BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
KHOA KINH TẾ
ĐINH THANH HUYỀN NGHIÊN CỨU ĐỘNG CƠ CỦA KHÁCH
DU LỊCH NGA TẠI THÀNH PHỐ BIỂN NHA TRANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH DU LỊCH GVHD: Th.S LÊ CHÍ CÔNG
Nha Trang, năm 2013
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Họ và tên sinh viên: Đinh Thanh Huyền Lớp : 51KTDL-2
đạo đức và học hỏi kinh nghiệm thực tế cho đến khát vọng nghề nghiệp. Với
tất cả tấm lòng, em xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Nhà trường, Ban Chủ
nhiệm Khoa Kinh tế, Bộ môn Quản trị Du lịch cùng toàn thể quý thầy cô
Trường Đại học Nha Trang đã dìu dắt em trong suốt 4 năm qua. Đồng thời,
em xin biết ơn thầy Lê Chí Công, đã định hướng và tận tình chỉ dẫn trong quá
trình thực hiện đề tài cũng như hoàn thành khóa huấn luyện tốt nghiệp.
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn.
Nha Trang, ngày … tháng … năm 2013
Sinh viên thực hiện Đinh Thanh Huyền
ii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC BIỂU ĐỒ v
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1
1.1
Sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài
1
8
2.2.1.1 Du lịch nghỉ dưỡng 8
2.2.1.2 Du lịch kết hợp với công việc 9
2.2.1.3 Du lịch kết hợp với thăm người thân 11
2.2.1.4 Du lịch kết hợp với chữa bệnh 12
iii
2.2.1.5 Một số động cơ du lịch khác 14
2.2.2 Động cơ kéo (sức hấp dẫn điểm đến)
18
2.2.2.1 Tài nguyên du lịch 18
2.2.2.2 Sức hấp dẫn điểm đến du lịch biển 25
2.2.2.3 Chất lượng dịch vụ của điểm đến 27
2.3
Động cơ và ý định quay trở lại du lịch của du khách
29
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
3.1
Khái quát về tài nguyên du lịch Nha Trang
31
3.2
Tổng quan thị trường khách du lịch Nga
34
3.3
Đặc điểm tâm lý, nhu cầu và xu hướng đi du lịch của khách du lịch Nga
71
4.2 Kiến nghị
72
4.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo
76
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
iv
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Lượt khách Nga đến Nha Trang - Khánh Hòa 2
Bảng 3.1: Các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 37
Bảng 3.2: Lượt khách Nga và khách quốc tế đến Nha Trang 44
Bảng 3.3: Trung bình số ngày ở lại Nha Trang 46
trong mỗi lần đi du lịch của khách Nga 46
Bảng 3.4.1: Mối quan hệ giữa mục đích đi du lịch và ý định quay lại du lịch
Nha Trang trong tương lai 63
Bảng 3.4.2: Mối quan hệ giữa mục đích đi du lịch và ý định sẽ lựa chọn du
lịch tại Nha Trang nếu có điều kiện đi du lịch 65
Bảng 3.4.3: Mối quan hệ giữa mục đích đi du lịch và ý định sẽ giới thiệu cho
người khác đến du lịch Nha Trang trong tương lai 67
Bảng 3.4.4: Mối quan hệ giữa mục đích đi du lịch và ý định nói tốt về du lịch
Nha Trang với người khác 69 v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.4.1: Số lượt khách du lịch Nga đến Nha Trang 43
1.1 Sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài
Xã hội ngày càng phát triển, cuộc sống của con người ngày càng đầy đủ
cả vật chất lẫn tinh thần nên nhu cầu du lịch cũng không kém phần quan
trọng. Theo đó, ngành công nghiệp không khói ngày càng phát triển một cách
nhanh chóng với những loại hình du lịch hấp dẫn, phong phú, đáp ứng nhu
cầu hết sức đa dạng của khách du lịch.
Ở Việt Nam, trong suốt hơn 40 năm hình thành và phát triển, ngành du
lịch luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, ở mỗi thời kì đều xác định vị
trí của du lịch trong quá trình đổi mới của đất nước, như hiện nay thì du lịch
đã, đang và sẽ đạt được những thành quả hết sức to lớn, ngày càng tăng cả về
quy mô và chất lượng, dần khẳng định vai trò và vị trí của mình.
Đối với Nha Trang – Khánh Hòa, với tiềm năng và lợi thế của mình đã
đầu tư rất nhiều cho phát triển du lịch biển. Vì vậy, trong mắt khách du lịch
trong và ngoài nước, Nha Trang - Khánh Hòa đã trở thành một điểm đến an
toàn, nơi được ưu tiên lựa chọn khi quyết định đi du lịch Việt Nam của khách
quốc tế.
Chiến lược phát triển Du lịch Việt Nam đề ra mục tiêu đến năm 2020,
tầm nhìn 2030 thì thị trường khách du lịch Nga sẽ là một trong những thị
trường khách du lịch trọng điểm của Việt Nam. Điều này hoàn toàn phù hợp
với mối quan hệ hữu nghị hợp tác giữa hai quốc gia trong suốt thời gian dài.
Trong giai đoạn từ năm 2005 đến nay, số lượng khách du lịch Nga đến
Nha Trang – Khánh Hòa ngày càng tăng lên qua từng năm. Cụ thể, nếu như năm
2009 tổng lượt khách Nga đến du lịch Khánh Hòa là 19.959 lượt khách thì đến
năm 2012 đã tăng gấp 04 lần (82.992 lượt khách) (bảng 1.1). Kết quả này một
lần nữa khẳng định tính đúng đắn trong định hướng chiến lược phát triển du lịch
hướng vào thị trường khách du lịch Khánh Hòa trong thời gian tới.
2
Bảng 1.1 Lượt khách Nga đến Nha Trang - Khánh Hòa
Năm Lượt khách trong năm (lượt) So với năm trước (%)
- Đâu là các nhân tố ảnh hưởng đến động cơ du lịch của du khách Nga?
- Mối quan hệ giữa động cơ du lịch và ý định quay trở lại du lịch?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu về mặt lý thuyết là động cơ du lịch, ý định quay
trở lại của du khách.
- Khách thể nghiên cứu là khách du lịch Nga đi du lịch tại thành phố
biển Nha Trang.
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu thị trường khách du lịch Nga đến thành
phố Nha Trang – Khánh Hòa.
1.5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin: Đề tài sử dụng phương pháp chính là
điều tra, tổng hợp đối tượng khách du lịch Nga đến thành phố Nha Trang dựa
trên việc nghiên cứu, thông qua các phương pháp (phương pháp quan sát,
phương pháp phỏng vấn du khách, thu thập các dữ liệu thứ cấp).
- Phương pháp xử lý thông tin: Đề tài sử dụng phương pháp thống kê
để xử lý thông tin, đưa ra các nhận xét đánh giá và kết luận.
1.6 Ý nghĩa của nghiên cứu
- Hiểu được đặc điểm thị trường khách du lịch Nga đi du lịch Nha Trang
- Hiểu được động cơ du lịch của khách du lịch Nga khi đến thành phố
Nha Trang
4
- Gợi ý các kiến nghị chính sách giúp các doanh nghiệp và nhà quản lý
đưa có biện pháp hữu hiệu nhằm thu hút và đáp ứng nhu cầu của thị trường
khách du lịch Nga khi du lịch tại Nha Trang.
1.7 Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu và phần kết luận, đề tài bao gồm bốn chương chính đó là:
Chương 1: Giới thiệu
chí đánh giá chuyến thăm và là hệ quả trực tiếp của sự hài lòng của du khách
khi tham quan một điểm đến.
Động cơ đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá hành vi của cá
nhân, vì rằng cá nhân không bao giờ hành động một cách vô cớ, mỗi hành
động đều có những nguyên nhân của nó, có những yếu tố thúc đẩy con người
hành động. Do đó, khi xem xét hành vi của bất cứ cá nhân nào, người ta đều
quan tâm đến động cơ của hành động. Động cơ là hệ thống động lực điều
khiển bên trong cá nhân thúc đẩy cá nhân hành động để đạt được những mục
đích nào đó (Hồ Lý Long, Giáo trình tâm lý khách du lịch, tái bản lần thứ
nhất. NXB Lao động - Xã hội)
Động cơ du lịch là lý do của hành động đi du lịch nhằm thỏa mãn nhu
cầu, mong muốn của khách du lịch. Động cơ du lịch là nhân tố chủ quan
khuyến khích mọi người hành động. Động cơ du lịch chỉ nguyên nhân tâm lý
khuyến khích người ta thực hiện du lịch, đi du lịch tới nơi nào và thực hiện
loại du lịch nào (Trần Thị Mai và cộng sự, Giáo trình Tổng quan du lịch).
Như vậy, động cơ du lịch đã trở thành một tiền tố ảnh hưởng đến hành
vi du lịch và xác định các khía cạnh khác nhau của hoạt động du lịch hoặc lý
do để đi du lịch cũng như việc lựa chọn điểm đến cụ thể của du khách
(
Casta
n
˜
o, 2005; Ross & Iso-Ahola, 1991; Rubio, 2003; Wacker, 1996). 6
2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến động cơ du lịch
Các nghiên cứu hàm lâm trên thế giới chia các nhân tố ảnh hưởng động cơ
du lịch thành hai khía nhóm bao gồm: nhân tố tâm lý và nhân tố thuộc về nhân
khẩu học. Theo đó, nhân tố tâm lý sẽ tác động, thôi thúc con người tìm cái mới,
càng ổn định và thu nhập của họ cũng càng tốt, từ đó họ sẽ càng có nhiều nhu
cầu, động cơ đi du lịch hơn so với những người có trình độ học vấn thấp.
(4) Thu nhập: đây là chỉ tiêu quan trọng và là điều kiện vật chất để họ
có thể tham gia đi du lịch. Con người khi muốn đi du lịch không chỉ cần có
thời gian mà còn phải có đủ tiền để thực hiện mong muốn đó, vì khi đi du lịch
họ còn phải trả các khoản tiền như tiền tàu xe, tiền thuê phòng, tiền tham
quan, tiền tiêu dùng… Người có thu nhập trung bình thì họ chỉ thực hiện các
nhu cầu cơ bản (thiết yếu), nhưng khi họ có thu nhập cao, họ còn muốn
thưởng thức những cái mới lạ, cái đẹp, tự khẳng định mình…
(5) Tình trạng hôn nhân: những người độc thân có xu hướng đi du lịch
nhiều hơn những người đã lập gia đình vì đa số những đã người lập gia đình
phải chăm sóc con cái, chăm lo cho nhà cửa nhiều hơn, còn những người chưa
lập gia đình ít có điều gì phải vướng bận. Khi đó, những người độc thân
thường hướng đến việc tìm hiểu, khám phá, thích trải nghiệm…còn những
người đã lập gia đình thì chủ yếu là nghỉ ngơi, tham quan, du lịch mua sắm
hoặc tham gia các hoạt động giải trí cùng gia đình.
2.2 Các loại động cơ du lịch
Du khách đi du lịch với những động cơ khác nhau thì họ có những nhu
cầu và hành vi tiêu dùng khác nhau hơn nữa họ sẽ đòi hỏi những dịch vụ, cách
giao tiếp và phục vụ khác nhau. Kết quả của việc phân tích động cơ du lịch
của khách du lịch sẽ cho phép nhà quản lý kinh doanh có những biện pháp
nhằm khai thác và phục vụ tốt hơn.
Theo các nghiên cứu trên thế giới về động cơ du lịch, người ta chia
động cơ du lịch bao gồm hai nhóm đó là: động cơ đẩy và động cơ kéo. Theo
đó, động cơ đẩy là động cơ từ nội tại cá nhân du khách và họ tham gia du lịch
bởi các yếu tố nội bộ. Trong khi đó động cơ kéo là động cơ xuất phát từ lực
8
kéo từ bên ngoài (ví dụ, hình ảnh điểm đến, tài nguyên du lịch, (Uysal và
Jurowski, 1994).
Theo bình chọn của trang Du lịch của CNN (Travel.cnn.com), trong 9
khu nghỉ dưỡng đẹp nhất Biển Đông, Việt Nam có tới năm địa điểm được
bình chọn là Côn Đảo (tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu), đảo Phú Quý (tỉnh Bình
Thuận), đảo Cát Bà (thành phố Hải Phòng), khu nghỉ dưỡng thuộc Vinpearl
( Nha Trang) và khu nghỉ dưỡng Whale Island (Nha Trang), bên cạnh đó,
Trung Quốc có 2, Philippines và Malaysia mỗi nước cũng chỉ có 1 (Nguồn:
Nguyễn Thủy – “VN có 5 trong 9 khu nghỉ dưỡng đẹp nhất biển Đông”,
/>nhat-bien-dong-tpod.html
).
2.2.1.2 Du lịch kết hợp với công việc
Du lịch hiện nay không chỉ để đáp ứng nhu cầu tham quan, khám phá,
nghỉ dưỡng mà còn để đi công việc, công tác, tìm kiếm đối tác, phát triển thị
trường. Đây là lý do loại hình du lịch MICE, du lịch kết hợp với công việc -
viết tắt của 4 từ tiếng Anh: Meetings (hội họp), Incentives (khen thưởng),
Conventions/ Conferences (hội thảo/hội nghị), Events (sự kiện) ra đời. Đây
là loại hình du lịch được rất nhiều nước đẩy mạnh phát triển, vì giá trị của
loại dịch vụ này lớn hơn rất nhiều so với du lịch cá nhân hay du lịch nhóm.
Như chúng ta biết, MICE không phải là loại sản phẩm du lịch mới, nó
phát triển qua nhiều giai đoạn, theo nhận thức khác nhau của những người
làm du lịch. MICE được xem là sản phẩm du lịch tổng hợp của những sản
phẩm du lịch đơn lẻ kết hợp với việc tổ chức và hạ tầng cơ sở nhất định.
Hiện nay, du lịch MICE hay du lịch công vụ đang là xu thế phát triển của
nhiều ngành du lịch, được các quốc gia xác định là mục tiêu phát triển cho
toàn ngành du lịch, bởi giá trị của loại hình du lịch này đóng góp cho ngành
10
du lịch, cũng như toàn ngành kinh tế là rất lớn.
(Nguồn: Minh Quang, Việt Báo, “Phát triển du lịch MICE – Vì sao
không?”, />khong/20222364/87/)
Phần lớn khách hàng tham gia du lịch MICE là doanh nhân, thậm chí
Bên cạnh đó, có nhiều gia đình có người thân, người yêu, bạn bè, anh,
chị, em, họ hàng, cô dì, chú, bác, bố mẹ, con… ở đất nước khác, muốn thỏa
mãn cùng lúc 2 nhu cầu “vừa thăm thân nhân, vừa du lịch”, nhưng khi lần đầu
đặt chân đến một đất nước khác, lạ nước, lạ người, họ thường kỳ vọng sẽ
được người nhà dẫn đi tham quan, tìm hiểu khắp nơi. Nhưng phần lớn mọi gia
đình ở đây đều tất bật với chuyện mưu sinh hằng ngày, họ nghỉ ngơi vào các
dịp nhất định trong năm, còn những người lớn tuổi hoặc về hưu thì lại ngại đi
chơi xa vì lái xe rất nguy hiểm. Vì vậy, khi du khách đến vào những thời điểm
không phải là thời gian nghỉ ngơi của người dân ở đây thì họ chủ yếu sẽ chỉ ở
nhà hoặc tự mình đi như “cưỡi ngựa xem hoa”. Do đó, khi hiểu được tâm lý
của du khách, để đáp ứng mọi nhu cầu, đã có rất nhiều chương trình được
thiết kế đặc biệt riêng cho nhóm khách này được hình thành, đó là tour du
lịch, và du khách nên chọn đi theo theo hình thức này để dễ dàng, thuận tiện
cho mọi hoạt động tại những nơi xa lạ này. Ngoài việc sắp xếp, tư vấn lộ trình
sao cho tiết kiệm và hiệu quả nhất, tour du lịch còn hướng dẫn khách khai hồ
sơ xin visa rõ ràng, chi tiết. Khi đi theo đường tour, du khách sẽ ghé thăm
nhiều điểm du lịch để tham quan, tìm hiểu và khi kết thúc chương trình tour,
du khách có thể tách ra và ở lại thăm thân nhân cho đến hết hạn visa.
12
2.2.1.4 Du lịch kết hợp với chữa bệnh
Việc kết hợp chăm sóc sức khỏe bằng phương pháp du lịch nghỉ dưỡng
và chữa bệnh đã được thực hiện qua các thời kỳ từ Hy Lạp, La Mã cổ đại, các
triều đại phong kiến Trung Hoa và cho đến Việt Nam mà đối tượng phục vụ
là các tầng lớp quý tộc, quan lại trong xã hội cũ. Do đó, việc cho ra đời loại
hình du lịch chữa bệnh cũng là học từ người xưa. Và cho đến nay, trong bối
cảnh toàn cầu hóa cùng với việc tăng tuổi thọ và mức sống, bên cạnh nhu cầu
du lịch vui chơi giải trí, mong muốn đi du lịch để chăm sóc sức khỏe, chữa
bệnh trở thành nhu cầu thiết yếu của đại đa số nhiều người.
Vì loại hình du lịch này đáp ứng cả hai mục đích cùng một lúc: chữa
kết hợp nghỉ ngơi thư giãn, phục hồi sức khỏe, nhưng điểm đến này chưa
được định vị du lịch kết hợp chữa bệnh, mà chỉ là một phần giải trí trong một
chương trình du lịch.
Ngoài những ưu đãi đó, đã có một số nhà đầu tư bước chân vào thị
trường này, bệnh viện đa khoa Pháp - Việt, bệnh viện chuyên khoa tim Tâm
Đức (TP.HCM), hay mới đây nhất là bệnh viện Vinmec của Tập đoàn
Vingroup (Hà Nội) Các mô hình đầu tư này với cơ sở hạ tầng hiện đại, đội
ngũ y bác sỹ giỏi, có các chuyên gia nước ngoài cùng phối hợp chữa bệnh, đủ
khả năng phẫu thuật các ca khó như ghép tim, thận, nhưng để thu hút được
lượng khách trong nước cũng như quốc tế giống như các nước, Việt Nam vẫn
chưa thể làm được. Tại sao lại như vậy? Đó là do, Việt Nam vẫn chưa có một
chủ trương, chính sách nào về việc phát triển du lịch chữa bệnh, chưa thể định
vị được hình ảnh của mình trên thị trường du lịch chữa bệnh thế giới và chính
sự yếu kém trong khâu quảng bá thông tin và hình ảnh đã khiến cho du lịch
chữa bệnh nói riêng và ngành du lịch Việt Nam nói chung vẫn chưa đuổi kịp
các nước trong khu vực. Trong khi đó, Thái Lan đã nổi tiếng khắp thế giới
14
như là trung tâm chuyên về thẩm mỹ và chuyển đổi giới tính, còn Singapore hay
Malaysia được biết đến nhờ các phương pháp chữa bệnh hiện đại về tim mạch,
thần kinh hoặc điều trị bằng tế bào gốc. Cuối cùng là sự thiếu tin tưởng của bệnh
nhân đối với khả năng y học nước nhà cũng như chất lượng các dịch vụ đi kèm
chưa tốt đã hạn chế sự phát triển của thị trường du lịch chữa bệnh tại Việt Nam.
Theo thực tế, nhiều bệnh nhân trong nước vẫn ra nước ngoài để trị bệnh, hằng
năm có khoảng 40.000 người Việt ra nước ngoài để chữa bệnh, tốn xấp xỉ 1 tỉ
USD/năm, cho dù nhiều ca bệnh phức tạp đã được các bệnh viện Việt Nam thực
hiện thành công (theo số liệu của Bộ Y tế) (Nguồn: Hà Nguyễn, “Cơ hội của du
lịch chữa bệnh”,
/>chua-benh
).
những vùng sinh thái bị ô nhiễm, trồng thêm cây ở khu vực rừng ngập mặn
chống xói mòn…
Không chỉ thu hút nhóm đối tượng đã có công ăn việc làm với mức thu
nhập ổn định, hiện tại mô hình này còn thu hút các bạn học sinh, sinh viên
trong nước, cũng như quốc tế từ thị trường Úc, Mỹ, Nhật Bản,
Singapore…với số lượng tham dự mỗi đoàn từ 20 đến 300 người. Nếu đẩy
mạnh công tác quảng bá, tiếp thị, truyền thông, tổ chức tour tốt sẽ tạo được uy
tín rất lớn với khách nước ngoài, thu hút nhóm đối tượng này đến nước ta
nhiều hơn, bởi từ lâu, các đối tượng khách châu Âu, châu Mỹ thường thích
loại hình du lịch vì cộng đồng.
Bên cạnh đó, du lịch kết hợp với các hoạt động từ thiện đang được
nhiều hãng lữ hành uy tín như Vietravel tour, Vietran Tour, HanoiRedtours,
Saigon tourist…thiết kế và đưa vào khai thác với nhiều hình thức phong phú.
Dù chưa thực sự phát triển ở nước ta nhưng hình thức du lịch mang đậm tính
nhân văn này đã bước đầu nhận được sự quan tâm của cộng đồng như
16
Chương trình tham quan kết hợp từ thiện cho đồng bào vùng cao mang tên
“Áo ấm cho em” của Vietravel, Viện mắt Trung ương và một số đơn vị hảo
tâm thực hiện tại Hà Giang, Trao áo ấm mới cho trẻ em xã Nậm Xây huyện
Văn Bàn (Lào Cai) của nhóm phượt du lịch “Nguyen Art Gallery” quy tụ
nhiều người yêu nghệ thuật đang vận động chương trình “Vì một mùa đông
ấm áp”, hay anh Lại Văn Quân, thành viên nhóm “CLB Hạnh phúc” vừa thực
hiện chương trình mang áo ấm "Nậm Xây yêu thương" đã cùng bạn bè và
thầy thuốc các bệnh viện tổ chức phát động và quyên góp để thăm khám, chữa
bệnh, phát thuốc, tặng quà cho 100 cụ già và 100 em nhỏ có hoàn cảnh khó
khăn của xã Nậm Xây, huyện Văn Bản, tỉnh Lào Cai…trong khoảng thời gian
chuẩn bị cho chuyến đi, nhờ sự ủng hộ của rất nhiều tấm lòng hảo tâm đóng
góp tiền và hiện vật nên chương trình được thực hiện tốt hơn.
Do đó, trong tương lai, nếu loại hình du lịch này phát triển tốt thì không
trình này? Vì chương trình Teambuilding không giống như các chương trình,
các trò chơi tập thể thông thường, mà là một chuỗi những hoạt động được lên
kế hoạch cho phù hợp (về giới tính, độ tuổi, công việc, trình độ văn hóa…) và
đặc biệt quan trọng hơn cả là yêu cầu của khách hàng đòi hỏi phải đạt được
thông qua những hoạt động đã được trải nghiệm.
Trước làn sóng du lịch nhóm, hiện nay, các công ty du lịch phát triển
mạnh tour này phải kể đến như Vietravel, Saigontourist, Vitour, TST
TOURIST Năm 2011, Saigontourist phục vụ hơn 200.000 du khách quốc tế
(tăng hơn 60% so với năm 2010) với các chương trình du lịch thuần túy và du
lịch kết hợp hội nghị, teambuilding. 4 năm qua khách tham gia tour MICE kết
hợp teambuilding tại Vietravel tăng 30 - 40%, và TST TOURIST hàng năm
cũng tăng khá cao từ 30 - 35%
Tuy chương trình đang trên đà phát triển, nhưng khó khăn hiện nay đối
với việc tổ chức tour teambulding là đầu tư sáng tạo hệ thống sản phẩm phù
18
hợp với từng nhu cầu cho từng doanh nghiệp với hoạt động kinh doanh khác
nhau, văn hóa khác nhau. Bên cạnh đó, việc tổ chức cần phải được giám sát
chặt chẽ từ ý tưởng, triển khai và thực hiện. Thành công của sự kiện không
những tạo được uy tín cho doanh nghiệp lữ hành mà còn cho cả công ty, tập
đoàn tổ chức sự kiện.
2.2.2 Động cơ kéo (sức hấp dẫn điểm đến)
2.2.2.1 Tài nguyên du lịch
Tài nguyên hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các nguồn nguyên liệu,
năng lượng và thông tin trên trái đất và trong không gian vũ trụ mà con người có
thể sử dụng phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển của mình (Dương Hồng
Hạnh,
Tài nguyên được phân loại thành tài nguyên thiên nhiên gắn liền với
các nhân tố tự nhiên và tài nguyên nhân văn gắn liền với các nhân tố con
người và xã hội. Theo “Luật Du lịch” Việt Nam, tài nguyên du lịch được hiểu