ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
ĐẶNG CÔNG HOÀN Nâng cao khả năng cạnh tranh của hệ thống
ngân hàng thương mại Việt Nam trong tiến
trình hội nhập kinh tế quốc tế
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
8
1.2
Cạnh tranh và các yếu tố tác động tới khả năng cạnh tranh……
15
1.2.1
Lý luận cơ bản về cạnh tranh và cạnh tranh ngân hàng……………
15
1.2.2.
Tiền đề cơ bản tạo thành cơ chế cạnh tranh trong lĩnh vực hoạt
động của
NHTM.….………………………………………………………
20
1.2.3
Nhận diện đối thủ cạnh tranh của
NHTM…………………….……
23
1.3
Kinh nghiệm quốc tề về nâng cao khả năng cạnh tranh………
27
1.3.1
Tổng quan về những tác động của HNKTQT……………………
27
1.3.2
Kinh nghiệm của một số nước……………………………………
30
1.3.3.
Một số bài học rút ra cho Việt Nam……………………………….
34
61
2.2.5
Khả năng giám sát và điều tiết ……………………………… ….…
63
2.2.6
Cơ sở hạ tầng-mạng
64
2
lưới…………………………………………
2.2.7
Hiệu quả hoạt động chung của hệ thống……………………………
65
2.3.
Phân tích nguyên nhân khả năng cạnh tranh yếu và các giải pháp đã
thực hiện………………………………………………….
67
2.3.1.
Nguyên nhân nặng lực cạnh tranh
yếu……………………… ……
67
2.3.1.1
Môi trường kinh doanh còn nhiều khiếm khuyết……………….……
67
2.3.1.2
Sự can thiệp của chính
phủ….…………………………………………
68
2.3.1.3
2.3.2.4
Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý……………………………………………
81
2.3.2.5
Phát triển nguồn nhân lực…………………………………….……….…
82
2.3.2.6
Các chính sách vĩ mô khác………………………………………………
83 Chương 3.
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC
CẠNH TRANH CỦA HỆ THỐNG NHTM ……………………
86
3.1
Những cam kết căn bản về
HNKTQT…………………………
86
3.2
Cơ hội và thách thức ……………………………………………
89
3.2.1
Cơ hội……………………………………………………………….
89
3.2.2
Những thách thức cơ bản……………………………………………
4
THUẬT NGỮ VÀ MỘT SỐ TỪ VIẾT TẮT ADB
AFTA
APEC
Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại quốc doanh
Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Tổ chức tín dụng
Thị trường chứng khoán
Ngân hàng Thế giới
Tổ chức thương mại thế giới
Diễn đàn Kinh tế thế giới
Chương trình Phát triển Liên hợp Quốc
Hội nghị liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển
Đồng đôla Mỹ
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Gần 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới, nền kinh tế đất nước đang
từng bước phát triển theo hướng thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Nền
kinh tế đang từng bước được mở cửa, đa dạng và đa phương hoá các quan hệ
kinh tế, hướng ra thị trường bên ngoài theo một tư duy từ “rộng mở” đến “là
bạn”, từ đa dạng hoá, đa phương hoá đến là “đối tác tin cậy”. Trong bối cảnh
hiện nay,toàn cầu hoá kinh tế đang diễn ra mãnh mẽ, theo đó các nền kinh tế
định lộ trình tham gia thị trường Việt Nam của các Ngân hàng Mỹ: Trong thời
gian 9 năm (đến năm 2009) sẽ cho phép thành lập các Ngân hàng có 100% vốn
của Mỹ và thực hiện hoạt động huy động vốn không hạn chế tại nước ta.
Đứng trước những thực tế đặt ra của lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế của
nền kinh tế Việt Nam, một yêu cầu cấp thiết là phải năng cao khả năng cạnh
tranh của hệ thống ngân hàng nhằm vừa hỗ trợ hiệu quả cho các doanh nghiệp
trong nền kinh tế vươn ra bên ngoài vừa làm cơ sở đảm bảo sự độc lập tương
đối của nền kinh tế đất nước. Các ngân hàng cần phải có những sự đột phá
trong việc tái cơ cấu về vốn, tổ chức, lĩnh vực kinh doanh, quan điểm kinh
doanh nhằm nâng cao sức cạnh tranh khi có sự tham gia của các ngân hàng
nước ngoài mạnh hơn hẳn về tiềm lực tài chính và công nghệ. Hệ thống NHTM
Việt Nam dù đã có nhiều sự đổi mới nhưng hiện tại vẫn còn nhiều bất cập, khả
năng cạnh tranh chưa cao và còn tồn tại nhiều vấn đề cần phải được xử lý dứt
điểm.
Trước thực trạng đó, tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài “Nâng cao khả năng
cạnh tranh của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong tiến trình hội
nhập kinh tế quốc tế” làm luận văn thạc sĩ và triển khai nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu.
Nghiên cứu nhằm tìm ra những giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh
của một ngành kinh tế đặc biệt như ngành ngân hàng là một vấn đề khó. Trên
thế giới đã có những công trình nghiên cứu của các học giả các nước liên quan
tới việc đánh giá lợi thế, bất lợi thế, các chiến lược đang sử dụng của hệ thống
ngân hàng thương mại của các nền kinh tế đang nổi trong tiến trình hội nhập
3
kinh tế quốc tế như: Robert E. Litan, Paul Masson, Micheal Pomerleano
(2001), Open Door Foreign Particcipation in Financial Systems in Developing
Countries, Brookings Institution Press-washington, D.C; các công trình nghiên
cứu của: WB, IFM…Tuy nhiên các công trình của những học giả này là
nghiên cứu thực tế từ nước họ với cơ cấu kinh tế và điểm xuất phát không
- Nhận diện các khía cạnh trong năng lực cạnh tranh của hệ thống ngân
hàng thương mại Việt Nam.
- Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ
thống ngân hàng thương mại trong tiến trình hội nhập Kinh tế quốc tế.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Khả năng cạnh tranh và các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh
của hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài chỉ tập trung vào nghiên cứu và đề ra giải pháp nhằm nâng cao
năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại dưới góc độ khả cạnh tranh
ngành và cạnh tranh doanh nghiệp.
- Về không gian: Luận văn chủ yếu nghiên cứu năng lực cạnh tranh của
các Ngân hàng thương mại cổ phần và Ngân hàng thương mại Nhà nước. Đồng
thời luận văn có khảo sát một số khía cạnh cạnh tranh của hệ thống ngân hàng
của các nền kinh tế thuộc thị trường đang nổi trong quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế.
- Về thời gian: Luận án chỉ xem xét thực trạng về năng lực cạnh tranh
của của hệ thống Ngân hàng thương mại trong giai doạn 1999-2003
5. Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình phân tích, luận văn sử dụng lý thuyết kinh tế học, kết
hợp với phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm phương pháp
chủ yếu. Bên cạnh đó, trên cơ sở nghiên cứu mô hình cạnh tranh về lĩnh vực
dịch vụ của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) để xem xét các nhân tố trong nền
kinh tế ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của hệ thống ngân hàng thương mại.
Luận văn cũng sử dụng mô hình phân tích theo ma trận SWOT để đánh giá
5
năng lực cạnh tranh bên trong của các ngân hàng thương mại. Ngoài ra, luận
văn cũng sử dụng các phương pháp khác như: thống kê, tổng hợp, phân tích,
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HNKTQT.
1.1.1. Quan niệm cơ bản về toàn cầu hoá và HNKTQT
Đã từ nhiều năm trở lại đây, toàn cầu hoá đã trở thành một xu hướng phổ
biến của của xã hội loài người. Cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học
kỹ thuật và công nghệ, toàn cầu hoá đang được nhìn nhận như là một chỉnh thể
của sự tương tác giữa các khía cạnh kinh tế, văn hoá, an ninh cũng như môi
trường. Có thế nói rằng cũng như sự đa dạng của đời sống xã hội loài người,
toàn cầu hoá trở thành một khái niệm phổ biến, “một khái niệm nhiều mặt vì nó
bao quát cả lĩnh vực kinh tế, xã hội và chính trị” hay là quá trình tăng lên mạnh
mẽ những mối liên hệ, sự ảnh hưởng, sự tác động lẫn nhau của tất cả các khu
vực của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của các quốc gia, dân tộc trên thế
giới.
Trong sự đa dạng, nhiều khía cạnh của toàn cầu hoá, thì toàn cầu hoá
kinh tế và HNKTQT trở thành một khái niệm phổ biến của thế giới bởi tầm
quan trọng và tính quyết định của sản xuất kinh tế đến tất thảy các khía cạnh
khác của xã hội loài người. Từ góc độ sản xuất, toàn cầu hoá kinh tế được hiểu
như là “khuynh hướng gia tăng các sản phẩm có các bộ phận cấu thành được
chế tạo ở một loạt nước”22, 117 hoặc từ góc độ liên kết sản xuất và thị
trường, nhiều học giả đã quan niệm: “toàn cầu hoá kinh tế là sự liên kết các yếu
tố sản xuất giữa các nước với nhau dưới sự bảo trợ hoặc sở hữu của các công ty
xuyên quốc gia và sự liên kết các thị trường hàng hoá và tài chính được thuận
lợi bởi quá trình tự do hoá” 6, hoặc theo góc độ phát triển, chương trình phát
triển liên hợp quốc UNDP quan niệm: “toàn cầu hoá bao hàm sự làm sâu sắc
quá trình quá trình quốc tế hoá, tăng cường khía cạnh chức năng phát triển và
làm yếu đi khía cạnh lãnh thổ của sự phát triển đó”. Hoặc từ góc độ phạm vi và
cấu trúc, các nhà kinh tế UNCTAD lại cho rằng “toàn cầu hoá kinh tế và hội
nhập quốc tế liên quan đến các luồng giao lưu không ngừng tăng lên của hàng
7
hoá và nguồn lực vượt qua biên giới giữa các quốc gia cùng với sự hình thành
8
HNKTQT, bên cạnh những dòng di dân, hàng hoá dịch vụ thì sự dịch chuyển
của dòng vốn-tài chính là hết sức mạnh mẽ, dòng vốn di chuyển được thể hiện
rất nhiều dạng mà điển hình là FDI đã xoá nhoà một cách tương đối biên giới
của các quốc gia và khu vực.
Tóm lại, tác động của toàn cầu hoá kinh tế đang trở nên phổ biến rộng
khắp trên khắp thế giới, thể hiện trên nhiều cấp độ, mọi quốc gia, khu vực. Bên
cạnh đó, sự tác động của nó cũng không giống nhau đối với các nhóm nước
khác nhau trong đó những tác động của toàn cầu hoá kinh tế và HNKTQT đến
hệ thống ngân hàng tài chính của các quốc gia, nhất là những đang phát triển,
đã và đang là một trong nhưng vấn đề nổi cộm đang nhận được quan tâm của
hầu hết các quốc gia trong tiến trình HNKTQT.
1.1.2. Vai trò của hệ thống ngân hàng trong quá trình HNKTQT
Trong quá trình toàn cầu hoá và HNKTQT, hệ thống ngân hàng vừa là
đối tượng vừa là tác nhân thúc đẩy. Vai trò của hệ thống ngân hàng trong quá
trình này đã có những thay đổi quan trọng mặc dù nó vẫn đảm nhiệm các chức
năng cơ bản như trước đây.
1.1.2.1. Vai trò trung gian tài chính.
NHTM trước hết là những doanh nghiệp kinh doanh một loại hàng hoá
và dịch vụ đặc biệt: tiền tệ. NHTM thực hiện các nghiệp vụ chủ yếu là chuyển
tiết kiệm thành đầu tư, gắn kết hai chủ thể trong nền kinh tế: (1) các cá nhân và
tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu (tức là chi tiêu vượt quá thu nhập) và vì thế
là những người cần bổ sung vốn, họ có cơ hội tạo ra lợi nhuận nhưng thiếu
vốn; và (2) các cá nhân và tổ chức thặng dư trong chi tiêu (tức là thu nhập hiện
tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hoá, dịch vụ). Họ có tiền để tiết
kiệm và tìm kiếm cơ hội để khoản tiết kiệm đó sinh lời nhiều hơn. NHTM sẽ
đứng giữa làm chức năng trung chuyển các khoản tiền giữa hai loại chủ thể
này. Qua hệ thống các NHTM, sự không đồng bộ về khối lượng và thời hạn sử
dụng đồng vốn giữa hai chủ thể sẽ được khắc phục, chi phí giao dịch sẽ giảm đi
do lợi thế kinh tế nhờ quy mô. Kết quả là cả người tiết kiệm và người cần huy
vai trò này thông qua việc: (i) Lựa chọn và thẩm định các dự án vay vốn, đặt
giá cho các dự án vay theo mức độ rủi ro của từng dự án; (ii) giám sát việc sử
dụng đồng vốn để ngăn chặn các hành vi rủi ro đạo đức và có biện pháp xử lý
10
hợp lý kịp thời khi các khoản vay có dấu hiệu xấu; (iii) thu hút tiền gửi của
khách hàng với mức lãi suất phù hợp với độ rủi ro của từng NHTM. Điều này
tạo động lực giữ cho mức rủi ro của mình thấp để tránh bị rút tiền ra hoặc bị đòi
lãi suất tiền gửi ở mức cao. Cơ chế này tự động tạo ra sự phân bổ nguồn lực
vốn khan hiếm có hiệu quả.
- NHTM sẽ nơi cung cấp nguồn cho vay chủ yếu đối với tiêu dùng cá
nhân. Khi nền kinh tế mở cửa và phát triển, không chỉ các doanh nghiệp có nhu
cầu vốn lớn, nhu cầu vay vốn để phục vụ các mục đích tiêu dùng cá nhân của
người dân như: mua nhà, mua ôtô, trả học phí du học nước ngoài, vay vốn để
kinh doanh cá thể…cũng tăng lên. Thông qua các NHTM, các cá nhân một mặt
được gửi tiền tiết kiệm an toàn và sinh lợi mặc khác được vay vốn theo hình
thức trả góp để thực hiện các mục đích. Các khoản tín dụng tiêu dùng cá nhân
vay từ NHTM có tác dụng điều hoà chất lượng cuộc sống qua các giai đoạn
khác nhau, theo đó năng lực thu nhập của mỗi cá nhân cũng khác nhau. Các cá
nhân có thể cải thiện cuộc sống, nâng cao phúc lợi cũng sẽ là nhân tố thúc đẩy
sự phát triển của xã hội. Đặc biệt đối với các nước đang phát triển, vai trò trung
gian tài chính phục vụ cá nhân trong giai đoạn hiện nay đã biến chuyển theo
hướng mở rộng, không những là nơi thực hiện việc nhận gửi tiết kiệm như
trước đây mà còn là một tổ chức cung cấp các khoản vay tiêu dùng lớn cho
người dân.
- Bên cạnh đó, thông qua hệ thống các NHTM, chính phủ của các quốc
gia có thể sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ, góp phần ổn định lành
mạnh nền kinh tế. Thông qua việc thực hiện các chính sách tiền tệ, chính phủ
thực hiện điều chỉnh việc phân bổ nguồn lực một cách hợp lý, phát huy thế
mạnh của các ngành sản xuất, hạn chế những yếu kém, nâng cao khả năng cạnh
đang ngày càng lớn dần lên cùng với sự hội nhập sâu hơn của các quốc gia vào
nền kinh tế thế giới.
Ngày nay, để việc thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi
phí, ngân hàng đưa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh
toán bằng séc, uỷ nhiệm chi, thanh toán nhờ thu, thu chi hộ, quản lý tiền mặt,
các loại thẻ, cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và thanh
12
toán tiền giấy khi khách hàng cần. Các ngân hàng còn thực hiện việc thanh toán
bù trừ cho nhau thông qua ngân hàng trung ương hoặc các trung tâm thanh
toán. Công nghệ thanh toán qua NHTM càng đạt hiệu quả cao khi quy mô sử
dụng công nghệ đó càng được mở rộng. Vì vậy, công nghệ thanh toán hiện đại
qua ngân hàng thường được các nhà quản lý doanh nghiệp áp dụng rộng rãi.
Nhiều hình thức thanh toán được chuẩn hoá góp phần tạo tính thống nhất trong
thanh toán không chỉ giữa các ngân hàng trong một quốc gia mà còn giữa các
ngân hàng trên toàn thế giới. Các trung tâm thanh toán quốc tế được thiết lập đã
làm tăng hiệu quả thanh toán qua ngân hàng, biến ngân hàng trở thành trung
tâm thanh toán quan trọng và có hiệu quả, phục vụ đắc lực cho nền kinh tế toàn
cầu.
Sẽ là thiếu sót nếu không nói đến vai trò của các NHTM nội địa trong
hoạt động thanh toán quốc tế. Thông qua hệ thống thanh toán quan hệ thống
SWIT toàn cầu, các hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp nội địa với
các doanh nghiệp nước ngoài đều được thực hiện thanh toán qua các NHTM.
Thông lệ chung của quốc tế là vậy, các hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư…đều
phải thực hiện qua hệ thống ngân hàng theo các phương thức và các nghiệp vụ
L/C, T-T, nhờ thu v.v chứ không bao giờ thực hiện bằng cách trao đổi hiện vật
như những thế kỷ trước. Với những vai trò là những trung gian thanh toán quốc
tế, hoạt động này của các NHTM chính là “cầu nối ” giữa các doanh nghiệp
trong nước với thế giới bên ngoài trong tiến trình hội nhập.
1.1.2.3. Vai trò giám sát kỷ luật và đảm bảo an ninh tài chính.
do hoá tài chính. Hậu quả của những nguyên nhân này sẽ là sự đổ vỡ hệ thống
ngân hàng, gây ra những thiệt hại trong nền kinh tế. ”12
Việc xây dựng được một NHTM nội địa vững mạnh sẽ là nhân tố chủ
chốt trong việc đảm bảo an ninh tài chính. Đặc biệt đối với các nước đang phát
triển, hệ thống NHTM nếu có sức cạnh tranh tốt, tình hình tài chính vững mạnh
sẽ là chỗ dựa quan trọng trong việc đảm bảo an ninh tài chính cho nền kinh tế
đất nước. Các NHTM hoạt động minh bạch sẽ giảm thiểu hiện tượng lũng đoạn
tài chính, hạn chế tình trạng đầu cơ rửa tiền trong nền kinh tế. Thông qua vai
trò trung gian tài chính của NHTM, các cơ quan pháp quyền có thể thực hiện
kiểm soát tài chính đảm bảo hoạt động lành mạnh, giảm thiểu tình trạng hoạt
14
động của nền kinh tế ngầm vốn là hiện tượng khá phổ biến trong nền kinh tế
các nước đang phát triển.
Cũng cần thêm nói rằng, trong tiến trình HNKTQT, NHTM sẽ vẫn là
nhân tố quan trọng góp phần giám sát kỷ luật tài chính, giữ gìn kỷ cương phép
nước trong toàn xã hội. Đặc biệt các chính sách kinh tế vĩ mô và kích cầu của
chính phủ cũng được thực hiện thông qua các công cụ lãi suất, dữ trữ bắt
buộc…sẽ được thực hiện điều chỉnh thông qua các NHTM từ đó tác động lên
các doanh nghiệp và nền kinh tế.
1.1.2.4. Tạo ra môi trường cho việc thực hiện chính sách tiền tệ của
NHTW.
Trong HNKTQT, với việc được hoạt động trên nguyên tắc của cơ chế
kinh tế thị trường và phù hợp với thông lệ quốc tế, hệ thống NHTM sẽ hoạt
động ngày càng lành mạnh và hiệu quả hơn, những NHTM có chính sách kinh
doanh và lộ trình hội nhập phù hợp sẽ phát triển, còn những NHTM khác làm
ăn kém hiệu quả sẽ bị sát nhập hoặc giải thể theo đúng quy luật thị trường.
Chính điều này là nhân tố quan trọng tạo điều kiện cho việc HNKTQT của nền
kinh tế nhanh chóng. Hơn nữa khi đã hoạt động theo quy luật của thị trường,
thông qua các công cụ của chính thị trường, NHTM chính là cầu nối cho việc
competition) được hiểu, định nghĩa khác nhau qua những trường phái kinh tế
khác nhau.
Đầu tiên, những người theo trường phái Trọng nông đã phát hiện ý nghĩa
của cạnh tranh thông qua sự biến động giá cả. Theo quan điểm của họ thì “giá
tự nhiên” bao hàm lao động chứa trong sản phẩm và địa tô. Một khi trên thị
trường xuất hiện một đột biến nào đó thì giá cả trên thị trường có thể chênh
lệch với “giá tự nhiên” ít nhất là trong ngắn hạn. Khi đó, cạnh tranh sẽ đóng vai
trò tích cực trong việc điều chỉnh lượng/bên cung và làm cho giá thị trường trở
lại mức của “giá tự nhiên”.
Các nhà kinh tế thuộc trường phái Cổ điển cho rằng: cạnh tranh là một
quá trình bao gồm các hành vi phản ứng. Quá trình này tạo ra trong mỗi thành
viên trong thị trường một dư địa hoạt động nhất định và mang lại cho mỗi
thành viên một phần xứng đáng so với khả năng của mình. Quan niệm này thực
chất là vũ khí của trường phái Cổ điển nhằm hạ bệ trường phái Trọng thương,
16
có mục đích đả phá "bàn tay hữu hình - nhà nước", nâng cao vai trò, vị thế của
"bàn tay vô hình- những quy luật thị trường trong đó có cạnh tranh". Theo quan
điểm thời đó, cạnh tranh chủ yếu là cạnh tranh về giá, do vậy học thuyết về giá
được gắn chặt với học thuyết về cạnh tranh. Mô hình cạnh tranh của trường
phái Cổ điển mà dại diện là Adam Smith có thể được hiểu như một quá trình
điều phối không có hay ít có sự điều khiển của Nhà nước. Tuy nhiên, mô hình
cạnh tranh này đòi hỏi Nhà nước phải tạo ra và đảm bảo một trật tự pháp lý
làm khung khổ, nhằm điều tiết quá trình cạnh tranh hoặc có thể cung cấp hàng
hóa công cộng ”21.
Trong thập niên 1920, một số nhà kinh tế như Chamberlin và Robinson
đã nhận thấy ràng, trên thực tế không thể tồn tại tình trạng cạnh tranh hoàn hảo,
vì vậy phải tìm ra mô hình cạnh tranh gần sát với thực tế hơn. Trong hoàn cảnh
đó, mô hình cạnh tranh không hoàn hảo hoặc cạnh tranh mang tính độc quyền
đã ra đời. Nội dung của khái niệm cạnh tranh này được đề cập rộng hơn, bao
đề giành lợi thế về giá cả hàng hoá- dịch vụ (mua và bán), và đó là con đường,
phương thức để giành lấy lợi nhuận cao cho các chủ thể kinh tế". Nhà nghiên
cứu Nguyễn Tiến Triển (1996) cho rằng: " mục đích trực tiếp của các hoạt
động cạnh tranh trên thị truờng của các chủ thể kinh tế là giành những lợi thế
để hạ thấp giá cả các yếu tố "đầu vào" của các chu trình sản xuất- kinh doanh
và nâng cao giá cả "đầu ra" sao cho mức chi phí thấp nhất nhưng có thể giành
được mức lợi nhuận cao nhất"”21.
Ba khái niệm cạnh tranh kế trên chưa thực sự đầy đủ đặc biệt là các khái
niệm của 2 học giả Việt Nam. Bởi vì như trên đã đề cập, có một số hình thức
cạnh tranh không chỉ bằng giá mà còn các nhân tố khác nữa.
Tóm lại, ở mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau thì quan niệm và nhận thức về
vấn đề cạnh tranh là không giống nhau, ở phạm vi và các cấp độ áp dụng khác
nhau. Tuy nhiên, xét theo quan điểm tổng hợp, theo chúng tôi thì cạnh tranh là
quá trình kinh tế mà trong đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau, tìm mọi biện
pháp (cả nghệ thuật kinh doanh lẫn thủ đoạn) để đạt mục tiêu kinh tế chủ yếu
của mình như chiếm lĩnh, thị trường, giành lấy khách hàng cũng như đảm bảo
tiêu thụ có lợi nhất nhằm nâng cao vị thế của mình. Mục đích cuối cùng của
18
các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích: đối với
người kinh doanh là lợi nhuận, còn đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng.
1.2.1.2. Cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng.
- Khái niệm cạnh tranh ngân hàng
Hoạt động ngân hàng về bản chất là một hoạt động dịch vụ vì thế cạnh
canh ngân hàng chính là cạnh tranh kinh tế.
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về cạnh tranh ngân hàng. Theo từ
điển kinh doanh của Anh ( năm 1992) thì cạnh tranh ngân hàng tài chính
được xem là sự ganh đua, sự kình địch giữa các NHTM trên thị trường tiền tệ
nhằm phát huy tối đa lợi thế tranh giành thị phần và mở rộng khách hàng về
phía mình. Hoạt động tranh đua giữa các ngân hàng với nhau, giữa các ngân
một hoặc một vài ngân hàng này sẽ đưa lại lợi ích và sự lớn mạnh cho các ngân
hàng khác trong cùng hệ thống. Tuy đặc thù của NHTM những ảnh hưởng của
cạnh tranh có thể tác động tới sự ổn định của hệ thống, nhưng nếu cơ chế cạnh
tranh lành mạnh cùng với sự quản lý hợp lý từ phía nhà nước, cạnh tranh sẽ là
có lợi cho hệ thống. Nói cách khác, cạnh tranh lành mạnh là có tính huỷ diệt
sáng tạo, với một nghĩa nào đó cũng như quy luật tiến hoá trong tự nhiên, là
thải loại những thành viên yếu kém trên thị trường, duy trì và phát triển những
thành viên tốt nhất, và qua đó hỗ trợ đắc lực cho quá trình phát triển toàn xã
hội. Với ý nghĩa ban đầu, cạnh tranh là động lực của phát triển kinh tế và sự
lớn mạnh của ngành Ngân hàng, thể hiện trên các phương diện, khía cạnh
khác nhau:
+ Canh tranh giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng với
mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận: Với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, các ngân
hàng sẽ “chạy đua” để phấn đấu nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ phục vụ
khách hàng. Quy luật cạnh tranh buộc các ngân hàng phải luôn cải tiến quy
trình nghiệp vụ, hiện đại hoá công nghệ, cải tiến phương thức phục vụ khách
hàng nâng cao chất lượng dịch vụ. Trên bình diện từng ngân hàng, cạnh tranh
cũng tạo ra một sức ép buộc đội ngũ lao động phải luôn nâng cao chuyên môn
nghiệp vụ, kỹ năng lao động và quản lý, mặt khác đào thải các lao động không
thích ứng, theo kịp với các yêu cầu ngày càng cao của nền kinh tế thị trường.
20
+ Cạnh tranh giữa các ngân hàng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của
toàn bộ hệ thống trong việc phân bổ nguồn lực tài chính thông qua việc kích
thích các NHTM sử dụng các nguồn lực tối ưu nhất cũng như hạn chế được các
méo mó của thị trường. Quy luật cạnh tranh cũng sẽ buộc các NHTM phải
giám sát quá trình sử dụng vốn của khách hàng tạo ra sự an toàn trong hoạt
động cho vay, giảm thiểu tình trạng nợ xấu, nâng cao chất lượng tín dụng từ đó
tăng cường khả năng cạnh tranh của hệ thống NHTM nội địa trước sức ép cạnh
tranh của các Ngân hàng nước ngoài và của các định chế tài chính phi ngân