một số đặc điểm dịch tễ học, sinh học trong điều kiện sinh thái ở thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ và Khánh Hòa. - Pdf 25


1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, các bệnh ký sinh trùng truyền lây giữa động
vật và người ngày một tăng. Trong đó Gnathostoma được Trung tâm Phòng
chống bệnh tật của Mỹ gọi là bệnh mới nổi.
Ở nước ta, bốn loài Gnathostoma gây bệnh trên động vật đã được ghi
nhận. Người nhiễm bệnh lần đầu là một bé trai bốn tuổi ở Tây Ninh, được
phát hiện năm 1965, đến năm 1993 cũng chỉ có thêm một vài trường hợp.
Từ cuối năm 1998 đến nay, số ca nhiễm mầm bệnh này lên đến hàng ngàn
người. Mặc dù được phát hiện từ lâu, nhưng các công trình nghiên cứu về
loài này còn ít. Trước những yêu cầu thực tế đó, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài này nhằm làm rõ hơn một số đặc điểm dịch tễ học, sinh học trong
điều kiện sinh thái ở thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ và Khánh Hòa.
2. Mục tiêu của của đề tài
Xác định được sự phân bố, tỷ lệ nhiễm, cường độ nhiễm bệnh do
Gnathostoma sp. gây ra trên một số động vật tại thành phố Hồ Chí Minh,
Cần Thơ và Khánh Hòa; Xác định được thành phần loài gây bệnh và nghiên
cứu vòng đời; Xác định nguy cơ truyền lây bệnh từ động vật sang người và
đề xuất biện pháp phòng trị.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu: Bệnh Gnathostoma ở chó, lợn tại thành phố
Hồ Chí Minh, Cần Thơ và tỉnh Khánh Hòa; vật chủ trung gian của G.
spinigerum (một số loài copepod nước ngọt, cá lóc, lươn, ếch).
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài được thực hiện tại một số địa điểm ở
Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ và tỉnh Khánh Hòa từ năm 2011-2014.
4. Ý nghĩa khoa học
Là công trình nghiên cứu có hệ thống về đặc điểm dịch tễ học, định
loài bằng hình thái học và kỹ thuật phân tử, vòng đời, bệnh lý lâm sàng, điều


Nematoda, Bộ: Spirurida; Họ Gnathostomatidae; Giống Gnathostoma.
1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam và trên thế giới
1.2.1. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Ở nước ta, các nghiên cứu Gnathostoma gây bệnh trên động vật còn ít,
chỉ có một số công trình khảo sát tình hình nhiễm G. hispidum trên lợn (Bùi
Lập, 1964; Phạm Văn Chức, 1985; Nguyễn Hữu Hưng, 1993; Phạm Văn
Khuê, 1996; Lương Văn Huấn, 1998); tình hình nhiễm G. spinigerum trên
chó (Nguyễn Hữu Hưng, 2002; Lê Hữu Khương, 2007). Ngoài ra, một số
điều tra tình hình nhiễm ấu trùng ở lươn và cá lóc (Le T. X, 2000; Nguyễn
Văn Đề, 2001; Sieu T. P, 2009).
Người nhiễm bệnh lần đầu được phát hiện vào năm 1965, đến nay nhiều
trường hợp nhiễm mầm bệnh được phát hiện bởi các tác giả: Trần Xuân Mai
(1992); Nguyễn Văn Tiến (1997); Nguyễn Quang Vinh (2001); Lê Thị Xuân
(2002); Trần Thị Hồng (2004); Trần Phú Mạnh Siêu (2011); Triệu Nguyên
Trung (2012),…
1.2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trong nhiều thập kỷ qua, các nhà khoa học trên thế giới đã có những
nghiên cứu về thành phần loài và sự phân bố của chúng. Sự phân bố ở mỗi
khu vực, mỗi quốc gia phụ thuộc vào khu hệ động vật, điều kiện địa lý, khí
hậu và tập quán chăn nuôi,…. Theo các tài liệu đã công bố cho thấy, bệnh
chủ yếu ở các nước Châu Á và Châu Mỹ: Malaysia, Ấn Độ, Trung Quốc,
Hàn Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Indonesia, Nhật Bản, Philippines, Lào, Đài
Loan, Bangladesh, Pakistan, Israel, Ecuador, Peru, Mexico,…
[50][51][53][65][67][71][73][75].

4
CHƢƠNG II:
NỘI DUNG, NGUYÊN LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.1.1. Xác định tình hình nhiễm ấu trùng, giun Gnathostoma sp. trên

2.4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.4.1. Xác định tình hình nhiễm ấu trùng, giun Gnathostoma sp. tại
thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ và Khánh Hòa
Thiết kế nghiên cứu: Điều tra cắt ngang, chọn mẫu ngẫu nhiên đơn.
Tính dung lượng mẫu bằng phần mềm Win Episcope 2.0.
Xét nghiệm thăm dò 50 mẫu cá lóc, 50 mẫu lươn, 50 mẫu ếch cho thấy
tỷ lệ nhiễm ấu trùng là 3%. Ở độ tin cậy 95%, ta có số mẫu n = 45 mẫu x 2
mùa x 2 loại mẫu (tự nhiên và nuôi) = 180 mẫu/loài/tỉnh.
Mổ khám thăm dò 100 chó cho thấy tỷ lệ nhiễm là 25%. Ở độ tin cậy
95%, ta có số mẫu n = 289 mẫu x 3 độ tuổi x 2 mùa = 1734 mẫu/tỉnh.
Tỷ lệ nhiễm trên lợn khoảng 30% (Lương Văn Huấn, 1998). Ở độ tin
cậy 95%, ta có số mẫu n = 320 mẫu x 3 độ tuổi x 2 mùa = 1920 mẫu/tỉnh.
Các yếu tố liên quan đến tỷ lệ nhiễm: Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5
đến hết tháng 11 và mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến hết tháng 4 năm sau.
Chó được phân ra 3 nhóm tuổi (< 1 năm, 1-2 năm và >2 năm). Điều kiện
sống (cá lóc, lươn, ếch tự nhiên và nuôi).
Xét nghiệm mẫu: Xác định tỷ lệ nhiễm giun trên chó, lợn bằng
phương pháp mổ khám không toàn diện. Xác định tỷ lệ nhiễm ấu trùng trên
cá lóc, lươn, ếch bằng phương pháp ép cơ và tiêu cơ.
2.4.2. Phƣơng pháp định loài Gnathostoma
Định loài bằng hình thái học: Định loài dựa vào đặc điểm kích thước,
hình thái, cấu tạo của Gnathostoma được các tác giả mô tả (Takeichi, 1956;
Soesatyo, 1985; Daengsvang, 1980; Miyazaki, 1955,… Theo hệ thống phân
loại của Phan Thế Việt (1977).
Định loài bằng kỹ thuật phân tử: Thành phần phản ứng PCR cho vào
mỗi ống tương ứng 50 µl (25 µl PCR master mix, 2 µl Primer F, 2µl Primer

6
R, 11 µl nước, 10 µl ADN mẫu). Cặp mồi đoạn gen ITS2 [31][46]: mồi xuôi
5’- TGTGTC GATGAAGAACGCAG -3’; mồi ngược 5’-

Tổng hợp tình hình nhiễm ấu trùng trên động vật, phân tích khả năng
sống của ấu trùng đối với một số tác nhân vật lý và hóa học; khảo sát tập
quán ăn uống của người dân, từ đó xác định nguy cơ nhiễm mầm bệnh trên
người. Đề xuất biện pháp phòng trị bệnh dựa trên cơ sở phân tích một số đặc
điểm dịch tễ học, nghiên cứu vòng đời và điều trị thử nghiệm.
2.4.5. Xử lý số liệu
Các số liệu được xử lý bằng Exel 2007; so sánh sai khác bằng Epicalc
2000; So sánh trình tự nucleotit sử dụng BioEdit 2000; Chuỗi nucleotit truy
cập ngân hàng gen qua chương trình Blast; Tạo cây phả hệ sử dụng Mega.

7
CHƢƠNG III:
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Tình hình nhiễm ấu trùng, giun Gnathostoma sp. trên một số động
vật tại thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ và Khánh Hòa
3.1.1. Xác định tỷ lệ nhiễm ấu trùng Gnathostoma sp. trên cá lóc, lƣơn,
ếch tại thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ và Khánh Hòa
Tỷ lệ nhiễm ấu trùng Gnathostoma sp. trên cá lóc, lươn, ếch tại thành
phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ và Khánh Hòa được thể hiện ở bảng 3.2. Kết
quả cho thấy: tỷ lệ nhiễm chung ấu trùng trên cá lóc, lươn, ếch lần lượt là
2,42%; 3,21% và 0,63%. Trong đó tỷ lệ nhiễm trên cá lóc tự nhiên 4,52%
cao hơn so với cá lóc nuôi 0,57%, tỷ lệ nhiễm trên lươn tự nhiên 5,31% cao
hơn so với lươn nuôi 1,16% (P<0,05); Tỷ lệ nhiễm trên cá lóc ở mùa khô là
2,64% và 2,18% ở mùa mưa; tỷ lệ nhiễm trên lươn ở mùa khô là 3,28% và
3,14% ở mùa mưa, tỷ lệ nhiễm trên ếch ở mùa khô là 0,61% và 0,65% ở
mùa mưa (Kết quả so sánh không có sự khác nhau giữa mùa khô và mùa
mưa, P>0,05).
Một số công trình nghiên cứu ở nước ngoài cho thấy tỷ lệ nhiễm ấu
trùng Gnathostoma sp. trên cá lóc, lươn, ếch là khá cao và có sự biến động

Mùa khô
2/54 (3,70)
1/58 (1,72)
3/112 (2,68)
Mùa mưa
2/60 (3,33)
1/62 (1,61)
3/122 (2,45)
Ếch
Mùa khô
1/41 (2,44)
0/79 (-)
1/120 (0,83)
Mùa mưa
1/30 (3,33)
0/72 (-)
1/102 (0,98)
TP
HCM
Cá lóc
Mùa khô
4/60 (6,67)
1/55 (1,82)
5/115 (4,35)
Mùa mưa
3/45 (6,67)
1/56 (1,79)
4/101 (3,96)
Lươn
Mùa khô

0/50 (-)
2/113 (1,77)
Mùa mưa
3/57 (2,56)
0/50 (-)
3/107 (2,80)
Ếch
Mùa khô
0/32 (-)
0/68 (-)
0/100 (-)
Mùa mưa
0/45 (-)
0/50 (-)
0/95 (-)
Cá lóc
Mùa khô
8/177 (4,52)
1/164 (0,61)
9/341 (2,64)
Mùa mưa
6/133 (4,51)
1/188 (0,53)
7/321 (2,18)
Tổng cộng
14/310 (4,52)
2/352 (0,57)
16/662 (2,42)
Lƣơn


hoặc ăn cyclop nhiễm mầm bệnh.
Đặc điểm của G. spinigerum có vòng đời gián tiếp, mầm bệnh phát
triển ở vật chủ là khá dài: trứng ở môi trường nước 7-18 ngày, ấu trùng ở
cyclop 7-20 ngày và 29-45 ngày ở cá lóc, lươn, ếch; Mặt khác, khi ấu trùng
đã tạo thành dạng nang kén thì chúng có thể tồn tại khá lâu trong cơ thể vật
chủ. Đây có thể là một trong những nguyên nhân làm cho tỷ lệ nhiễm ấu
trùng không khác nhau giữa mùa khô và mùa mưa.
3.1.2. Tỷ lệ nhiễm giun Gnathostoma sp. trên chó tại thành phố Hồ Chí
Minh, Cần Thơ và Khánh Hòa
Bảng 3.4: Tỷ lệ nhiễm giun Gnathostoma sp. trên chó
Địa
điểm
Mùa vụ
Số con nhiễm/số con mổ khám (%)
< 1 năm
1-2 Năm
>2 năm
Tổng cộng
TP HCM
Mùa khô
1/190 (0,53)
7/490 (1,42)
8/769 (1,04)
16/1449 (1,10)
Mùa mưa
0/206 (-)
5/453 (1,10)
9/762 (1,18)
14/1421 (0,98)
Cần Thơ

13/1537 (0,84)
23/3459 (0,66)
Tổng cộng
1/1262 (0,08)
22/2932 (0,75)
28/3191 (0,88)
51/7385 (0,69)
Tổng số 7385 chó được mổ khám tại thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ
và Khánh Hòa. Kết quả bảng 3.4 cho thấy có 51 con nhiễm giun
Gnathostoma sp., với tỷ lệ nhiễm 0,69%. Trong đó tỷ lệ nhiễm trên chó ở
mùa khô là 0,71% và 0,66% ở mùa mưa (P>0,05); tỷ lệ nhiễm trên chó ở
nhóm tuổi < 1 năm là 0,08% thấp hơn so với nhóm tuổi 1-2 năm 0,75% và
nhóm tuổi > 2 năm 0,88% (P<0,05).

10
Trên thế giới, những công trình nghiên cứu về tỷ lệ nhiễm G.
spinigerum trên chó chủ yếu ở Thái Lan (Daengsvang, 1980; Maleewong,
1992; Rojekittikhun và cs, 2000). Ở nước ta các nghiên cứu đánh giá tỷ lệ
nhiễm trên chó còn ít và chủ yếu phát hiện chó ở các tỉnh phía Nam nhiễm
mầm bệnh: Nguyễn Hữu Hưng (2002); Lê Hữu Khương (2007).
Tỷ lệ nhiễm giun Gnathostoma sp. trên chó có khuynh hướng tăng dần
theo tuổi. Vấn đề này có thể do chó ít tuổi thì tần suất tiếp xúc với mầm
bệnh thấp hoặc do thời gian mầm bệnh phát triển ở chó là khá dài.
Đặc điểm vòng đời của G. spinigerum cần hai vật chủ trung gian, thời
gian mầm bệnh phát triển ở vật chủ là khá dài (112-123 ngày ở chó). Mặt
khác, nếu chó nhiễm bệnh mà không được điều trị thì giun vẫn tồn tại trong
cơ thể vật chủ. Đây có thể là một trong những yếu tố làm cho tỷ lệ nhiễm
không phụ thuộc vào mùa vụ.
Huấn, 1998). Những năm gần đây ít có công trình đề cập đến loài gây bệnh
trên lợn. Trong nghiên cứu này với số lượng mẫu khá lớn nhưng chưa phát
hiện lợn nhiễm mầm bệnh. Như vậy, mầm bệnh trên lợn gần như biến mất
trong khoảng 20 năm trở lại đây. Vấn đề này có thể do sự thay đổi tập quán
chăn nuôi, con giống, khoa học kỹ thuật,… Chẳng hạn sử dụng thức ăn công
nghiệp, hay do giai đoạn mầm bệnh phát triển ở lợn khá dài (4-8 tháng) [42]
nhưng nuôi lợn theo hướng thịt khoảng 3-4 tháng đã xuất chuồng. Ngoài ra,
có thể do người chăn nuôi dùng thuốc tẩy giun sán hoặc sử dụng công nghệ
xử lý chất thải [118].
3.2. Định loài ấu trùng, giun Gnathostoma sp. trên một số động vật tại
thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ và Khánh Hòa
3.2.1. Định loài bằng hình thái học
3.2.1.1. Hình thái ấu trùng Gnathostoma sp. trên cá lóc, lƣơn, ếch
Bảng 3.5: Kích thƣớc ấu trùng Gnathostoma sp.
Kích thƣớc
Đầu
Cơ thể
Thực quản
Chiều dài (mm)
0,06-0,08 (0,07)
1,5-3,9 (3,20)
0,7-0,9 (0,85)
Chiều rộng (mm)
0,2-0,3 (0,25)
0,3-0,4 (0,32)
-
Ghi chú: Tổng số ấu trùng ở cá lóc 62, lươn 63, ếch 10; (): số trung bình

Cơ thể
Thực
quản
Giun đực
(n=90)
Giun cái
(n=114)
Chiều dài
(mm)
0,3-0,8
(0,55)
15-20
(18)
18-29
(25,8)
1,5-3,5
(2,66)
Chiều rộng
(mm)
0,9-1,8
(1,2)
1,2-2,0
(1,7)
1,2-3,0
(2,5)
-
Ghi chú: n là tổng số giun; (): số trung bình

triển hơn. Con đực nhỏ, đuôi cong về mặt bụng, gai giao hợp ở phần mút
đuôi, kích thước 15-20 x 1,2-2 mm; Con cái lớn hơn con đực, đuôi thẳng, tử
cung và âm hộ ở phần giữa cơ thể, kích thước 18-29 x 2,1-3,0 mm. Với
những đặc điểm hình thái và dựa theo tài liệu [25][43][70][72][95][102] cho
thấy, 204 giun thu thập được trên chó đều thuộc loài G. spinigerum.
3.2.2 Định loài Gnathostoma bằng kỹ thuật phân tử
3.2.2.1. Kết quả điện di sản phẩm PCR nhân đoạn gen ITS2 Sau khi tách chiết ADN tổng số, thực hiện phản ứng PCR của 100 giun
và 100 ấu trùng, sản phẩm được điện di trên thạch agarose 1,2%. Kết quả
cho thấy các mẫu giun và ấu trùng đều nhân được đoạn gen có độ dài đặc
hiệu, kích thước khoảng 647 bp. Trong khi đó, các mẫu đối chứng âm đều
cho kết quả âm tính. Như vậy, với cặp mồi này phản ứng đã nhân được đoạn
gen ITS2 Gnathostoma sp. Hình 3.10: Ảnh đại diện kết quả điện di sản phẩm PCR

(VN1- Giun trên chó; VN2, VN3, VN4- Ấu trùng trên lươn, cá lóc, ếch)
Hình 3.12: Cây phả hệ biểu thị mối quan hệ các loài Gnathostoma
(VN1-VN4 là G. spinigerum ở tp Hồ Chí Minh, Cần Thơ và Khánh Hòa)

So sánh bằng phần mềm BioEdit cho thấy, đoạn gen ITS2
Gnathostoma sp. của ấu trùng trên cá lóc, lươn, ếch và giun trên chó tại
thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ và Khánh Hòa có trình tự nucleotit giống

15
nhau (570 nucleotit). Mặc dù có sai khác ở vị trí 50 (G‹-›A) và vị trí 320
(A‹-›T), nhưng sai khác này không làm thay đổi thành phần axit amin (hình
3.11). Đoạn gen này được truy cập vào ngân hàng gen qua chương trình

trùng giai đoạn 2 hình thành, nằm trong vỏ trứng; 5: Ấu trùng giai đoạn 2 nở ra từ trứng.

1
2
3
4
5

16
thon dần về hai đầu, bên ngoài trơn nhẵn, bên trong đã xuất hiện cơ quan
tiêu hóa, chiều dài 380-400 µm, chiều rộng 17-22 µm.
3.3.2. Xác định vật chủ trung gian thứ nhất của G. spinigerum
Bảng 3.14: Sự phát triển của ấu trùng ở vật chủ trung gian thứ nhất
Thời gian
Hình thái ấu trùng
.n
Chiều dài (µm)
Chiều rộng (µm)
E
I
H
R
2 giờ
234
370-400 (385)
17-23 (19)
+
+
-
-

+
+
Ngày 7-20
454
390-430 (410)
44-48 (46)
+
+
+
+

Thu thập ấu trùng G. spinigerum (ấu trùng nở ra từ trứng) cho vào bể
nuôi 8 loài cyclop: Microcyclops varicans, Mesocyclops leuckarti,
Tropocyclops chinei, Neodiaptomus malaindosinensis, Diaphanosoma sarsi,
Hình 3.15: Hình thái ấu trùng G. spinigerum ở cyclop

Gan

Khác
Cá lóc
(n=95)
Lƣơn
(n=87)
Ếch
(n=85)
2-7
Ấu trùng giai
đoạn 3
187
0
0
11/12
(91,66)
9/11
(81,81)
9/11
(81,81)
8-28
Ấu trùng giai
đoạn 3
542
89

0
25/30
(83,33)

380
0
78/95
(82,10)
61/87
(70,11)
63/85
(74,11)
Tiến hành cho cá lóc, lươn, ếch ăn ấu trùng G. spinigerum (ấu trùng từ
cyclop). Kết quả bảng 3.15 cho thấy, sau khi ấu trùng xâm nhập vào vật chủ
đến ngày thứ 28, chúng tăng dần kích thước cơ thể, các cơ quan phát triển rõ
ràng hơn. Từ ngày thứ 29 đến ngày 45, ấu trùng ít phát triển về kích thước.
Lúc này chúng tạo thành dạng nang kén nằm trong cơ hoặc gan của vật chủ.
Nang kén có dạng hình tròn, kích thước khoảng 1,3-1,4 mm. Ấu trùng trong
nang kén dạng xoắn ốc, bên ngoài bao bọc bởi 1 lớp màng. Kích thước ấu

18
trùng 2,44-3,62 x 0,31-0,46 mm. Ấu trùng chỉ tạo nang kén ở cơ và ở gan
của cá lóc, lươn, ếch. Tỷ lệ nang kén ở gan là 79,43% cao hơn so ở cơ
20,56%.
Hình 3.17: Sự phát triển của ấu trùng G. spinigerum ở cá lóc, lƣơn, ếch
1: Ấu trùng sau 7 ngày (40 x); 2: Ấu trùng sau 15 ngày (10 x) 3: Ấu trùng sau 29 ngày (10 x);
4: Ấu trùng hình thành dạng nang kén (10 x)
3.3.4. Gây nhiễm ấu trùng G. spinigerum với chó

24
2
+
-
-
0,3-0,6 x 2,9-5,5
27
2
+
-
-
0,3-0,6 x 2,9-5,5
Ấu trùng
28-34
4
+
+
-
0,4-0,7 x 3,5-7,5
Ấu trùng
35
2
-
+
-
0,4-0,9 x 4,5-9,5
Giun non

70
3

Từ kết quả bảng 3.16 cho thấy: ở ngày thứ 7 sau gây nhiễm, tìm thấy
ấu trùng ở gan, với hình thái giống ấu trùng gây nhiễm, kích thước từ 0,3-
0,4 x 2,4-3,6 mm. Ngày thứ 15 đến ngày 24, ấu trùng ở trong gan, kích
thước từ 0,3-0,5 x 2,6-4,5 mm (ở ngày 15) và 0,3-0,6 x 2,9-5,5 mm (ở ngày
24). Ngày thứ 27: vẫn tìm thấy ấu trùng ở gan, kích thước cơ bản giống
ngày thứ 24.
Ngày thứ 28 đến ngày 34, tìm thấy ấu trùng ở gan và ở dạ dày, thời
gian này phân biệt được ấu trùng đực và ấu trùng cái, con đực đuôi cong về
mặt bụng, ở mút đuôi có gai giao hợp; con cái lớn hơn con đực, lỗ sinh dục
ở phần giữa cơ thể. Kích thước ấu trùng từ 0,4-0,7 x 3,5-7,5 mm.
Ngày thứ 35 đến ngày 70, ấu trùng phát triển thành giun non sống ở dạ
dày, phần đầu của giun xuất hiện 7 hàng gai. Ống sinh sản con cái lớn lên và
rõ rệt, tử cung tương đối lớn nhưng bên trong chưa thấy trứng. Kích thước
ấu trùng từ 0,4-0,9 x 4,5-9,5 mm (ở ngày 35) và 0,7-1,2 x 9,0-15,5 mm (ở
ngày 70).
Hình 3.18: Kết quả mổ khám chó sau gây nhiễm G. spinigerum
A: Khối u và giun ở ngày 35 (giun non); B: Khối u và giun ở ngày 112 (giun trưởng thành)

A
B


t
ế bào viêm thâm nhiễm xen kẽ trong đám tế bào xơ, thâm nhiễm bạch cầu
ái toan ở phần niêm mạc của dạ dày.

21
Từ kết quả trên chúng tôi nhận thấy, mầm bệnh tác động và gây ra
những biểu hiện bệnh lý tương ứng với thời gian phát triển của mầm bệnh
trong cơ thể chó. Thời gian đầu (sau khi gây nhiễm đến ngày thứ 35) là giai
đoạn ấu trùng di hành, gây ra những tổn thương mạnh ở gan, ảnh hưởng đến
chức năng của gan nên chó có biểu hiện bệnh lý mạnh. Thời gian sau, khi ấu
trùng phát triển thành giun sống ở dạ dày, chức năng của gan hồi phục dần
nên dấu hiệu bệnh lý của chó không rõ rệt.

Hình 3.21: Bệnh tích đại thể chó nhiễm G. spinigerum (A: Gan; B: Dạ dày)


Số con thí
nghiệm
Tỷ lệ nhiễm
trƣớc khi tẩy
(%)
Số con sạch giun
sau khi tẩy
Ivermectin
2,5 mg/10 kg P
10
100
10
Levamisol
10 mg/1 kg P
10
100
10
Đối chứng không điều trị
5
100
0
Gây nhiễm mầm bệnh G. spinigerum với chó và tẩy giun bằng hai loại
thuốc. Kết quả bảng 3.19 cho thấy: ivermectin với liều 2,5 mg/10 kg thể
trọng (tiêm dưới da) điều trị 10 chó; levamisol với liều 10 mg/1 kg thể trọng
(tiêm dưới da) điều trị 10 chó. Sau 10 ngày dùng thuốc, mổ khám kiểm tra
không phát hiện giun còn sống trong 20 chó được điều trị (không còn giun
trong khối u ở dạ dày hoặc giun ở giai đoạn phân hủy).
Từ kết quả ở trên cho thấy, thuốc ivermectin và levamisol có hiểu quả
tẩy giun G. spinigerum trên chó. Các thuốc này dễ sử dụng và không có
phản ứng phụ trong suốt quá trình thử nghiệm. Tuy nhiên, do bệnh này có

nhóm tuổi < 1 năm thấp hơn so với nhóm tuổi 1-2 năm và > 2 năm. Trong
những mẫu kiểm tra, chưa phát hiện lợn nhiễm với mầm bệnh.
1.2. Phân tích hình thái học và đoạn gen ITS2 cho thấy, ấu trùng trên

24
cá lóc, lươn, ếch và giun trên chó tại thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ,
Khánh Hòa đều thuộc loài G. spinigerum.
1.3. Trong môi trường nước tự nhiên, trứng G. spinigerum phát triển
thành ấu trùng giai đoạn 1 và giai đoạn 2. Trứng nở ra ấu trùng giai đoạn 2
sau 7-18 ngày. Trong Microcyclops varicans và Mesocyclops leuckarti, ấu
trùng giai đoạn 2 phát triển đến giai đoạn 3 sau 7-20 ngày. Ở cá lóc, lươn,
ếch, ấu trùng giai đoạn 3 phát triển đến ấu trùng gây nhiễm và tạo thành
dạng nang kén sau 29-45 ngày. Chó ăn phải nang kén, ấu trùng phát triển
thành giun trưởng thành sau 112-123 ngày.
1.4. Chó nhiễm G. spinigerum thường có một số biểu hiện: mệt mỏi,
ăn ít, bỏ ăn, nôn mửa, sốt, sưng chân, liệt chân, chướng bụng, ỉa chảy. Gan
viêm, xuất huyết, bề mặt gan có đường di hành của ấu trùng, tế bào ống mật
tăng sinh, tế bào gan hoại tử từng đám lớn bắt màu hồng đều, vi quản xuyên
tâm chứa đầy hồng cầu, mạch quản sung huyết nghiêm trọng, tế bào gan
thoái hóa mỡ thâm nhiễm tế bào viêm. Ở dạ dày có 1 khối u, kích thước u
phụ thuộc vào số lượng giun bên trong. L
át cắt ngang khối u, tế bào viêm
thâm nhiễm xen kẽ trong đám tế bào xơ.

1.5. Thuốc ivermectin với liều 2,5 mg/10 kg thể trọng hoặc levamisol
với liều 10 mg/1 kg thể trọng có hiệu quả tẩy giun G. spinigerum trên chó.
Đề tài đã đề xuất được biện pháp phòng trị bệnh Gnathostoma trên động vật.
2. Đề nghị
Cần tuyên truyền, phổ biến rộng rãi tác hại của mầm bệnh, con đường
truyền lây từ động vật sang người để người dân chủ động phòng chống.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status