yếu về văn học nghệ thuật của văn minh ấn độ
cổ- trung đại để góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu về văn minh của
một quốc gia có nhiều ảnh hởng đến Việt Nam.
3
Điều kiện hình thành và những thành tựu chủ yếu về văn học nghệ thuật của văn minh ấn Độ
2. Phơng pháp nghiên cứu.
Đây là một vấn đề mang tính lịch sử nên tôi chọn phơng pháp nghiên
cứu là phơng pháp lịch sử và phơng pháp lôgic.
Phơng pháp lịch sử là phơng pháp dựa vào những sự kiện lịch sử, t liệu lịch
sử để trình bày tiến trình lịch sử một cách đầy đủ theo thứ tự thời gian ra
đời, phát triển
Phơng pháp lôgic là phơng pháp nghiên cứu lịch sử trong hình thức
tổng quát với những mối liên hệ bản chất của nó.
Trong quá trình nghiên cứu, thu thập các nguồn t liệu của các tác giả
tôi còn dùng phơng pháp so sánh, tổng hợp rút ra những điểm mấu chốt có
tính khái quát. Thực hiện phơng pháp này tôi mới rút ra đợc những sự kiện
một cách chính xác căn bản nhất.
3. Giới hạn của đề tài.
Để có sự liên kết lôgic giữa các vấn đề, sự kiện trớc hết tôi sẽ trình
bày khái quát lịch sử ấn Độ cổ- trung đại nhằm tạo thuận lợi cho việc theo
dõi nghiên cứu của ngời đọc.
Sau đó làm rõ những nét lớn về điều kiện hình thành và những thành
tựu chủ yếu về lĩnh vực văn học nghệ thuật của văn minh ấn độ cổ- trung
đại.
Bằng những dẫn chứng, t liệu cụ thể để nói rõ những điều kiện và
Từ khoảng đầu thiên kỉ III TCN, nhà nớc ấn Độ đã ra đời, nhng cả
giai đoạn từ đó cho đến khoảng giữa thiên kỉ II TCN, trớc đây cha đợc biết
đến. Mãi đến năm 1921, nhờ việc phát hiện ra hai thành phố Harapa và
Môhenjôđarô cũng rất nhiều hiện vật bị chôn vùi dới đất ở vùng lu vực sông
ấn, ngời ta mới biết đợc thời kì lịch sử này.
b. Thời kì Vêđa ( từ giữa thiên kỉ II đến giữa thiên kỉ I TCN).
Thời kì này lịch sử ấn độ đợc phản ánh trong bộ kinh Vêđa nên gọi
là thời Vêđa. Vêđa vốn là những tác phẩm văn học, gồm có 4 tập là : Rích
Vêđa, XamaVêđa, atacva Vêđa và Yagiva Vêđa, trong đó Rich Vêđa đợc
sáng tác vào khoảng giữa thiên kỉ II TCN, còn 3 tập Vêđa khác thì đợc sáng
tác vào khoảng đầu thiên kỉ I TCN.
Chủ nhân của thời kì Vêđa là ngời Arya (nghĩa là ngời cao quí)
mới di c từ Trung á vào ấn độ. Địa bàn sinh sống của họ trong thời kì này
chủ yếu là vùng lu vực sông Hằng. Trong giai đoạn đầu của thời kì Vêđa,
ngời Arya đang sống trong giai đoạn tan rã của xã hội nguyên thuỷ đến
khoảng cuối thiên kỉ II TCN, họ mới tiến vào xã hội có nhà nớc. Chính
trong thời kì này, ở ấn độ đã xuất hiện hai vấn đề có ảnh hởng rất quan
trọng và lâu dài trong xã hội nớc này, đó là chế độ đẳng cấp (vacna) và đạo
Bàlamôn.
c. Từ thế kỉ VI TCN đến thế kỉ XIX.
- Các quốc gia ở miền Bắc ấ n đ ộ và sự xâm l ợc của Alechxangđrơ
Makêđônia.
Bắt đầu từ thế kỉ VI TCN, ấn độ mới có sử sách ghi chép về tình
hình chính trị của đất nớc mình. Lúc bấy giờ ở miền Bắc ấn độ có 16 nớc,
trong đó mạnh nhất là nớc Magađa hạ lu sông Hằng. Trong số các nớc nh ở
Tây Bắc ấn độ, chỉ có nớc Po là tơng đối lớn. Năm 327 TCN, sau khi tiêu
diệt quân Ba T, quân đội Makêđônia do Alechxangđrơ chỉ huy đã tấn công
ấn độ. Quân đội của nớc họ chiến đấu rất dũng cảm nhng cuối cùng bị thất
bại.
6
lần bị ngoại tộc xâm nhập. Đặc biệt từ đầu thế kỉ XI, ấn độ thờng bị các v-
ơng triều Hồi giáo ởÂpganixtan tấn công và đến năm 1200, toàn bộ miền
Bắc ấn độ bị nhập vào Apganixtan.
-Thời kì Xuntan Đêli (1206-1526)
7
Điều kiện hình thành và những thành tựu chủ yếu về văn học nghệ thuật của văn minh ấn Độ
Năm 1206, viên Tổng đốc của Apganixtan ở miền Bắc ấn độ đã tách miền
Bắc ấn độ thành một nớc riêng tự mình làm Xuntan (vua), đóng đô ở Đêli,
gọi là nớc Xuntan Đêli (vơng quốc Hồi giáo Đêli). Từ đó đến năm 1526, ở
miền Bắc ấn độ đã thay đổi đến 5 vơng triều, nhng đều do ngời ngoại tộc
theo Hồi giáo thành lập, đồng thời đều đóng đô ở Đêli, nên thời kì này gọi
là thời kì Xuntan Đêli.
- Thời kì Môgôn ( 1526-1857).
Nớc Mông cổ do Thành Cát T Hãn thành lập năm 1206. Sau khi Thành Cát
T Hãn chết (1227), đế quốc Mông cổ chia thành nhiều nớc. Dòng dõi của
ngời Mông Cổ ở Trung á đều Tuốc hoá và đều theo đạo Hồi. Từ thế kỉ XIII,
ngời Mông Cổ ở Trung á nhiều lần tấn công ấn độ. Năm 1526, họ chiếm
đợc Đêli, thành lập vơng triều mới gọi là vơng triều Môgôn (Mông Cổ). Từ
giữa thế kỉ XVIII, thực dân Anh bắt đầu chinh phục ấn độ, đến năm 1849,
ấn độ hoàn toàn biến thành thuộc địa của Anh, vơng triều Môgôn đến năm
1857 bị diệt vong.
2. Điều kiện hình thành nền văn minh ấ n Độ cổ- trung đại.
a. Vị trí địa lý, c dân.
ấn độ là một bán đảo hình tam giác, nằm ở phía Nam Châu á có dãy
núi cao nhất thế giới- Hymalaya ngăn cách châu lục này cho nên ấn Độ
còn đợc gọi là một tiểu lục đia.. Do vậy, ấn Độ chỉ có thể liên hệ với thế
giới bên ngoài bằng đờng bộ về phía Tây, qua đèo BoLan (phía nam
Philippin ngày nay) vợt núi TobaKakar, hoặc về phía Tây- tây bắc, từ Taxila
qua Kabul (nay là thủ đô Afghanistan) vợt đãy núi Hinducuc hiểm trở để
đến Iran và Trung á. Ngoài ra, ấn Độ còn có hai mặt giáp biển, nằm giữa đ-
giáo và đẳng cấp. Đây chính là nguồn gốc tạo nên sự đa dạng về tôn giáo và
sắc tộc ở ấn độ.
Tuy vậy, sự đa dạng phức tạp của ấn Độ từ xa xa vẫn đợc xem nh
một thể thống nhất tạo nên nền văn minh ấn độ.
b. Sự phát triển về kinh tế :
- Nông nghiệp:
Chủ yếu dựa vào nền kinh tế tự cấp tự túc. Trong các làng xã ngời
nông dân thờng ở trong những nếp nhà rơm rạ cổ truyền. Đã bao đời ngời
nông dân vất vả với ba vụ gặt chính cùng ba loại cây ngũ cốc riêng.
Trong các thế kỉ IV-VII , trớc thời kì Gupta ấn Độ đã có những bớc
phát triển nhất định về nông nghiệp. Ngời ta đã biết xác định và phân loại
các thứ đất trồng trọt, sử dụng các biện pháp gieo hạt và dùng phân
1
-Lịch sử thế giới cổ đại-trang 101- Lơng Ninh chủ biên. NXB Giáo dục-
1998
bón, đồng thời biết trồng thêm các loại cây mới. Diện tích khai thác cũng đ-
ợc mở rộng nhờ khai phá rừng rậm và đất hoang. Nhiều công trình thuỷ lợi
lớn nhỏ đợc xây dựng để phục vụ cho nhu cầu tới nớc trong nông nghiệp.
9
Điều kiện hình thành và những thành tựu chủ yếu về văn học nghệ thuật của văn minh ấn Độ
Sang thời Gupta (thế kỉ IV- VI) và thời Hacssa (thế kỉ VII), các công
trình thuỷ lợi tiếp tục đợc xây dựng và mở rộng. Ngời ta đào thêm nhiều
kênh dẫn nớc nối liền đồng ruộng với các sông nhỏ và xây nhiều đập ngăn
nớc qua những dòng sông. ở những nơi ruộng cao, ngời ta sử dụng những
xe nớc do bò kéo. Loại xe này giảm đợc nhiều sức lao động của con ngời
lại có thể đa nớc từ hồ và sông lên cao tới 2m. Nhiều loại cây công
nghiệp và cây lơng thực đợc trồng nh: lúa, lúa mì, lúa mạch, kê, đậu, vừng,
lạc, bông, đay, lanh, chàm Ngoài ra ngời ta còn trồng nhiều loại cây rau
quả và cả các loại cây gia vị nữa. ởnhiều nơi ngời ta còn trồng dừa, là loại
cây đợc coi là rất quí. Bên cạnh trồng trọt ngời ta còn nuôi rất nhiều loài gia
một trong những mặt hàng xuất khẩu quan trọng nhất của ấn Độ mà phơng
Tây rất a thích.
Nghề khai mỏ cũng phát triển. Ngời ta khai thác sắt, đồng, vàng,
muối và các loại đá quí. Nhờ khai thác đợc nhiều kim loại mà các nghề
luyện kim, rèn và làm đồ trang sức thời kì này đạt đến độ hoàn thiện. Vào
thế kỉ V, những ngời thợ luyện kim ấn Độ đã đúc một cột sắt cao 7,25m,
nặng 6500 kg ở Đêli, mà điều đáng kinh ngạc là cho đến nay trải qua hàng
ngàn năm cột sắt đó vẫn hầu nh không han rỉ. Cũng ở thế kỉ naỳ ngời ta đã
đúc đợc một bức tợng Phật bằng đồng cao 2 m.
Nghề làm đồ trang sức cũng rất nổi tiếng chỉ đứng sau nghề dệt. Ng-
ời dân ấn Độ giàu hay nghèo đều rất thích đeo đồ trang sức và để cất giữ.
Đồ trang sức thờng bằng bạc, vàng, đá quíNghề đóng thuyền cũng đạt đ-
ợc những thành tựu đáng kể. Ngời ta đã đóng đợc những con thuyền lớn chở
hàng trăm ngời, có buồm và nhiều chèo, thích hợp cho những cuộc du hành
xa xôi trên biển. Nghệ thuật xây dựng cũng đạt mức cao phổ biến là xây
nhà bằng đá và xây dựng đền chùa trong các hang động.
Thợ thủ công lành nghề đợc tập hợp lại thành những đẳng cấp riêng
biệt: đẳng cấp thợ dệt, thợ vàng, thợ giày
- Thơng nghiệp:
Sông Hằng cùng với các nhánh của nó trở thành mạch máu giao
thông chính của vùng Bắc ấn. Nhiều con đờng buôn bán nối liền các vùng
khác nhau trên bán đảo cũng đợc hình thành, trên đó thờng có nhiều đoàn
súc vật chở hàng hoá đi lại. Hàng hóa dùng để trao đổi thờng là kim
1
-Đại cơng lịch sử thế giới trung đại-trang 206- Nguyễn Gia Phu, Nguyễn
Văn ánh.NXB Giáo dục-1997.
11
Điều kiện hình thành và những thành tựu chủ yếu về văn học nghệ thuật của văn minh ấn Độ
loại, muối, gạo. Ngoài ra còn có các loại hàng đợc coi là xa xỉ nh vải quí và
ngựa chiến. Thời Gupta các thơng nhân Hy lạp, La Mã thờng đổ xô vào thị
xảy ra các cuộc chiến tranh do vậy nhiều thành phố đã bị sụp đổ nhng sinh
hoạt thành thị vẫn đợc duy trì ở những địa điểm đã biến thành thủ đô của
12
Điều kiện hình thành và những thành tựu chủ yếu về văn học nghệ thuật của văn minh ấn Độ
các tiểu quốc phong kiến và ở miền duyên hải. ở các thành thị vẫn luôn
diễn ra các hoạt động thủ công và thơng nghiệp.
Tuy thành thị là trung tâm của các hoạt động công thơng nghiệp ,
song thành thị vẫn không tách rời hẳn với nông thôn. Các thợ thủ công
thành thị, ngoài nghề riêng vẫn có đất đai để cày cấy. Tính chất nông
nghiệp của thành thị đó vẫn đợc duy trì suốt thời kì phong kiến.
Sang thời kì Xuntan Đêli xuất hiện nhiều thành phố lớn. Đó chủ yếu
là nơi trú ngụ của Tuntan và các quan cai trị địa phơng, nên có nhu cầu lớn
về tiêu thụ các sản phẩm thủ công nghiệp và nông nghiệp. Do vậy, thành
phố là nơi có thủ công nghiệp phát triển. Khác với nông thôn, thủ công
nghiệp ở thành phố có sự phân công giữa các ngành nghề khá tỉ mỉ. Phẩm
chất của sản phẩm thủ công ở thành phố cũng tốt hơn.
Ngoài ra, còn có những thành thị tồn tại gắn liền với ngoại thơng. Đó
là những hải cảng ở vịnh Bângan, biển Arập, và một số địa điểm trên các
đèo ở dọc các đờng thơng mại lớn.
Các thợ thủ công sống ở thành thị tổ chức thành phờng hội. Các nhà
buôn chuyên chở và trao đổi hàng hoá từ hạ lu sông Hằng đến cửa sông
Indus rồi theo đờng biển đến vịnh BaT và Hồng Hải, hoặc ngợc sông Hằng
đến Punjab, qua Taxila, theo đờng bộ đến Iran và Tiểu á. Trong việc buôn
bán, ngời ấn Độ đã đúc tiền bạc và đồng.
Nh vậy, sự ra đời của thành thị thờng gắn liền với sự phát triển của
thủ công thơng nghiệp. Từ đó nền kinh tế hàng hoá hình thành phục vụ cho
nhu cầu của ngời dân thành thị, quan hệ giữa con ngời trong thành thị cũng
khác hẳn với quan hệ giữa con ngời ở nông thôn. Nhu cầu của con ngời
trong thành thị lớn đòi hỏi những ngời thợ thủ công phải sáng tạo, phải suy
nghĩ để đáp ứng những yêu cầu đó và từ đó làm nảy sinh kỉ thuật mới, các
1.3. Nghệ thuật.
Nghệ thuật ấn Độ rất phong phú và đa dạng. Các khía cạnh của nghệ
thuật ấn Độ nh: mỹ thuật, âm nhạc, sân khấu, lễ hội đã góp phần làm rực
rỡ nền văn minh ấn Độ.
1.4. Khoa học và kĩ thuật.
Mặc dầu áp lực của tôn giáo rất manh nhng do nhu cầu của cuộc
sống hàng ngày, nhân dân ấn Độ đã có nhiều phát minh quan trọng về một
số môn khoa học tự nhiên nh thiên văn, toán học, vật lý, y dợc học
1.5. Tôn giáo.
ấn độ là nơi sản sinh ra rất nhiều tôn giáo, trong đó quan trọng nhất
là đạo Bàlamôn về sau là đạo Hinđu và đạo Phật. Ngoài ra còn một số tôn
giáo khác nh đạo Jain, đạo Xích.
2. Thành tựu văn học nghệ thuật của văn minh ấn Độ cổ- trung đại.
14
Điều kiện hình thành và những thành tựu chủ yếu về văn học nghệ thuật của văn minh ấn Độ
Nền văn minh trên bán đảo ấn Độ phát triển một cách đều đặn lạ th-
ờng từ thời Môhengiô- Đarô cho đến tận ngày nay đặc biệt là ở thời kì cổ-
trung đại. Tiêu biểu cho những thành tựu đó là lĩnh vực văn học- nghệ thuật
đã để lại cho nhân loại một kho tàng tri thức có giá trị nhân văn và nghệ
thuật cao.
2.1. Thành tựu văn học.
Văn học ấn Độ đặc bịêt là văn học dân gian rất phát triển và có
những thành tựu đứng vào hàng nhất nhì trên thế giới ít có dân tộc nào sánh
kịp. Ngời ấn Độ đã sáng tác ra những tác phẩm làm kinh ngạc hậu thế tiêu
biểu là Vêđa và hai bộ sử thi Mahabharata và Ramayana.
2.1.1. Vêđa.
Vêđa vốn nghĩa là hiểu biết. Vêđa có 4 tập là Rích Vêđa, Xama
Vêđa, Yagiua Vêđa và Atácva Vêđa.
Ba tập Vêđa trên gồm những bài ca và những bài cầu nguyện phản
ánh tình hình ngời Arya tràn vào ấn Độ, tình hình tan rã của chế độ thị tộc,
học, vừa có giá trị về sử liệu (phản ánh tình hình xã hội ở miền bắc ấn Độ
vào những thế kỉ đầu của thiên niên kỉ I TCN), đó là hai bộ sử thi
Mahabharata và Ramayana.
- Mahabharata: là một trờng ca dài có 18 chơng và một chơng bổ
sung tài liệu, gồm 222.000 câu là 107.000 khổ thơ. Đây là bộ sử thi dài nhất
thế giới, so với cả hai bộ Iliat và Ôđixê của HyLạp cổ đại gộp lại còn dài
hơn 8 lần
1
. Tơng truyền rằng ngời biên soạn bộ sử thi này là Viasa (từ này
có nghĩa là ngời su tập) thực tế nó đợctập hợp và chỉnh lí bởi hàng trăm thi
sĩ dân gian từ những năm đầu của thiên niên kỉ I TCN đến thời Gupta, thế kỉ
IV TCN.
Chủ đề của tác phẩm là cuộc đấu tranh trong nội bộ một dòng họ đế
vơng ở miền Bắc ấn Độ. Bởi vậy, tập thơ lấy tên là Mahabharata nghĩa là
Cuộc chién tranh giữa con cháu Bharata.
Truyện kể về nàng (nữ thần) Sơkuntơla xinh đẹp, sinh hạ đợc một ng-
ời con trai dũng mãnh, tên là Bharat. Bharat chính là vua thuỷ tổ của ngời
ấn Độ.Đây là câu chuyện diễn ra trong nội bộ vơng tộc Bharat. Bharat là vị
vua đầu tiên của bộ lạc Bharat, một trong những bộ lạc của ngời Arya
xâm nhập đầu tiên vào ấn độ. Bộ lạc này có hai anh em là Yudhishthira và
Panđava. Vì ngời anh bị mù nên Panđava đợc làm vua. Yudhishthira có 100
con trai, gọi chung là anh em Kuru, còn Panđava có 5 con trai, gọi chung là
anh em Panđu. Sau khi Panđava chết, anh em Kuru và
1
-Lịch sử văn minh thế giới-trang 75- Vũ Dơng Ninh chủ biên. NXB Giáo
dục- 2006.
16
Điều kiện hình thành và những thành tựu chủ yếu về văn học nghệ thuật của văn minh ấn Độ
anh em Panđava chia đôi vơng quốc. Nhng vì muốn chiếm toàn bộ đất đai,
Mahabharata), có 7 chơng trong đó chơng I và chơng VII về sau mới thêm
vào có cốt truyện đợc kết cấu chặt chẽ hơn Mahabharata. Tơng truyền tác
giả là Vanmiki, nhng có lẽ ông chỉ là ngời chỉnh lí, hoàn thiện một công
17
Điều kiện hình thành và những thành tựu chủ yếu về văn học nghệ thuật của văn minh ấn Độ
trình tập thể của hàng trăm nghệ sĩ dân gian, sáng tác trong thời gian dài
hàng thế kỉ. Ramayana phản ánh giai đoạn muộn hơn Mahabharata, khi ng-
ời Arya đã mở rộng địa bàn c trú về phía đông, đến trung và hạ lu sông
Hằng, đã tiến về phơng Nam và vợt biển sang đảo Lan ka.
Chủ đề của tác phẩm này là câu chuyện tình duyên giữa hoàng tử
Rama và ngời vợ chung thuỷ Sita.
Trong thời Vêda, vơng quốc Côxala đợc sống trong cảnh thanh bình
dới sự trị vì của vua Đaxarađa. Ngời con trởng của vua là Rama, một thanh
niên thông minh dũng cảm và có đạo đức đợc vua chọn làm thái tử nối
ngôi.
Gần đó, có một vơng quốc khác là Viđêha, dân chúng cũng đợc an c
lạc nghiệp dới quyền thống trị của vua Giănăc. Bản thân vua cũng cầm cày
cày ruộng. Một hôm nhà vua đang cày, bỗng thấy từ trong luống cày hiện
lên một thiéu nữ xinh đẹp. Nhà vua đem về nuôi, đặt tên là Sita và coi nh
con. Khi Sita đến tuổi lấy chồng, nhà vua tổ chức một cuộc thi bắn cung để
kén phò mã. Nhiều thanh niên tham dự cuộc thi, nhng chỉ có Rama giơng
nổi cây cung của nhà vua. Rama đợckết hôn với công chúa Sita.
Nhng một ái phi của vua Đaxarata vì ghen với hoàng hậu có con trai
là Rama đợc làm thái tử nối ngôi nên yêu cầu vua đày ra khỏi đất nớc 14
năm.
Rama cùng Sita đến sống ở trong rừng. Một công chúa goá chồng
một hôm dạo chơi trong rừng gặp Rama rồi đem lòng yêu chàng. Bị từ chối
quyết liệt, nàng công chúa ấy tức giận nên bảo em trai mình là Ravan, vua
nớc quỉ ở đảo Lanka bắt cóc Sita.
Nhờ sự giúp đỡ của vua nớc Vợn là Xugriva, Rama tổ chức đợc một
các nhà văn lớn của thế giới.
Vở kịch Sơcuntơla vốn phỏng theo một câu chuyện dân gian chép
trong sử thi Mahabharata, nhng đã đợc tác giả cải biên và thêm nhiều tình
tiết. Nội dung của vở kịch miêu tả câu chuyện tình duyên giữa nàng
Sơcuntla và vua Đusơnta, trải qua nhiều éo le trắc trở, cuối cùng hai ngời đ-
ợc đoàn tụ và đợc hạnh phúc đời đời.
Tuy là một nhà soạn kịch cung đình, lại chịu ảnh hởng của đạo
Bàlamôn, nhng Caliđaxa đã thể hiện trong tác phẩm của mình t tởng tự do,
chống lại lễ giáo khắt khe, lên án bản chất giả rối lừa gạt, không chung
thuỷ của giai cấp thống trịvà trên chừng mực nhất định đã chống quan niệm
về đẳng cấp.
2.1.4. Các tác phẩm văn học viết bằng các phơng ngữ.
19
Điều kiện hình thành và những thành tựu chủ yếu về văn học nghệ thuật của văn minh ấn Độ
Trong các thế kỉ XII- XV, văn học ấn Độ phát triển khá mạnh. Thời
kì này xuất hiện nhiều tác giả với các tác phẩm văn học viết bằng các tiếng
địa phơng khác nhau.
Vào thế kỉ thứ XIII, nhà thơ Tichcala đã dịch 15 chơng trong bộ sử
thi Mahabharata ra tiếng Têlugu, làm cho nền văn học cổ điển càng đợc phổ
cập rộng rãi.
Đến thế kỉ XVI, XVII, dới triều Môgôn, có một số nhà thơ đã sáng
tác bằng tiếng BăT. Tuy nhiên, phong phú nhất vẫn là nền văn học bằng
tiếng Inđi và các loại ngôn ngữ địa phơng khác. Thiên trờng ca Ramayana
do Tunxi Đat viết bằng tiếng Inđi là một tác phẩm nổi tiếng đợc nhân dân
rất a thích.
Tập thơ Xuốc của nhà thơ mù Xuôc Đat viết bằng một loại phơng
ngữ khác trong tiếng Inđi mà chủ đề chính là chủ nghĩa anh hùng và tình
yêu cũng là một tác phẩm có giá trị.
Đặc trng chung của nền thi ca giai đoạn này là dùng ngôn ngữ dân
gian chứ không dùng ngôn ngữ cung đình, đồng thời còn sử dụng nhiều
các trụ đá đó. Trong số các hình trụ đá còn lại, nổi tiếng nhất là trụ đá ở
Xácan. Trên đỉnh trụ đá này có chạm 4 hình con s tử chụm đuôi vào nhau,
mặt nhìn ra 4 hớng trong t thế tự vệ. Dới s tử, có hình bánh xe luân hồi.
Hình tợng này nay đợc vẽ thành quốc huy của nớc ấn Độ.
Trong số các chùa đền của các tôn giáo nh Bàlamôn, đạo Phật, đạo
Jain, chùa hay là một loại công trình đặc biệt của ấn Độ thời cổ- trung đại,
thờng là những công trình nghệ thuật kết hợp kiến trúc với điêu khắc, hội
hoạ. Tiêu biểu cho loại công trình này là chùa hang Ajanta đợc kiến tạo từ
thế kỉ II TCN đến thế kỉ VIII sau CN. Trong ngót một nghìn năm, các nhà
kiến trúc cùng những ngời thợ xây dựng và điêu khắc của nhiều thế hệ, đã
tạo ra công trình kì vĩ này.
Dãy chùa hang Ajanta gồm tất cả 29 gian dùng để làm nơi thờ Phật,
nơi giảng kinh và nơi ở của các nhà s. Ngời ta đã lợi dụng hang đá, vách đá,
rồi công phu đục đẽo hàng cột phía ngoài cao từ trên đến mái, tạo nên tiền
sảnh trớc vòm hang.
Chính giữa là một khoảng trống, rộng trong lòng hang, dùng làm
Caityagrihaa (hay phòng chung), tức lễ đờng và gần đáy lễ đờng (nhng
không giáp vách hang) là bàn thờ để làm lễ, mà theo tập quán ấn độ, ngời
ta có thể đi vòng quanh, ngợc nhiều kim đồng hồ. Xung quanh lễ đờng là
một chuỗi ô nhỏ, là các trai phòng (vihara), nơi nghỉ của các s tăng. Hang
Ajanta số 1 có 16 trai phòng, hang Nasik số 3 có 20 trai phòng,
21
Điều kiện hình thành và những thành tựu chủ yếu về văn học nghệ thuật của văn minh ấn Độ
Trên các chân cột, đầu tiền sảnh và bàn thờ, có phù điêu tạc hình
Phật. Trên các vách hang Ajanta, ngời ta đã dùng phẩm màu vẽ và chạm
khắc nhiều hình nói về sự tích Đức Phật.
Ngoài chùa hang Ajanta, dãy chùa hang Enlôra ở Trung ấn kiến tạo
vào thế kỉ VIII cũng là một công trình tuyệt mĩ. Dãy chùa này dài khoảng
2km, bao gồm chùa Phật giáo, chùa đạo Hinđu và chùa đạo Jain.
Từ thế kỉ VII- VIII, bắt đầu xuất hiện những kiến trúc đá ở miền
Đến thời Xuntan Đêli và thời Môgôn, cùng với việc đạo Hồi trở
thành quốc giáo, ở ấn độ đã xuất hiện những công trình kiến trúc mới xây
dựng kiểu Trung á và Tây á. Đó là những nhà thờ Hồi giáo, cung điện,
lăng mộ mà đặc điểm chung của lối kiến trúc này là cửa vòm, mái tròn, có
tháp nhọn. Có khi các công trình này còn kết hợp với phong cách truyền
thống của ấn Độ nh xây theo lối có bao lơn lộ thiên, có cột chống thanh
thoát
Thời Xuntan Đêli có công trình kiến trúc nổi tiếng là Tháp
KutubMinar đợc khởi công từ năm 1199 dới thời vua đầu tiên của vơng
triều Đêli. Tháp hoàn thành năm 1.230, cao 73m, đờng kính đáy là 14,2m,
đờng kính đỉnh là 2,7m. Bên trong có một cầu thang cuốn vòng 376 bậc dẫn
đến đỉnh tháp.
Tháp KutubMinar kế thừa phong cách tháp múi, nhng là những múi
đều từ đáy lên đỉnh núi, nh kiểu gân tờng thân tháp. Toàn bộ tháp nh một
mũi tên chĩa thẳng lên trời cao. Thân tháp ốp sa thạch đỏ rất đẹp.
Công trình tiêu biểu nhất thời Môgôn là lăng Taj Mahan đợc xây
dựng vào thế kỉ XVII theo yêu cầu của nhà vua Sa Jahan. Vua Sa Jahan lấy
Mumtaz làm ái phi, ngời đợc vua yêu quí trong hàng nghìn cung tần mĩ nữ.
Mumtaz 18 tuổi, sinh hạ đợc 14 ngời con và chết khi sinh con cuối cùng,
năm 39 tuổi. Vô cùng thơng tiếc ngời vợ yêu quí, hoàng đế quyết định xây
lăng mộ đặt thi hài Mumtaz và cũng để dành chỗ bên cạnh cho chính mình.
Lăng Taj Mahan là sự kết tinh tài nghệ của các kiến trúc s và thợ thủ công
nhiều nớc: ấn Độ, Iran, Thổ Nhĩ Kì, Italia Nổi bật là vai trò của 3 kiến
trúc s: Ustad (ngời BăT), Gieronimo (ngời Italia), Ôxtin đơ Boocđô (ngời
Pháp) là những nhà xây dựng tài hoa bậc nhất thế giới hội lại. Thợ xây dựng
cần đến 24.000 ngời, tuyển từ Batđa và lao động cần mẫn suốt 22 năm.
Lăng đợc xây ở Agra, trên bờ sông Yamuna, cách Đêli 200km về
phía hạ lu, phía đông- nam, trên một nền đất hình chữ nhật, dài 580m, rộng
304m, đợc biến thành vờn, phủ thảm cỏ, trồng cây, xây hồ nớc, bể phun nớc
ở phía trớc và các lối đi dẫn đến lăng.
cuối cùng.
2
1
-Lịch sử văn hoá thế giới cổ trung đại trang227 - Lơng Ninh chủ biên.
NXB Giáo dục-1999.
2
-Lịch sử văn hoá thế giới cổ trung đại trang228 - Lơng Ninh chủ biên.
NXB Giáo dục-1999.
3. ảnh hởng của văn minh ấn Độ cổ- trung đại ở Việt Nam .
24
Điều kiện hình thành và những thành tựu chủ yếu về văn học nghệ thuật của văn minh ấn Độ
Từ rất lâu đời, văn hóa ấn Độ đã có giao lu trên nhiều mặt với nền
văn hóa truyền thống Việt Nam. ở các quốc gia cổ- trung đại nh Đại Việt,
Phù Nam, Cham pa đều thấy rõ ảnh hởng của giao lu đó.
Trong thời kì Văn Lang- Âu Lạc, chúng ta cha tìm thấy bằng chứng
ảnh hởng của văn hoá ấn Độ. ảnh hởng đó chỉ thấy rõ trong những thế kỉ
đầu công nguyên, mà trớc hết là Phật giáo.
Phật giáo vào Giao Châu từ rất sớm, có rất nhiều ý kiến cho rằng
Phật giáo đã xâm nhập Giao Châu bằng cả đờng biển từ phơng Nam và đ-
ờng bộ từ phơng Bắc. ở đời Hán , có ba trung tâm Phật giáo thì Luy Lâu
( Giao Châu ) là một trong số đó và có thể có sớm hơn hai trung tâm Bành
Thành và Lạc Dơng ( Trung Quốc ).
Thế kỉ thứ VI, Tinidachilu là ngời ấn Độ sang Trờng An ( Trung
Quốc ) rồi sang Giao Châu. Ông đã ở đây 15 năm và có nhiều học trò trong
đó có nhà s Pháp Hiển nổi tiếng. Cũng từ đây, một số nhà s Giao Châu
thông thạo kinh Phật giỏi chữ Phạn đã đi nghiên cứu Phật giáo tận ấn Độ
hoặc đến kinh đô nhà Đờng.
Trong văn học dân gian, Phật ( Bụt ) đợc nhắc đến nhiều trong truyện
cổ tích. Về mặt ngôn ngữ, chữ Bụt bắt nguồn từ chữ Budda còn chữ chùa là
từ chữ Stupa của tiếng Phạn. Có khá nhiều truyện cổ Việt có nguồn gốc ấn