THIẾT KẾ TIẾT ĐỌC – HIỂU QUA BÀI THƠ SÓNG (XUÂN QUỲNH)
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hơn 10 năm qua, tình trạng học và dạy môn Ngữ văn ngày càng bất cập. Có
nhiều lí do từ phía phụ huynh và học sinh (HS): Học môn Ngữ văn tương lai sẽ
khó xin việc, khó nâng cao chất lượng cuộc sống (xét về vật chất). Đồng thời, giáo
viên (GV) mặc dù có nhiệt tình nhưng kết quả dạy học vẫn còn khiêm tốn. Phải
chăng, GV còn chưa thật thống nhất về quan niệm dạy học? Phương pháp Thiết kế
bài dạy học còn thiếu sự cụ thể hóa cần thiết về các hoạt động giữa thầy và trò,
việc khai thác điểm sáng thẩm mĩ chưa tới.
Về phía GV và HS: dạy – học môn Ngữ văn đâu chỉ có chuyện rung cảm mặc
dù rung cảm cực kì quan trọng. Dạy - học môn Ngữ văn còn để hiểu biết, để tập
viết văn, làm văn, đọc văn có văn hóa, để làm người chân chính… Nghĩa là có bao
nhiêu thứ nặng nề mà vinh quang của công việc dạy học văn. Một văn bản văn
chương không phải chỉ có thông tin thẩm mĩ mà còn là một văn bản văn hóa. Học
một bài văn, một tác phẩm văn chương, ngoài sự rung cảm còn biết bao nhiêu điều
cần được khai thác và khám phá về con người, về cuộc đời, về xã hội, về cuộc
sống, về tư tưởng, về văn hóa… Một văn bản thơ có thể đưa đến cho HS bao nhiêu
điều cần được khai thác và khám phá về con người, về cuộc đời, về xã hội, về cuộc
sống, về tư tưởng, về văn hóa… Một văn bản có thể đưa đến cho HS bao nhiêu
hiểu biết phong phú tinh vi mà không phải dễ gì các em HS đã cảm nhận được hết.
Để khắc phục sự bất cập về chất lượng dạy-học, năm học 2006/2007 - năm
đầu tiên Bộ giáo dục – đào tạo chỉ đạo GV và HS dạy và học đúng chương trình
sách giáo khoa (SGK) mới. Từ đó tới nay, GV dạy môn Ngữ văn vẫn luôn đối diện
với thực tế: Thiết kế bài dạy học sao cho không dưới chuẩn và không trên chuẩn,
sao cho đúng hướng tích hợp, tích cực. Bên cạnh những thành quả dạy và học đã
đạt được vẫn còn không ít GV ngộ nhận về đổi mới phương pháp, lúng túng trong
biện pháp thực thi, có ý kiến cho rằng: GV dạy văn vẫn thông minh như cũ (?)
V.v… Theo chúng tôi, Thiết kế bài dạy học là một trong những nguồn minh chứng
vấn đề này.
Quả thật, quá trình đổi mới là một quá trình tìm tòi, nhọc nhằn trước hết GV
dạy Ngữ văn có nhiều tâm huyết cần có hiểu biết sâu sắc về lí luận, về thực tiễn và
HS phải không ngừng trang bị trình độ văn hóa cũng như năng lực sáng tạo.
+ Trong kế hoạch bài dạy học có một số khái niệm: văn bản, thiết kế
bài dạy học, đọc - hiểu,… cần có sự nhìn nhận thống nhất bởi đây không phải là
vấn đề câu chữ hình thức mà bản chất vấn đề có nhiều thay đổi so với các khái
niệm tác phẩm, giáo án, giảng văn,…: Văn bản là sáng tạo riêng của nhà văn,
ngoài hoạt động chức năng xã hội thẩm mĩ của nó. Tác phẩm là văn bản được xem
xét, cảm nhận trong các mối quan hệ với thực tại, với tác giả, với văn hóa; Có ý
kiến cho rằng: Giáo án là danh từ còn thiết kế là động từ. Nhóm động từ Thiết kế
bài dạy giúp GV luôn ý thức tổ chức hoạt động của thầy - trò. Khái niệm Giảng
văn tự thân nó nói lên: cái hay, cái đẹp của văn bản do GV cung cấp, cảm nhận,
phân tích hộ HS. Dạy văn thực chất là dạy cho HS phương pháp đọc - hiểu (hiểu
một cách khá toàn diện): Là quá trình tiếp xúc với văn bản, hiểu nghĩa đen, nghĩa
bóng, nghĩa hàm ẩn, mục đích sử dụng các biện pháp tu từ; các thông điệp của nhà
văn. Đọc - hiểu là hoạt động duy nhất để HS tiếp xúc trực tiếp với các giá trị văn
học. Đọc - hiểu bắt đầu từ đọc chữ, đọc câu, hiểu nghĩa của từ và và sắc thái biểu
Thiết kế tiết đọc – hiểu qua bài thơ Sóng (Xuân Quỳnh) – Huỳnh Quang Sơn
-2-
cảm, hiểu nghĩa của hình thức câu, hiểu mạch văn, bố cục, ý chính, ý nghĩa văn
bản. Lí giải là hiểu đặc sắc nghệ thuật, ý nghĩa xã hội nhân văn… của văn bản.
Quá trình đọc, HS còn tích lũy kiến thức, đọc để lí giải, đọc để đánh giá và đọc
sáng tạo, phát hiện. HS sẽ học cách trích câu, trích chi tiết hay trích ý. Học cách
thuyết minh, thuật lại nội dung văn bản đã học… Chương trình Ngữ văn được xây
dựng theo nguyên tắc tích hợp ba phân môn Ngữ văn: Văn học, Tiếng Việt, Làm
văn làm cho ba phân môn không tách biệt mà gắn bó với nhau trong một chỉnh thể,
hỗ trợ nhau để tạo ra kết quả đào tạo thống nhất.
+ Ở phạm vi nhất định, chuẩn kiến thức và kĩ năng có thể đo lường
được. Tuy nhiên, chuẩn của môn Ngữ văn là vấn đề có yếu tố cá nhân và sáng tạo.
Một chuẩn được hiểu cứng nhắc có thể trói buộc sự sáng tạo của GV và HS, biến
việc dạy văn thành đẽo gót cho vừa giày. Chúng ta tạm chấp nhận một quan niệm
chuẩn vừa xác định vừa có phần mền mại là thích hợp với bộ môn Ngữ văn.
cảm thụ văn học. Nói như vậy là chưa thật chính xác, bởi vì HS không phải cảm
thụ các dòng chữ in, mà trước hết phải đọc để biến các kí hiệu chữ thành nghĩa,
thành thế giới hình tượng, trên cơ sở đó mới cảm thụ thế giới nghệ thuật bằng
ngôn từ. Cảm thụ văn học khác hẳn cảm thụ âm nhạc hay hội hoạ, là cảm thụ trực
tiếp âm thanh và màu sắc, bố cục bức tranh. Trong văn học chính người đọc phải
tự kiến tạo bức tranh mà mình sẽ thưởng thức.
Trên đây là một số khó khăn tuy gián tiếp nhưng có liên quan lớn đến việc tiến
hành đề tài của chúng tôi.
Số liệu thống kê
Lớp Sĩ số Thích đọc- chép
Thích
Đọc - hiểu
12A1 45 4 (8.88%) 41 (91.12%)
12A3 40 7 (17.5%) 33 (82.5%)
12A11 43 27 (62.79%) 16 (37.21)
Qua thống kê đầu năm học 2013 – 2014, ba lớp khá – trung bình – yếu, chúng tôi
thấy lớp càng yếu càng thích đọc – chép. Đây cũng là điều dễ hiểu với đối tượng này.
Tuy vậy chúng tôi sẽ tác động để không xảy ra trường hợp còn thích đọc – chép nhiều
như trên.
III. NỘI DUNG ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lí luận
Quan điểm của các nhà lí luận, phê bình thơ - nhà thơ là cơ sở cho việc khai thác thơ:
- Nhà thơ Sóng Hồng trong Gửi một nhà thơ trẻ nhấn mạnh:
Vần hay không tôi cho là thứ yếu
Nhưng vắng âm thanh réo rắt đố thành thơ
Thiết kế tiết đọc – hiểu qua bài thơ Sóng (Xuân Quỳnh) – Huỳnh Quang Sơn
-4-
Không long lanh hình tượng, chắp cánh ước mơ
Thì thơ đó còn thua vè một chút
- Nhà thơ Tố Hữu cũng nói: Thơ là cái đó: Sự im lặng giữa các từ. Nếu người ta
thực tế. Gia tăng đối thoại giữa GV – HS, kết hợp với thảo luận nhóm phát huy tư duy
độc lập và không khỏi không xen lời bình. Trước khi học, HS chuẩn bị tích cực bằng câu
hỏi trong sách giáo khoa với câu hỏi của GV để HS thực sự phát huy tư duy. Sau khi học,
HS được giới thiệu tư liệu để mở rộng, khắc sâu kiến thức. HS tham gia vào đọc - hiểu
thì mới có thể đạt được bốn cấp độ tiếp nhận văn bản.
Các giải pháp cụ thể.
Thiết kế tiết đọc – hiểu qua bài thơ Sóng (Xuân Quỳnh) – Huỳnh Quang Sơn
-5-
+ Mức độ cần đạt cần đạt
Kiến thức
Kĩ năng
Thái độ: Đây là một trong ba mục đích mà Tài liệu Hướng dẫn
thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng - môn Ngữ văn 12, năm 2010 đã
không đề cập. Nhưng trước, trong và sau mỗi bài dạy, GV nên giáo dục
tư tưởng, tình cảm cho các em. Bài thơ Đất nước (Nguyễn Đình Thi):
Giáo dục lòng yêu nước trong độc lập, tư do và xây dựng CNXH. Bài
thơ Đất Nước (Nguyễn Khoa Điềm) giáo dục lòng tự hào, yêu thương,
gắn bó xây dựng đất nước.
+ Chuẩn bị của GV - HS và các phương pháp dạy học
Chuẩn bị của GV
Chuẩn bị của HS
Các phương pháp dạy học
Có quan niệm không cần thể hiện các việc làm trên trong Thiết kế bài
dạy nhưng dù sao công việc này cũng không thể bỏ qua. Điều quan trọng là
GV phải giúp HS cách chuẩn bị thì các em mới đáp ứng yêu cầu, nếu
không các em đi chép đáp án từ sách bài tập hoặc có thể không làm bài
trước khi đến lớp.
Ngoài câu hỏi trong sách giáo khoa, GV có thể cho câu hỏi để HS chuẩn bị
tại nhà:
So sánh những cảm nhận mới mẻ của Nguyễn Khoa Điềm về đất
ảnh, nhịp điệu, ngôn ngữ… các thủ pháp nghệ thuật của nhà thơ. Lời bình giảng
của GV phải logic, cảm xúc.
Tôi nhớ những ngày thu đã xa
…
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy.
Thiết kế tiết đọc – hiểu qua bài thơ Sóng (Xuân Quỳnh) – Huỳnh Quang Sơn
-7-
Đoạn thơ chứa những câu sâu lắng, tài hoa nhất của bài thơ. Lần đầu tiên,
Nguyễn Đình Thi đưa vào thơ Việt một đô thành mới lạ. Từ chớm gợi chính xác
cái lạnh đầu thu. Chữ xao xác bâng khuâng khiến cái lạnh không chỉ tỏa ra từ gió,
từ phố mà còn chính từ hồn người ly quê. Những câu thơ trống vắng, lạnh buồn.
May thay, hình ảnh những chàng trai Hà Nội ra đi thật khỏe khoắn như muốn cân
bằng cái buồn của những câu thơ trước. Hình ảnh Đầu không ngoảnh lại không ồn
ào mà chắc nịch. Khẳng định một tư thế, một ý chí quyết ra đi vì đại nghĩa…
- Đọc – hiểu thơ phải biết liên tưởng:
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về.
Rì rầm vừa là âm thanh thính giác, vừa là âm thanh linh giác. Ta nghe như
đồng vọng cả hơi thở đất đai trong hơi thở con người. Tiếng nói quá khứ đồng
vọng với tiếng nói hiện tại, khiến mảnh đất ta đứng bỗng thiêng liêng, thân thiết
bội phần.
- Điều quan trọng là GV gợi mở được cho HS phát hiện, cảm thụ cái hay, cái
đẹp của các yếu tố thơ rồi đánh giá, bàn luận…:
Đất nước là một ám ảnh người đọc bằng chất giọng rất riêng của Nguyễn Đình
Thi: Không ồn ào mà tha thiết, sâu lắng, tài hoa. Thơ Nguyễn Đình Thi giàu chất
họa, chất nhạc – Thứ nhạc hồn bắt sâu vào truyền thống mà vẫn mới mẻ hiện đại.
Đất nước còn là một ám ảnh về một xúc cảm lớn: Xúc cảm đất nước tinh tế mà sâu
xa. Bài thơ là một tình yêu vẫy gọi tình yêu tạo nên những dư âm không dứt trong
tình yêu xứ sở của mỗi người dân Việt.
THIẾT KẾ THỬ NGHIỆM
1. Hoạt động 1: Ồn định tổ chức thông thường (nắm sĩ số, hỏi thăm HS… để
tạo tâm thế) và kiểm tra bài cũ (Có thể kiểm tra cuối giờ). Thời gian 7 phút
2. Hoạt động 2: Lời vào bài (GV nói chậm rãi, tình cảm). Thời gian 1 phút.
Với bài thơ Sóng, Xuân Quỳnh vừa là tình nhân vừa là thi nhân của tình yêu.
Mắc-két nói rất hay: Con bướm phải mất 180 triệu năm mới cất cánh bay lên
Thiết kế tiết đọc – hiểu qua bài thơ Sóng (Xuân Quỳnh) – Huỳnh Quang Sơn
-9-
được, con người cũng phải mất bằng ấy năm mới hết khóc cười và biết chết cho
tình yêu. Tình yêu đã trở thành một giá trị văn hóa như thế, một giá trị đã được
lọc qua tâm hồn người phụ nữ Việt Nam nồng nàn mà đôn hậu, hay nói như nữ
thi sĩ: Dữ dội và dịu êm…
Bài mới
HOẠT ĐỘNG CỦA GV VÀ HS NỘI DUNG CẦN ĐẠT
Hoạt động 3 - TÌM HIỂU
CHUNG
GV gọi 1 HS đọc phần Tiểu
dẫn, yêu cầu cả lớp đọc bằng mắt.
HS đọc
GV hỏi: Bằng những kiến
thức đã đọc và những hiểu biết từ
các phương tiện thông tin, em hãy
khái quát những nét chính về cuộc
đời và đặc điểm hồn thơ Xuân
Quỳnh.
1 HS trả lời, các em khác bổ
sung,
GV chốt ý chính theo SGK và
nhấn mạnh ý chính, minh họa:
* Em trở về đúng nghĩa trái tim em
Là máu thịt đời thường ai cũng có
Diêm Điền (Thái Bình) năm 1967, đưa
vào Hoa dọc chiến hào – Tập thơ đầu
tiên của Xuân Quỳnh (1968). Bài thơ
tiêu biểu cho hồn thơ và phong cách thơ
Thiết kế tiết đọc – hiểu qua bài thơ Sóng (Xuân Quỳnh) – Huỳnh Quang Sơn
-10-
và vị trí của bài thơ?
HS trả lời
GV: Tại sao có thể nói hình
tượng sóng trong bài thơ vừa quen
lại vừa lạ?
HS trả lời – GV định hướng
khai thác (Lưu ý năng lực tiếp thu của
HS để “dừng”, “lướt”).
Xuân Quỳnh.
b. Đề tài và chủ đề:
+ Đề tài: Tình yêu
+ Chủ đề: Mượn hình tượng sóng
để diễn tả tình yêu của người phụ nữ.
Sóng là ẩn dụ cho tâm hồn người phụ nữ
đang yêu.
GV lưu ý HS nhịp thơ của bài luôn
biến đổi: 3/2, 2/1/2, 2/3; giọng thơ luôn
suy tư, băn khoăn, sôi nổi, chân thành dù
thể hiện ở hình thức đọc hay diễn ngâm.
HS nghe băng diễn ngâm
GV: Em có cảm nhận gì về âm
điệu của bài thơ?
HS trả lời
GV: Bài thơ viết bằng thể thơ nào?
tứ trữ tình của bài thơ: Vừa song
hành để thấu tỏ, vừa trùng phức để
khẳng định những khao khát cháy
bỏng trong tâm hồn người phụ nữ
đang yêu.
Thiết kế tiết đọc – hiểu qua bài thơ Sóng (Xuân Quỳnh) – Huỳnh Quang Sơn
-11-
Hoạt động 4: HOẠT ĐỘNG ĐỌC – HIỂU CHI TIẾT VĂN BẢN
GV gọi HS đọc lại 2
câu thơ đầu
HS đọc
GV hỏi: Hai câu đầu
khổ 1, miêu tả cung bậc,
trạng thái của Sóng như
thế nào? Qua đó em cảm
nhận được điều gì về tam
hồn của người phụ nữ
đang yêu trong bài thơ?
HS trả lời
GV định hướng
GV hỏi: Câu 3 - 4 tả
khát vọng gì của sóng?
HS trả lời
GV hỏi: Em có cảm
nhận: Xuân Quỳnh đã
bộc lộ quan niệm mới
mẻ, hiện đại về tình yêu
ở hai câu 3 - 4 không? Vì
sao?
HS cảm nhận, GV
- Câu thơ 3 - 4
Sóng Em
Không chịu
chấp nhận sự
nhỏ hẹp, tầm
thường……
đến với biển
rộng bao la =>
Môi trường
đích thực của
nó.
Khi yêu không chịu
chấp nhận sự nhỏ hẹp, tầm
thường… trái tim =>
hướng đến cái lớn lao,
cao cả; vượt rào cản tìm
tâm hồn đồng điệu, vươn
đến tình yêu đích thực,
vững bền…
Sóng khao khát vươn xa, thoát khỏi
Thiết kế tiết đọc – hiểu qua bài thơ Sóng (Xuân Quỳnh) – Huỳnh Quang Sơn
-12-
định hướng.
GV cho HS đọc khổ
thơ thứ hai (Ôi con
sóng… bồi hồi trong
ngực trẻ).
GV (nêu vấn đề -
dành cho HS khá – giỏi):
Hành trình Tìm ra bể của
tình yêu.
+ Còn yêu chừng
nào còn tồn tại.
Sóng: bất tử Tình yêu: vĩnh viễn
Sóng vỗ hàng ngàn năm => Con người còn tồn
tại, còn yêu. Khát vọng tình yêu cháy bỏng vừa
thường trực trong tâm hồn, vừa khiến người ta trẻ
lại, tái sinh như con sóng biển ào lên, rồi tan ra hòa
nhập vào biển cả mãi mãi.
GV hỏi: Khi tình yêu
đến như một lẽ tự nhiên,
người con gái chỉ tin có một
nửa, còn một nửa phải tự
khám phá, Xuân Quỳnh
cũng không phải là ngoại lệ.
Vậy chị đã lí giải về tình
yêu như thế nào qua :
Sóng bắt đầu… / Khi nào
ta yêu nhau.?
- Khổ thơ thứ 3 - 4
+ Lí giải nguồn gốc của thiên nhiên: Sóng
bắt đầu từ gió; Không lí giải được Gió bắt đầu
từ đâu => Câu trả lời góp phần kì ảo hóa tình
yêu. Thú nhận bất lực một cách dễ thương…
+ Lí giải nguồn gốc của tình yêu: cũng
như sóng biển, gió trời làm sao hiểu được. Nó
thẳm sâu, rộng lớn, khó hiểu, bất ngờ như thiên
nhiên.
Thiết kế tiết đọc – hiểu qua bài thơ Sóng (Xuân Quỳnh) – Huỳnh Quang Sơn
-13-
nào? Xuân Quỳnh đã
nói về điều đó như thế
nào ?/
HS thảo luận theo
nhóm (Mỗi nhóm/ tổ)
và cử đại diện nhóm
trả lời
GV : Hãy so sánh
nỗi nhớ trong bài thơ
với nỗi nhớ trong ca
dao, trong thơ Chế
Lan Viên, Quang
Dũng,…
GV hỏi : Nhớ
- Khổ 5-6-7 :
+ Khổ 5: Yêu là nhớ, nhớ nhất là khi xa cách :
• Nỗi nhớ bao trùm cả
không gian : Con sóng
dưới… con sóng trên… Ôi
con sóng…
• Nỗi nhớ thống trị cả
thời gian : Ngày đêm
không ngủ được => Thao
thức khôn cùng.
• Nỗi nhớ xâm chiếm
tâm hồn : trong cõi vô
thức, tiềm thức, ý thức (cả
trong mơ còn thức.)
• Một nỗi
nhớ cồn cào, da
thơ hay nói về lòng
thủy chung
chung.
Dẫu xuôi về phương Bắc
Dẫu ngược về phương Nam
Xuôi Bắc, ngược Nam : Nói ngược => Cuộc đời
có trái ngang… thế nào em cũng chỉ hướng về anh =>
Khẳng định cái bất biến giữa cái khả biến.
+ Khổ 7: Ngoài sự say mê phải có đủ sức
mạnh vượt qua thử thách, giông bão cuộc đời với
niềm tin tới đích.
Khẳng định cái bản ngã dù cách trở yêu nhau
vẫn tìm tới nhau.
Luôn trăn trở nhớ nhung và thủy chung son
sắt.
GV hỏi : Người ta thường nói
những nhà thơ yêu đời, yêu cuộc
sống đến say mê cuồng nhiệt thường
là những nhà thơ có cảm thức thời
gian, điều đó có đúng với Xuân
Quỳnh không ? Vì sao ?
HS trả lời
GV so sánh :
Anh đã thấy một điều mong manh nhất
Là tình yêu, là tình yêu ngát hương
(Đỗ Trung Quân)
Em đâu dám nghĩ là vĩnh viễn
Hôm nay yêu mai có thể xa rồi
(Xuân Quỳnh)
- Khổ 8 – 9: Những suy tư, lo âu,
yêu. Chị muốn được hóa thân thành
trăm con sóng nhỏ để vĩnh viễn hóa tình
yêu của mình…
Làm sao được tan ra
…
Để ngàn năm còn vỗ
Tan ra chưa đủ cường độ
nghiền nát như Xuân Diệu nhưng nó
thăm thẳm hơn. Cái thăm thẳm của hai
khát vọng nhập làm một : Yêu hết mình,
dâng hiến hết mình để bất tử tình yêu.
Hoạt động 5 : TỔNG KẾT – LUYỆN TẬP (15 phút)
GV cho HS đọc lại
Bài thơ
GV hỏi: Giá trị nghệ thuật của bài
thơ ?
HS đọc Ghi nhớ Tr156 và trả lời
Bài thơ Sóng nói lên điều gì ?
1. TỔNG KẾT
a. Nghệ thuật
- Thể thơ năm chữ truyền thống ;
cách ngắt nhịp, gieo vần độc đáo, giàu
sức liên tưởng.
- Xây dựng hình tượng ẩn dụ,
giọng thơ tha thiết.
b. Ý nghĩa văn bản
Vẻ đẹp tâm hồn của người phụ
nữ trong tình yêu hiện lên qua hình
tượng Sóng: Tình yêu tha thiết, nồng
nàn, đầy khát vọng và sắt son chung
- Quá trình khám phá tác phẩm là quá trình khái quát, cụ thể vấn đề, quá
trình khai thác văn bản dưới ánh sáng của thể loại, của sự hợp tác… đề tài này đã
tuân thủ nghiêm túc điều đó.
Tóm lại: Chúng tôi cho rằng đề tài Thiết kế tiết đọc-hiểu qua bài thơ Sóng
(Xuân Quỳnh) có tác dụng cho cả 3 khối lớp trong nhà trường. Tác dụng không
chỉ trước mắt mà còn dài lâu.
So với trước khi áp dụng đề tài này, hiện nay HS ham học môn Ngữ văn hơn
kể cả lớp chuy ên khoa học tự nhiên. Đã có những bài văn đạt điểm khá và giỏi
ngày càng nhiều. Khả thi hay không còn do quan điểm từ nhiều góc nhìn, với
chúng tôi, đây là hướng đi cần tuân thủ để góp phần hoàn tất thiên chức của mình.
Lớp Sĩ số Thích đọc- chép
Thích
Đọc - hiểu
12A1 45 0 45 (100%)
12A3 40 0 40 (100%)
12A11 43 0 43 (100%)
V. BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Thiết kế tiết đọc – hiểu qua bài thơ Sóng (Xuân Quỳnh) – Huỳnh Quang Sơn
-17-
Đề tài chúng tôi đang thực hiện đã được thể hiện trong Thiết kế bài dạy và
được cơ quan chuyên môn đánh giá loại tốt. GV các khối lớp 10 – 11 – 12 đều có
thể áp dụng để đảm bảo Chuẩn về kiến thức, kĩ năng, đồng thời vẫn dành cho GV
sáng tạo với mức độ vừa chuẩn.
VI. KẾT LUẬN
Văn bản thơ viết ra để đọc. Tự đọc sẽ nuôi dưỡng tự học. HS tiến tới không
chỉ tự thi công mà còn tự thiết kế dưới sự tác động của thầy. Nhiệm vụ của GV là
biết thiết kế bài dạy cho HS, biết cách đọc văn để ra đời các em biết tự đọc.
Thiết kế tiết đọc-hiểu qua bài thơ Sóng sao cho thầy đọc, trò đọc ; thầy trò
cùng đối thoại với nhau, cùng đối thoại với nhà văn.
Thiết kết tiết đọc-hiểu qua bài thơ Sóng thành công là giúp HS đối thoại với