Xây dựng các giải pháp quản lý sử dụng đất lâm nghiệp dựa vào cộng đồng, làm cơ sở cho dự án quy hoạch ổn định dân cư vùng rừng tại xã Mã Đà thuộc Khu Bảo tồn thiên nhiên – Văn hóa Đồng Nai, tỉnh Đồng Nai - Pdf 25

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất đai đóng vai trò quyết định đối với sự sinh tồn của con người. Đất đai
tham gia vào hầu hết quá trình sản xuất vật chất của xã hội. Trong sản xuất nông,
lâm nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu. Do đó sử dụng đất đai hợp lý, có
hiệu quả, bảo vệ đất lâu bền đang là vấn đề quan tâm hàng đầu của mọi quốc gia,
trong đó có Việt Nam. Khai thác hợp lý nguồn đất đai, tài nguyên đang là mục
tiêu chiến lược của một nền nông - lâm nghiệp sinh thái [19].
Đất lâm nghiệp bao gồm đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ và đất rừng
sản xuất [4]. Đất lâm nghiệp với tổng diện tích khoảng 19 triệu ha luôn gắn với
vùng trung du miền núi, chiếm tới 63% diện tích toàn quốc, là đối tượng hoạt động
chủ yếu của nghề rừng Việt Nam. Quản lý sử dụng hợp lý tài nguyên đất cũng là
mục tiêu chiến lược của nền sản xuất nông lâm nghiệp Việt Nam [34]. Hàng triệu
người nghèo nhất của Việt Nam sống trong rừng hoặc gần rừng. Hiện nay, trong
khu vực đất lâm nghiệp có khoảng 25 triệu người sinh sống, trong đó 70% dân số
sống dựa vào sản xuất nông lâm nghiệp [17]. Sự phụ thuộc vào rừng của các cộng
đồng miền núi về lương thực, thực phẩm được sản xuất trên đất rừng, tiền mặt thu
được từ bán lâm sản như gỗ, củi đốt v.v. ngày càng tăng dẫn đến khai thác tài
nguyên rừng quá mức, nhiều nơi rừng không còn có khả năng tái sinh dẫn đến đồi
trọc hoá [28].
Trong gần 10 năm trở lại đây, trong định hướng phát triển lâm nghiệp, Chính
phủ đã có nhiều chính sách, chủ trương về phân cấp phân quyền trong quản lý tài
nguyên rừng, giao đất giao rừng, chế độ hưởng lợi từ rừng cho người quản lý rừng;
chủ trương về xã hội hóa nghề rừng, phát triển lâm nghiệp xã hội (LNXH), lâm
nghiệp cộng đồng (LNCĐ). Đây là các cơ sở pháp lý quan trọng trong phát triển
lâm nghiệp dựa vào người dân, cộng đồng. Thực tế cho thấy để quản lý có hiệu quả,
công bằng và bền vững các nguồn tài nguyên rừng, cần có sự tham gia tích cực và
hưởng lợi từ rừng cho người dân và cộng đồng sống trong và gần rừng, có đời sống
2
phụ thuộc vào rừng; và để cho tiến trình này diễn ra có cơ sở khoa học và thực tiễn,
cần có những tổng kết, đánh giá, nghiên cứu thử nghiệm để xây dựng thành các các

khu dân cư thuộc xã Mã Đà và Hiếu Liêm [26].
Từ những phân tích trên, có thể nhận thấy việc nghiên cứu hiện trạng quản lý
sử dụng tài nguyên đất lâm nghiệp trên địa bàn các xã thuộc Khu BTTN, từ đó xây
dựng các giải pháp quản lý sử dụng đất phù hợp với nhu cầu nguyện vọng của cộng
đồng dân cư địa phương, góp phần cải thiện được sinh kế của người dân nhưng vẫn
đảm bảo thực hiện đúng những quy định của Nhà nước về quản lý sử dụng đất đai
trên địa bàn là cần thiết trong điều kiện hiện nay.
Xuất phát từ nhận thức và thực tiễn này, chúng tôi chọn thực hiện đề tài:
“Xây dựng các giải pháp quản lý sử dụng đất lâm nghiệp dựa vào cộng đồng,
làm cơ sở cho dự án quy hoạch ổn định dân cư vùng rừng tại xã Mã Đà thuộc
Khu Bảo tồn thiên nhiên – Văn hóa Đồng Nai, tỉnh Đồng Nai” với hy vọng kết
quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở tham khảo có ích cho các nhà quản lý và chính
quyền địa phương khi xây dựng và thực hiện các dự án quy hoạch ổn định dân cư
trên địa bàn Khu BTTN.
4
Chương 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1. Khái niệm và đặc điểm của nghiên cứu có sự tham gia
1.1.1. Khái niệm về sự tham gia và nghiên cứu có sự tham gia
Có nhiều khái niệm khác nhau về sự tham gia, nhưng theo FAO (1982): "Sự
tham gia của người dân như là một quá trình mà qua đó người nghèo nông thôn có
khả năng tự tổ chức và như các tổ chức của chính họ, có khả năng nhận biết nhu cầu
của chính mình và tham gia trong thiết kế thực hiện và đánh giá các phương án tại
địa phương". Hôi nghị FAO (9/1983) lại đưa ra khái niệm: "Sự tham gia của người
dân như là sự hợp tác chặt chẽ của họ tới mức người dân cảm thấy phải chịu trách
nhiệm về thành công hay thất bại của dự án phát triển lâm nghiệp".
Các Chương trình, dự án phát triển hướng về người dân được xây dựng dựa
trên cơ sở khái niệm về sự tham gia. Tính triết lý của các khái niệm về sự tham gia
dựa vào hai giả định: (i) Giả định mang tính triết học: Đó là giá trị công bằng và
dân chủ trong xã hội, mọi thành viên trong xã hội đều được quyền tham gia vào

có ranh giới không gian trong một thôn bản. Theo quan niệm này, “cộng đồng”
chính là “cộng đồng dân cư thôn bản” (sau đây gọi chung là “thôn“ cho phù hợp với
Luật Bảo vệ và phát triển rừng); (ii) Thứ hai, "cộng đồng" được dùng trong quản lý
rừng chính là nói đến các nhóm người có mối quan hệ gắn bó với nhau trong sản
xuất và đời sống. Mặc dù có những quan niệm khác nhau, nhưng phần lớn các ý
kiến đều cho rằng "cộng đồng" được dùng trong quản lý rừng chính là cộng đồng
dân cư thôn. Tại Điều 3 Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 đã định nghĩa
“Cộng đồng dân cư thôn là toàn bộ các hộ gia đình, cá nhân sống trong cùng một
thôn, làng, bản, ấp, buôn, phum, sóc hoặc đơn vị tương đương”[31].
6
Tiếp theo đó là thuật ngữ “Lâm nghiệp cộng đồng”, theo FAO (1978) “Lâm
nghiệp cộng đồng là bao gồm bất kỳ tình huống nào mà người dân địa phương tham
gia vào hoạt động lâm nghiệp”, tuy vậy nó thường được sử dụng với nghĩa hẹp hơn
như là các hoạt động lâm nghiệp được tiến hành bởi cộng đồng hoặc nhóm người
dân địa phương (Arnold, 1999). Ở Nepal dùng thuật ngữ “Nhóm sử dụng rừng” để
chỉ hoạt động lâm nghiệp cộng đồng được tổ chức bởi các nhóm đồng sử dụng tài
nguyên rừng trong một làng [21].
Như vậy, khái niệm lâm nghiệp cộng đồng đã được đề cập nhiều ở các quốc
gia trên thế giới, nó được hình thành với mục đích tạo dựng một phương thức quản
lý rừng dựa vào cộng đồng, phân cấp trong quản lý rừng, rừng được quản lý bền
vững hơn từ những người đang sống phụ thuộc vào rừng, và những giải pháp quản
lý bảo vệ rừng đóng góp vào việc sinh kế và cải thiện đời sống người dân từ hoạt
động lâm nghiệp. Từ quan điểm đó đã hình thành phương thức, các chương trình
hoạt động quản lý rừng dựa vào cộng đồng (CBFM), được hiểu là một phương thức
nhằm duy trì và phát triển rừng cũng như giải quyết vấn đề đói nghèo ở vùng cao.
Quản lý rừng dựa vào cộng đồng dựa trên quan điểm: “Con người trước và lâm
nghiệp bền vững sẽ theo sau đó”, nó trao cho các cộng đồng quyền và trách nhiệm
trực tiếp quản lý và hưởng lợi từ nguồn tài nguyên rừng (DENR; dẫn theo Bảo Huy
và ctv, 2005 [21]).
Trong hoạt động phát triển nông thôn cộng đồng, người dân địa phương có

vấn họp tại Rome (Italia) và Geneve (Thuỵ sỹ) để thảo luận về phương pháp luận
qui hoạch nông thôn. Nội dung các cuộc thảo luận đã đề cập đến các phương pháp
cùng tham gia trong qui hoạch cấp vi mô (Nguyễn Bá Ngãi, 2000; dẫn theo Nguyễn
Phúc Cường, 2003 [12]).
Vào năm 1990, khi nghiên cứu hệ thống canh tác, FAO đã xuất bản
cuốn "Phát triển hệ thống canh tác". Công trình đã chỉ rõ phương pháp tiếp cận
nông thôn trước đây là phương pháp tiếp cận một chiều từ trên xuống, đã không
phát huy được tiềm năng nông trại và cộng đồng nông thôn. Thông qua nghiên cứu
và thực tiễn, ấn phẩm đã nêu lên phương pháp tiếp cận mới đó là phương pháp tiếp
cận có sự tham gia của người dân, nhằm phát triển hệ thống trang trại trong cộng
đồng nông thôn trên cơ sở bền vững (dẫn theo Nguyễn Sỹ Bình, 2004 [2]).
Trên quan điểm hệ thống, FAO đã đưa ra những khái niệm về loại hình và hệ
thống sử dụng đất và ban hành hàng loạt các tài liệu hướng dẫn, đánh giá đất đai
cho một loạt các loại hình sử dụng đất chủ yếu như: Đánh giá đất cho nông nghiệp
nhờ nước trời (1993), Đánh giá đất cho lâm nghiệp (1984), Đánh giá cho đất nông
nghiệp được tưới (1985), Đánh giá đất cho đồng cỏ quảng canh (1989), Hướng dẫn
quy hoạch sử dụng đất (1993) (dẫn theo Lê Ngọc Trực, 2003 [44]).
Tại Nepan, Subedi và cộng sự đã dùng phương pháp đánh giá nhanh (RRA)
để nghiên cứu việc quản lý cây và đất tại hai cộng đồng nông thôn ở miền Đông
Terai. Nghiên cứu được thiết kế nhằm góp sức vào việc phát triển lợi tức và công ăn
việc làm thông qua dự án do SIDA và FAO tài trợ. Nhiều vấn đề lý luận và thực
tiễn cộng đồng và quản lý của thôn xã, tầm quan trọng của việc thu hút người dân
sử dụng tài nguyên và những nhóm sử dụng trực tiếp tham gia vào việc phát triển,
cách giải quyết vấn đề khan hiếm tài nguyên và công bằng xã hội đã được thảo luận
(dẫn theo Nguyễn Minh Thanh, 2004 [37). Tại Nepan, những diện tích rừng quan
trọng do nhà nước quản lý, một số diện tích rừng đáng kể ở vùng núi trung du đã
9
được giao cho các cộng đồng và việc quản lý các khu rừng này do một uỷ ban về
rừng được cấp chính quyền cơ sở thành lập. Uỷ ban này quản lý rừng được giao ở
địa phương theo kế hoạch và tuân thủ pháp luật (Bộ Khoa học công nghệ và môi

mất và suy thoái. Từ năm 1979 chương trình cấp giấy chứng nhận quyền hưởng hoa
lợi trong rừng dự trữ quốc gia được triển khai thực hiện nhằm đối phó với vấn đề
suy giảm, xâm lấn cả về chất lượng và diện tích rừng. Nhà nước cấp cho những hộ
nhân dân không có đất giấy chứng nhận quyền hưởng hoa lợi với diện tích nhỏ hơn
2,5 ha. Mục đích là khuyến khích đầu tư vào đất đai, tạo ra nhiều sản phẩm hơn nữa
và ngăn chặn sự xâm lấn rừng [34].
Ở Nam Phi, Moenieba và Najma (2000), trong báo cáo “Hợp tác quản lý với
người dân ở Nam Phi: Phạm vi vận động” đã nghiên cứu các hoạt động hợp tác
quản lý tại vườn quốc gia Richtersveld là khu vực giàu có về tài nguyên thiên nhiên.
Người dân nhận thức chưa cao về bảo tồn thiên nhiên, trong khi đó công việc của
họ làm ảnh hưởng tới đa dạng sinh học của Vườn quốc gia. Ban quản lý vườn quốc
gia đã phải nghiên cứu phương thức bảo tồn trong nhiều năm và cho đến năm 1991
mới chính thức tìm ra được phương thức hợp tác quản lý với cộng đồng dân cư.
Phương thức này chủ yếu dựa trên hương ước quản lý bảo vệ tài nguyên. Trong đó
người dân cam kết bảo vệ đa dạng sinh học trên địa phận của mình, còn chính
quyền và ban quản lý hỗ trợ người dân xây dựng cơ sở hạ tầng và cải thiện các điều
kiện kinh tế xã hội khác. Tương tự, tại Vườn quốc gia Kruger (Reid, 2000), để đạt
được quyền sử dụng đất đai cũ, người dân phải xây dựng quy ước bảo vệ môi tr-
ường trong khu vực Vườn quốc gia, đồng thời họ cũng được chia sẻ lợi ích thu được
từ du lịch. Từ những kết quả đạt được về đồng quản lý tài nguyên ở Nam Phi đã
trở thành bài học kinh nghiệm cho các nước đang phát triển khác (dẫn theo Nguyễn
Quốc Dũng, 2004[14]).
11
Về chính sách lâm nghiệp, Sheppherd (1986) cho rằng đối với cộng đồng
dân cư sống trong và gần các khu bảo tồn thiên nhiên, một giải pháp đề nghị là cho
phép người dân địa phương củng cố quyền lợi của họ theo cách hiểu của các hệ
quản lý nông nghiệp hiện đại, bằng cách trồng cây, cho và nhận đất. Nhà nước cần
xác định rõ các quyền lợi chính trị của dân trên mảnh đất mà họ nhận, với mục đích
tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập và giảm tác động đến tài nguyên rừng
(IDRC và IIRR, 2000; dẫn theo Tô Bá Thanh, 2009 38.

quy hoạch phát triển nông lâm nghiệp cấp xã vùng trung tâm miền núi phía Bắc,
qua kết quả nghiên cứu tác giả đã xác định được khả năng áp dụng trình tự và
phương pháp quy hoạch phát triển nông lâm nghiệp cấp xã cho vùng trung tâm
miền núi phía Bắc Việt Nam, trong đó phương pháp PRA thường được áp dụng phổ
biến trong quy hoạch sử dụng đất (dẫn theo Nguyễn Thị Thu Hoàn, 2002 [19]).
Phân loại sử dụng, lập quy hoạch và giao đất lâm nghiệp của Nguyễn Ngọc
Bình và các cộng sự (2004) đã đề xuất áp dụng phương pháp tiếp cận có sự tham
gia trong quy hoạch sử dụng đất. Tác giả cho rằng bản chất của phương pháp tiếp
cận này là tất cả những ai có liên quan đến sử dụng đất và quy hoạch sử dụng đất
lâm nghiệp trên địa bàn đều được tham gia với đúng vai trò và khả năng của mình
bằng các công cụ thích hợp; các nhà quản lý, người lập chính sách, chuyên gia kỹ
thuật, cán bộ địa phương và nhân dân cũng như các chủ sử dụng đất. Tác giả xác
định các công cụ chính sử dụng trong quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp bao gồm:
(i) Bản đồ cơ bản; (ii) Sa bàn quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp; (iii) Câu hỏi
phỏng vấn bán chính thức; (iv) Sơ đồ Venn; (v) Lát cắt dọc địa hình; (vi) Sơ đồ
đánh giá cây trồng vật nuôi [1].
Bảo Huy và ctv (2005) trong đề tài Xây dựng mô hình quản lý rừng và đất
rừng dựa vào cộng đồng dân tộc thiểu số Jrai và Bahnar tỉnh Gia Lai, đã sử dụng và
phát triển phương pháp nghiên cứu, tiếp cận có sự tham gia kết hợp với ứng dụng
công nghệ thông tin, tin học và thống kê toán học để thử nghiệm và phát triển các
13
phương pháp tiếp cận về xã hội, kỹ thuật trong tiến trình xây dựng mô hình quản lý
rừng dựa vào cộng đồng. Phương pháp tiếp cận có sự tham gia được áp dụng bao
gồm nghiên cứu hành động có sự tham gia (PAR), đánh giá nông thôn có sự tham
gia (PRA), phát triển công nghệ có sự tham gia (PTD), đánh giá tài nguyên rừng và
lập kế hoạch có sự tham gia (PIP), nghiên cứu hệ thống kiến thức sinh thái địa
phương (LEK). Các phương pháp tiếp cận này được sử dụng linh hoạt, phối hợp với
nhau, đặc biệt là ứng dụng và phát triển thành các công cụ thích hợp với mục tiêu
quản lý rừng dựa vào cộng đồng. Công nghệ tin học và thống kê toán học trong lâm
nghiệp được sử dụng để tiếp cận tốt nhất với quy luật sinh học, phát triển rừng; các

dụng đất và giao đất lâm nghiệp có sự tham gia của người dân tại Quảng Ninh và đề
xuất 6 nguyên tắc và các bước cơ bản trong quy hoạch cấp xã đóng góp vào phát
triển phương pháp quy hoạch. Sáu nguyên tắc đó là: Kết hợp hài hoà giữa ưu tiên
của Chính phủ và các nhu cầu nguyện vọng của nhân dân địa phương; Tiến hành
trong khuôn khổ luật định hiện hành và các nguồn lực hiện có của địa phương; Đảm
bảo tính công bằng; chú ý đến cộng đồng dân tộc miền núi, nhóm người nghèo và
vai trò của phụ nữ; đảm bảo phát triển bền vững, đảm bảo nguyên tắc cùng tham gia
(Trần Hữu Viên, 1999; dẫn theo Lê Ngọc Trực, 2003 [44]).
Từ những kết quả nghiên cứu của đề tài nghiên cứu năm 1999 và 2000,
Nguyễn Bá Ngãi cùng với nhóm tư vấn của Dự án khu vực lâm nghiệp Việt Nam -
ADB đã nghiên cứu và thử nghiệm phương pháp quy hoạch và xây dựng tiểu dự án
cấp xã. Mục tiêu là đưa ra một phương pháp quy hoạch nông lâm nghiệp cấp xã có
sự tham gia của người dân để xây dựng tiểu dự án nông lâm nghiệp cho 50 xã của 4
tỉnh: Thanh Hoá, Gia Lai, Phú Yên và Quảng Trị. (Nguyễn Bá Ngãi, 1999, 2000;
dẫn theo Lê Ngọc Trực, 2003 [44])
Để làm rõ cơ sở cho chiến lược sử dụng đất đai hợp lý và hiệu quả theo quan
điểm phát triển bền vững. Nguyễn Huy Phồn, 1997 (dẫn theo Nguyễn Sỹ Bình,
2004 [2]) đã tiến hành đánh giá loại hình đất chủ yếu trong nông lâm nghiệp. Trên
cơ sở đánh giá một cách tương đối có hệ thống về đất đai và hiện trạng sử dụng đất
15
nông lâm nghiệp, tác giả đã xây dựng bản đồ thích nghi sử dụng đất cho một số loại
đất chính phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế và môi trường cho toàn vùng
nghiên cứu [2].
Đề tài “Đánh giá tác động của giao đất lâm nghiệp đến tình hình phát triển
kinh tế, xã hội, và môi trường sinh thái tại xã Bằng Lãng - huyện Chợ Đồn - tỉnh
Bắc Kạn” của Triệu Văn Lực đã đưa được một số nhận xét, đánh giá đáng tin cậy về
tác động của giao đất lâm nghiệp đến phát triển kinh tế xã hội và môi trường trong
phạm vi một xã. Tuy nhiên chưa đánh giá được đầy đủ mà chỉ mới dừng lại ở những
tác động chủ yếu và dễ xác định. Theo tác giả, giao đất khoán rừng tạo thêm công
ăn việc làm, tăng thu nhập và làm cho ý thức của người dân trong việc quản lý sử

thuật, các giải pháp về kinh tế, các giải pháp về tổ chức và các giải pháp về chính
sách.
Nguyễn Thị Thu Hoàn (2002) thực hiện đề tài "Nghiên cứu đề xuất một số
giải pháp kinh tế, kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất lâm nông nghiệp sau
khi giao tại xã Tràng Xá - Võ Nhai - Thái Nguyên" [19]. Quá trình thu thập số liệu
nghiên cứu, tác giả đã sử dụng các phương pháp: (i) Kế thừa có chọn lọc các tài liệu
có sẵn trước và sau khi giao đất, giao rừng tại xã; (ii) Phương pháp phỏng vấn có
định hướng; (iii) Phương pháp điều tra chuyên đề; (iv) Phương pháp đánh giá nông
thôn có sự tham gia. Từ các số liệu thu thập được, tác giả sử dụng các phương pháp
tổng hợp, phân tích các mặt theo các loại sơ đồ, lát cắt, các mẫu biểu thống kê;
Đánh giá hiệu quả kinh tế bằng các hàm kinh tế theo phương pháp tĩnh và động;
Đánh giá hiệu quả xã hội và môi trường. Trên cơ sở những nghiên cứu về kết quả sử
dụng đất, hiệu quả sử dụng đất sau khi giao, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm sử
dụng hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai tại xã Tràng Xá.
Lê Ngọc Trực (2003) thực hiện đề tài “Nghiên cứu một số cơ sở lý luận và
thực tiễn của quy hoạch sử dụng đất cấp vi mô và tiến hành quy hoạch phát triển
17
nông lâm nghiệp xã Bình Lương – huyện Như Xuân – tỉnh Thanh Hóa” [44]. Trong
đó, để lập kế hoạch phát triển nông lâm nghiệp cho xã, tác giả đã sử dụng phương
pháp PRA, kết hợp với kỹ thuật canh tác nông lâm kết hợp, gồm các bước sau: (i)
Tìm hiểu khái quát tình hình của xã; (ii) Khảo sát nắm tình hình chung của xã; (iii)
Lập sơ đồ hiện trạng của từng thôn trong xã; (iv) Đi lát cắt thôn; (v) Phân loại cây
trồng, vật nuôi; (vi) Phân tích lịch mùa vụ; (vii) Thẩm định lại các vấn đề, giải pháp
và xếp loại mục tiêu quản lý; (viii) Lập kế hoạch, quy hoạch phát triển lâm nông
nghiệp tương lai. Kết quả nghiên cứu về cơ sở lý luận tác giả cho rằng, quy hoạch sử
dụng đất cấp vi mô trong điều kiện kinh tế xã hội hiện tại ở nước ta cần được tiến
hành triệt để theo phương pháp có người dân tham gia và gắn với các dự án phát
triển kinh tế xã hội nông thôn miền núi.
Nguyễn Phúc Cường (2003) thực hiện đề tài “Nghiên cứu đề xuất phương án
qui hoạch sản xuất lâm nông nghiệp Tại xã Tân Đồng huyện Trấn Yên - tỉnh Yên

liên quan có vai trò quan trọng trong quá trình thực hiện những nội dung quy hoạch.
Quách Đại Ninh (2003) thực hiện đề tài “Nghiên cứu tác động của chính sách
giao đất lâm nghiệp tới quá trình phát triển kinh tế hộ gia đình làm cơ sở đề xuất
giải pháp phát triển kinh tế xã hội tại xã Bắc An, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương”
[29]. Để thu thập các số liệu về kinh tế xã hội, đề tài đã sử dụng các phương pháp
đánh giá nhanh nông thôn (RRA) và một số công cụ của phương pháp đánh giá
nông thôn có sự tham gia (PRA). Trong đó để điều tra kinh tế hộ gia đình, đề tài đã
phỏng vấn khoảng 40 hộ gia trong xã, bao gồm 10 hộ không nhận đất nhận rừng và
30 hộ có nhận đất nhận rừng và được phân loại thành 3 nhóm (nhóm nhận ít đất lâm
nghiệp, nhóm trung bình và nhóm nhận nhiều đất lâm nghiệp). Kết quả nghiên cứu,
tác giả đưa ra các kết luận về tác động của chính sách giao đất lâm nghiệp đến: (i)
Sự phát triển kinh tế hộ gia đình; (ii) đến môi trường sinh thái tại xã Bắc An; (iii)
tác động về mặt xã hội tại xã Bắc An.
Nguyễn Thị Thu Hoàn (2002) thực hiện đề tài "Nghiên cứu đề xuất một số
giải pháp kinh tế, kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất lâm nông nghiệp sau
19
khi giao tại xã Tràng Xá - Võ Nhai - Thái Nguyên" [19]. Trên cơ sở những nghiên
cứu về kết quả sử dụng đất, hiệu quả sử dụng đất sau khi giao, tác giả đề xuất một
số giải pháp nhằm sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai gồm: (i) Giải pháp về
mặt kỹ thuật; (ii) Giải pháp về kinh tế; (iii) Giải pháp về mặt tổ chức; (iv) Giải pháp
về chính sách và các quy ước trong quản lý sử dụng đất.
Tóm lại
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu và ứng dụng ở nhiều nước trên thế
giới và Việt Nam về vấn đề quản lý sử dụng rừng và đất rừng. Ở mỗi nước đều có
những nghiên cứu và cách làm riêng nhằm đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững,
mỗi công trình nghiên cứu/ở mỗi khu vực nghiên cứu đều có những phương pháp
và kết luận riêng. Song xu hướng chung là gắn đất đai, tài nguyên rừng với người
dân bản địa, thu hút sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương vào việc xây
dựng quy hoạch, kế hoạch và thực hiện quản lý sử dụng đất lâm nghiệp và phát
triển rừng.

Lý, Mã Đà, Hiếu Liêm, thị trấn Vĩnh An của huyện Vĩnh Cửu; xã Thanh Sơn, La
Ngà, Phú Cường, Ngọc Định, Phú Ngọc, Túc Trưng của huyện Định Quán và xã
Đaklua của huyện Tân Phú. Tổng diện tích tự nhiên của Khu BTTN là 100.303,3
ha, trong đó có 32.400 ha diện tích mặt nước hồ Trị An (Khu BTTN, 2010).
Phạm vi ranh giới cụ thể như sau:
- Phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước và huyện Tân Phú của Đồng Nai.
- Phía Nam giáp sông Đồng Nai, huyện Trảng Bom và huyện Thống Nhất
- Phía Đông giáp VQG Cát Tiên, huyện Tân Phú và huyện Định Quán.
- Phía Tây giáp tỉnh Bình Phước và tỉnh Bình Dương.
Toàn bộ diện tích Khu BTTN nằm chủ yếu trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, trong
khu vực địa hình chuyển tiếp từ cao nguyên Bảo Lộc – Lâm Đồng xuống vùng địa
hình bán bình nguyên của Đông Nam Bộ. Địa hình thuộc dạng địa hình vùng đồi,
với 3 cấp độ cao: đồi thấp - đồi trung bình và đồi cao, độ cao giảm dần từ Bắc
xuống Nam, nghiêng từ Đông sang Tây. Độ chênh cao giữa các khu vực không
nhiều và có sự chuyển tiếp từ từ. Độ cao bình quân 100 - 120 mét. Độ dốc bình
quân: 8
0
– 10
0
. Nhìn chung, địa hình là rất lý tưởng cho các hoạt động lâm nghiệp.
2.1.1.2. Khí hậu, thủy văn
Khu BTTN nằm trong khu vực có chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích
đạo, mỗi năm có 2 mùa, nhiệt độ cao đều trong năm.
22
- Mùa mưa thường từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4
năm sau. Lượng mưa trung bình trong năm từ: 2.000 - 2.800 mm, tập trung vào
tháng 7, 8, 9.
- Nhiệt độ trung bình năm: 25
o
C - 27

Tổng diện tích tự nhiên của Khu BTTN: 100.303,3 ha, gồm:
- Rừng đặc dụng : 59.809,9 ha
- Rừng sản xuất : 8.093,4 ha
23
- Đất ngập nước nội địa (hồ Trị An) : 32.400,0 ha
Bảng 2.1: Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp Khu BTTN
TT Loại đất, loại rừng Tổng (ha)
Theo quy hoạch 3 loại
rừng
ĐD SX
Diện tích tự nhiên 100.303,3 59.809,9 8.093,4 32.400,0
I Đất lâm nghiệp 67.903,3 59.809,9 8.093,4
1 Đất có rừng 57.034,3 53.482,6 3.551,7
1.1 Rừng tự nhiện 52.241,1 50.861,3 1.379,8
1.2 Rừng trồng 4.793,2 2.621,3 2.171,9
2 Đất chưa có rừng 4.253,6 3.559,8 693,8
3 Đất khác trong LN 6.615,4 2.767,5 3.847,9
II Đất khác ngoài LN 32.400,0 32.400,0
(Nguồn: Khu BTTN, 2010)
2.1.1. Đặc điểm kinh tế xã hội
Theo số liệu điều tra năm 2008, dân cư sinh sống trong Khu BTTN gồm
5.413 hộ – 24.518 khẩu, theo đơn vị hành chính như sau:
- Xã Mã Đà : 1.725 hộ - 7.959 khẩu, dân cư phân bố thành 7 ấp
- Xã Hiếu Liêm: 1.036 hộ - 4.930 khẩu, dân cư phân bố thành 4 ấp
- Xã Phú Lý : 2.652 hộ - 11.629 khẩu, dân cư phân bố thành 9 ấp
Ngoại trừ các hộ dân tộc Ch’ro là dân bản địa tại xã Phú Lý, đa phần dân cư
từ nhiều địa phương trong cả nước đến cư trú với nhiều hình thức khác nhau. Đa số
là dân tộc Kinh: 5.132 hộ (94,8%), còn lại là các dân tộc Hoa, Ch’ro, Khơ Me, Tày
và dân tộc khác.
Tổng số lao động trong độ tuổi lao động là 14.673 người. Trong đó lao động

25
lao động có trình độ văn hoá trung học phổ thông, không qua đào tạo chuyên môn
kỹ thuật, lao động chân tay là chính.
2.2.2.2. Thực trạng kinh tế xã hội trong khu vực
a) Sản xuất nông nghiệp
- Trồng trọt
Nông nghiệp là ngành sản xuất chính, có khoảng 90-95% người dân sống
bằng nghề nông. Dân cư trên địa bàn gồm nhiều thành phần từ mọi miền đất nước đến
sinh cơ lập nghiệp nên tập quán canh tác đa dạng mang màu sắc của nhiều vùng miền
khác nhau. Hệ thống canh tác trong vùng đang chuyển dịch từ sản xuất độc canh sang
xen canh giữa các loài cây ngắn ngày với cây dài ngày, giữa cây lương thực với cây ăn
trái… Các loài cây trồng lâu năm chủ yếu các loại xoài (Xoài ba mùa, Xoài cát Hòa
lộc, Xoài tượng), điều và một số diện tích không lớn trồng một số cây ăn quả khác
như: Nhãn, chôm chôm, sầu riêng, cà phê, cam, quýt, tiêu… Cây màu chủ yếu là
mỳ, bắp, đậu.
Cây điều chiếm tỷ lệ tương đối trong số nông sản hàng hoá của địa phương.
Tuy nhiên, vì đất xấu, giống cây trồng không rõ nguồn gốc, không đảm bảo chất
lượng và thiếu đầu tư thâm canh nên năng suất thấp. Cây xoài đa phần là giống Xoài
ba mùa, nhanh thu hoạch, năng suất cao (7 – 9 tấn/ha) nhưng chất lượng và giá bán
thấp. Từ khoảng năm 2000 đến nay, một số hộ dân đã chủ động phát triển giống xoài
có chất lượng cao hơn như: Xoài cát Hòa lộc, Xoài Thái Lan… do vậy giá trị của vườn
cây cũng được nâng lên.
Diện tích thuần cây ngắn ngày không lớn, cây trồng chủ yếu là mì; diện tích
trồng mì chù yếu là trồng xen trên diện tích trồng cây dài ngày và rừng trồng trong
các năm đầu.
- Chăn nuôi
Chăn nuôi là ngành sản xuất đem lại nguồn thu quan trọng, nhưng hoạt động
chăn nuôi trong vùng còn chậm và kém phát triển, không cân đối với ngành trồng
trọt. Hình thức chăn nuôi chủ yếu phát triển theo hướng chăn nuôi hộ gia đình, vật


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status