Ảnh hưởng của giáo dục gia đình tới hành vi phạm tội của trẻ vị thành niên hiện nay nghiên cứu trường hợp tại Trường Giáo dưỡng số 02 Ninh Bình - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN CÙ THỊ THANH THỦY

Ảnh hưởng của giáo dục gia đình tới hành vi phạm tội
của trẻ vị thành niên hiện nay : nghiên cứu trường hợp
tại Trường Giáo dưỡng số 02 Ninh Bình

Luận văn ThS. Xã hội học
Mã số :60 31 30
Nghd. : PGS.TS. Vũ Hào Quang

MỤC LỤC.
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài 1 – 2
Mục đích – nhiệm vụ nghiên cứu 3
Đối tượng – khách thể – phạm vi nghiên cứu 3
Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết 4 – 5
Phương pháp nghiên cứu 6

BVCS&GDTE: Bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em
BCHTW: Ban chấp hành Trung ương
VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối
cao
CNH – HĐH: Công nghiệp hóa – Hiện đại hoá
THCS: Trung học cơ sở
PTTH: Phổ thông trung học
TTĐC: Truyền thông đại chúng
VPPL: Vi phạm pháp luật

Luận văn cao học xã hội học Cù Thị Thanh Thuỷ1
ẢNH HƢỞNG CỦA GIÁO DỤC GIA ĐÌNH TỚI HÀNH VI PHẠM TỘI
CỦA TRẺ VỊ THÀNH NIÊN HIỆN NAY.
( Nghiên cứu trƣờng hợp tại trƣờng Giáo dƣỡng số 02 – Ninh Bình)

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài.
Trong một vài năm trở lại đây, tình trạng trẻ vị thành niên phạm tội ngày
càng tăng, tính chất phạm tội ngày càng phức tạp và nghiêm trọng. Chính trong
bối cảnh đất nƣớc đang nỗ lực cố gắng thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH -
HĐH, xây dựng đời sống nhân dân ấm no - hạnh phúc thì tình hình phạm tội của
trẻ em lứa tuổi vị thành niên đã gây ra những cản trở rất lớn. Thực trạng này đã
và đang đặt ra những bức xúc, lo lắng không chỉ cho riêng từng gia đình mà còn
đối với toàn xã hội. Nhiều vụ án hình sự mà lực lƣợng công an khám phá gần
đây cho thấy sự hiện diện của nhiều băng nhóm tuổi đời rất nhỏ nhƣng gian
manh không hề thua kém ngƣời lớn. Chỉ tính riêng năm 2000, cả nƣớc có 11.538

dục gia đình tới hành vi phạm tội của trẻ vị thành niên hiện nay” để nghiên
cứu với mục đích thông qua các kết quả nghiên cứu sẽ mô tả đƣợc những mặt
ảnh hƣởng tiêu cực của giáo dục gia đình tới hành vi phạm tội của trẻ vị thành
niên, từ đó đề ra một số giải pháp góp phần nâng cao hơn vai trò, vị trí cũng nhƣ
tính tích cực của gia đình trong việc giáo dục thế hệ trẻ sống có ích và lành mạnh
theo đúng nghĩa "Thanh niên là rƣờng cột của quốc gia". Luận văn cao học xã hội học Cù Thị Thanh Thuỷ3

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
2.1. Mục đích nghiên cứu.
Tìm hiểu mặt tác động tiêu cực của giáo dục gia đình tới những biểu hiện
nhân cách lệch lạc của trẻ vị thành viên. Làm rõ nguyên nhân dẫn đến hành vi
phạm tội của trẻ vị thành niên dƣới góc độ giáo dục của gia đình từ đó đƣa ra

4. Giả thuyết nghiên cứu và sơ đồ tƣơng quan giữa các biến.
4.1. Giả thuyết nghiên cứu.
- Môi trƣờng văn hóa – xã hội bị biến đổi bởi tác động tiêu cực của nền kinh tế
thị trƣờng. Môi trƣờng giáo dục gia đình cũng không nằm ngoài sự tác động
đó. Một bộ phận gia đình không có thời gian, điều kiện để quan tâm đến con
cái, họ sao nhãng và phó thác việc nuôi dạy con cái cho các thiết chế xã hội
khác, họ dần đánh mất vai trò của mình trong việc chăm sóc giáo dục con
cái. Đó là những nguyên nhân quan trọng dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật
của trẻ vị thành niên.
- Do hạn chế về mặt nhận thức nên một số gia đình đã không có đƣợc cách
thức, phƣơng pháp giáo dục con cái một cách khoa học và những cách quan
tâm đúng mức, điều này cũng gây ra những phản ứng và hành vi tiêu cực ở
con cái.
4.2. Sơ đồ tƣơng quan giữa các biến.
1. Biến số độc lập.
Đặc điểm gia đình.
 Địa bàn cƣ trú.
 Nghề nghiệp chính của bố mẹ.
 Trình độ học vấn của bố mẹ.
 Tình trạng hôn nhân của bố mẹ.
 Mức sống (thu nhập).
 Số con trong gia đình.
2. Biến phụ thuộc.
Ảnh hƣởng của giáo dục gia đình tới hành vi phạm tội của trẻ vị thành
niên.
3. Biến trung gian.
- Môi trƣờng Kinh tế.
- Môi trƣờng Văn hoá - xã hội.
Luận văn cao học xã hội học Cù Thị Thanh ThuỷGiáo dục
nhận
thức

Giáo dục
thái
độ
Giáo dục
hành
vi
Ảnh
hưởng
của giáo
dục gia
đình tới
hành vi
phạm tội
của trẻ vị
thành
niên
Đặc điểm gia
đình

- Địa bàn cư trú

dục gia đình, trẻ em.
5.2. Phƣơng pháp nghiên cứu.
* Phương pháp định lượng.
Thu thập thông tin bằng bảng Anket. Đề tài điều tra trên mẫu 150 trẻ vị
thành niên ở trƣờng giáo dƣỡng số 02 – Ninh Bình theo phƣơng pháp chọn mẫu
điển hình chia theo 02 cấp độ tuổi (dƣới 15 tuổi và từ 15 tuổi đến dƣới 18 tuổi).
Số phiếu hợp lệ thu về là 143 phiếu. Kết quả xử lý bằng SPSS 13.0.
* Phương pháp định tính.
- Phỏng vấn sâu: Đề tài tiến hành 20 cuộc phỏng vấn sâu trong đó 03 cuộc đối
với giáo viên trƣờng Giáo dƣỡng số 02, 10 đối với trẻ vị thành niên ở trƣờng
giáo dƣỡng, 07 đối với một số gia đình có con em phạm tội đang ở trong trƣờng
Giáo dƣỡng.
- Quan sát: Quan sát thái độ, hành vi của trẻ vị thành niên trong trƣờng Giáo
dƣỡng. Thái độ của phụ huynh khi nhận xét về con cái họ.
- Phân tích - tổng hợp đối với những tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu
để có đƣợc cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn, so sánh đối chiếu với những thông
tin thu thập đƣợc.

Luận văn cao học xã hội học Cù Thị Thanh Thuỷ7
6. Kết cấu luận văn.
- Phần mở đầu.
- Phần nội dung chính.
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài.
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu.
1.2 . Thao tác hoá các khái niệm.
1.3 . Các lý thuyết, quan điểm của các nhà xã hội học vận dụng để nghiên cứu.
1.4 . Quan điểm của Đảng - Nhà nƣớc về giáo dục gia đình với trẻ em.

1. Tổng quan tình hình nghiên cứu.
Giáo dục trong gia đình là một mảng đề tài đƣợc nhiều nhà nghiên cứu
khai thác từ trƣớc đến nay.
Thứ nhất, xin đề cập đến một số công trình nghiên cứu liên quan đến vấn
đề giáo dục trong gia đình.
Viết về những ảnh hƣởng của tƣ tƣởng Nho giáo trong giáo dục gia đình,
tác phẩm " Nho giáo và gia đình" của Giáo sƣ Vũ Khiêu (1995) đã mô tả đƣợc
những mặt tích cực và tiêu cực của Nho Giáo trong cách giáo dục các thành viên,
hình thành nhân cách cho con trẻ. Tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến văn hoá trong
gia đình. Công trình nghiên cứu " Gia đình và giáo dục gia đình" ( Trần Đình
Hƣợu) cho thấy tầm quan trọng của gia đình trong việc giáo dục con ngƣời, nhất
là với trẻ em. Gia đình chính là nơi nuôi dƣỡng và để lại những ấn tƣợng sâu
đậm nhất trong cuộc đời mỗi ngƣời.
Tác giả Đặng Cảnh Khanh với nghiên cứu về " Vai trò của gia đình
trong việc giáo dục các giá trị truyền thống cho thanh thiếu niên" đã đặc biệt
nhấn mạnh đến vai trò của gia đình đối với việc giáo dục các giá trị truyền thống.
Trong đó tác giả cũng đã chỉ ra sự biến đổi những chuẩn mực gia đình dƣới sự
biến đổi của nền kinh tế thị trƣờng hiện nay.
Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu " Giáo dục gia đình với trẻ
em phạm pháp" (Phạm Thanh Vân ), " Mục tiêu giáo dục của gia đình thành
phố" của Lê Quang Thƣởng, "Giáo dục luật pháp trong gia đình" của Lê Thị
Quý Những tài liệu trên đƣợc xem là dữ liệu vô cùng quý báu giúp ta có đƣợc
những cơ sở bƣớc đầu trong việc so sánh, đối chiếu và tổng hợp.
Thứ hai, xin nêu một số khảo cứu, một số đề tài khoa học Xã hội học về
giáo dục gia đình đối với thanh thiếu niên.
Luận văn cao học xã hội học Cù Thị Thanh Thuỷ9
Theo nghiên cứu của Trần Bạch Đằng về " Thay đổi môi trƣờng nhân
10
đã tập trung làm rõ những nguyên nhân từ giáo dục gia đình dẫn đến các thói hƣ
tật xấu của trẻ em. Các gia đình ở thành phố bị cơn lốc của nền kinh tế thị trƣờng
cuốn hút, họ không có điều kiện để quan tâm đến các con, tự đánh mất những giá
trị đích thực của gia đình, một bộ phận dân cƣ không bắt kịp với những tiến bộ
thời đại, không tiếp biến các giá trị văn hoá mới vào gia đình nên đã kìm hãm sự
phát triển của trẻ em, tạo ức chế và dẫn đến phản ứng - hành vi tiêu cực không
phù hợp với chuẩn mực xã hội.
Trong cuốn tài liệu nghiên cứu về " Công tác xã hội với trẻ em làm trái
pháp luật " (Trần Đức Châm - UBDSGĐ &TEVN - 2004) đã chỉ ra thực trạng
đáng báo động về tội phạm chƣa thành niên, tỉ lệ này có xu hƣớng tăng nhanh và
tăng mạnh ở đô thị. Đề cập đến nguyên nhân của tình trạng trẻ vị thành niên làm
trái pháp luật ở nƣớc ta có nguyên nhân từ phía gia đình. Hiện nay nhiều gia đình
chƣa làm tròn trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với con cái, họ sống thiếu
gƣơng mẫu và phƣơng pháp giáo dục không đúng cách đã làm cho con cái họ
thiếu những phẩm chất đạo đức, xã hội tốt đẹp. Và qua nghiên cứu thực tế số trẻ
vị thành niên làm trái pháp luật ở một số trƣờng giáo dƣỡng cho thấy: phần lớn
những em phạm tội ở đây đều gặp phải những vấn đề trong gia đình nhƣ gia đình
không đầy đủ bố mẹ, gia đình lục đục, có ngƣời nghiện hút, cờ bạc, phạm tội đi
tù, các em hoặc đƣợc nuông chiều quá mức hoặc bị đối xử một cách hà khắc, bị
dì ghẻ, cha dƣợng đánh đập.
Luận án" Nguồn gốc xã hội của việc vi phạm pháp luật ở ngƣời chƣa
thành niên hiện nay" của tác giả Hồ Diệu Thuý đã có một chƣơng nói về những
nhân tố tác động tới hành vi phạm pháp của ngƣời chƣa thành niên, trong đó
nhân tố đƣợc đề cập đến là môi trƣờng giáo dục trong gia đình, sự thiếu hụt về
quản lý, giám sát và nuôi nấng, dạy bảo con cái trong gia đình cũng là nguồn gốc
của việc vi phạm pháp luật ở ngƣời chƣa thành niên.
Luận án Tiến sỹ “ Tội phạm ở tuổi vị thành niên tại thành phố Hồ Chí

1.2. Các khái niệm công cụ.
1.2.1. Trẻ vị thành niên.
Trẻ vị thành niên là một giai đoạn trong cuộc đời mỗi con ngƣời. Đây là
giai đoạn đánh dấu sự chuyển đổi từ trẻ con sang ngƣời lớn xét cả về mặt tâm lý
xã hội và nhận thức.
Luận văn cao học xã hội học Cù Thị Thanh Thuỷ12
Tuỳ thuộc vào đặc điểm lãnh thổ quốc gia, từng giai đoạn lịch sử và cách
tiếp cận của mỗi ngành nghiên cứu mà khái niệm trẻ vị thành niên có những cách
định nghĩa, phân chia không giống nhau.
ERIK ERICKSON trong lý thuyết tâm lý xã hội của mình đã xếp vị thành
niên là giai đoạn thứ 5 trong số 8 giai đoạn phát triển nhân cách con ngƣời. Ông
cho rằng giai đoạn này đƣợc tính từ khi trẻ dậy thì đến 20 tuổi, “ Sự phát triển cơ
thể và sự chín muồi giới tính nhanh chóng đã tạo ra một cuộc cách mạng sinh
lý” trong các em, tựa nhƣ chúng đang đứng bên bờ của tuổi ngƣời lớn, chúng tìm
kiếm một cảm giác về bản sắc riêng của mình, một tính liên tục và đồng nhất với
bản thân nó, đồng thời tránh sự rối nhiễu vai trò có thể hình thành trong con
ngƣời trẻ tuổi – một con ngƣời không chịu học hỏi để thành ngƣời” [3, tr 21,22].
Theo định nghĩa chính thức của Liên hợp Quốc thì trẻ vị thành niên là
những ngƣời từ 10 đến 19 tuổi. Định nghĩa này cũng giống với định nghĩa của tổ
chức Y tế thế giới (WHO).
Theo Từ điển Tiếng Việt: “ Trẻ vị thành niên là ngƣời chƣa đến tuổi
trƣởng thành, chƣa đƣợc pháp luật công nhận là công dân” [4, tr1261].
Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì trẻ vị thành niên là khái niệm đƣợc dùng
để chỉ ngƣời “ chƣa đủ tuổi để đƣợc pháp luật công nhận là công dân” [5,
tr1814].
Theo công ƣớc của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em quy định: “ Trong
phạm vi công ƣớc này, trẻ em có nghĩa là ngƣời dƣới 18 tuổi, trừ trƣờng hợp luật

là giai đoạn hay xảy ra khủng hoảng về mặt tâm lý, rối nhiễu hành vi. Ở tuổi này
rất cần có sự uốn nắn, định hƣớng và quan tâm của gia đình, nhà trƣờng và xã
hội bởi những tính cách của tuổi mới lớn nhƣ tính hung hăng, cáu giận và nhất
là những cảm xúc giới tính phát triển rất dễ đẩy các em đến những hành động
tiêu cực, phạm pháp.
Mặc dù có rất nhiều cách phân biệt, phân chia các giai đoạn phát triển của
trẻ vị thành niên nhƣng nhìn chung: trẻ vị thành niên là những ngƣời chƣa đến
tuổi trƣởng thành và có độ tuổi dƣới 18 tuổi.
1.2.2. Khái niệm “ Tội phạm”.
Trong lịch sử xã hội loài ngƣời, tội phạm xuất hiện với tƣ cách là một hiện
tƣợng xã hội tiêu cực, ảnh hƣởng xấu đến đời sống văn hoá xã hội và an ninh
quốc gia. Tội phạm mang tính lịch sử và giai cấp. Khi xã hội càng phát triển thì
Luận văn cao học xã hội học Cù Thị Thanh Thuỷ14
loại hình và tính chất của tội phạm càng phức tạp và đa dạng hơn. Tuỳ vào mỗi
giai đoạn lịch sử và luật lệ mỗi quốc gia mà khái niệm về “ tội phạm” có sự khác
nhau.
Theo quy định của Bộ luật hình sự Việt nam tại điều 8 - chƣơng III ghi rõ
“Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội đƣợc quy định trong Bộ luật hình sự,
do ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý,
xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm
chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá quốc phòng, an ninh trật tự, an toàn
xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ,
danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền lợi ích hợp pháp khác của công
dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật.”.
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi đƣợc quy
định trong Bộ luật này, tội phạm đƣợc phân thành: Tội phạm ít nghiêm trọng, tội
phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm

Thực trạng phạm tội ở lứa tuổi vị thành niên đang là vấn đề bức xúc của
xã hội và của các nhà quản lý. Trong các Bộ luật quốc tế cũng nhƣ của mỗi quốc
gia, khi ban hành đều có những quy định cụ thể về những hình thức áp dụng,
cách giáo dục đối với trẻ vị thành niên phạm tội.
Ở mỗi nƣớc có những quy định khác nhau về tuổi chịu trách nhiệm hình
sự . Ví dụ: “ Tuổi chịu trách nhiệm hình sự ở Bănglađét là 7 tuổi, ở Ấn Độ là 7
tuổi, ở Myanma là 7 tuổi, ở Nigenia là 7 tuổi, ở Pakixtan là 7 tuổi, ở Nam phi là
7 tuổi, ở Xuđăng là 7 tuổi, ở Thái Lan là 7 tuổi, ở Mỹ là 7 tuổi, ở Inđônêxia là 8
tuổi, ở Kenya là 8 tuổi, ở Scottlen là 8 tuổi, ở Etiopia là 9 tuổi, ở Iran là 9 tuổi, ở
Philippin là 9 tuổi, ở Nepan là 9 tuổi, ở Anh là 10 tuổi, ở Ucraina là 10 tuổi, Thổ
Nhĩ Kỳ là 11 tuổi, ở Hàn Quốc là 12 tuổi, ở Maroc là 12 tuổi, ở Uganda là 12
tuổi, ở Angieri là 13 tuổi, ở Pháp 13 tuổi, ở Ba lan 13 tuổi, ở Udơbêkixtan là 13
tuổi, Trung Quốc là 14 tuổi, ở Đức 14 tuổi, Italia là 14 tuổi, Nhật Bản 14 tuổi,
Nga 14 tuổi, Ai cập 15 tuổi, Argentina 16 tuổi, Brazil 18 tuổi, Colombia 18 tuổi,
Peru 18 tuổi”.[9, tr 34].
Còn ở Việt Nam, theo quy định của pháp luật về tuổi chịu trách nhiệm
hình sự:
“1. Ngƣời từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.
Luận văn cao học xã hội học Cù Thị Thanh Thuỷ16
2. Ngƣời từ đủ 14 tuổi trở lên nhƣng chƣa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình
sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm
trọng”.[10, T21].
Trách nhiệm hình sự của ngƣời chƣa thành niên phạm tội đƣợc quy định
theo luật hình sự, đó là ngƣời chƣa đủ 18 tuổi thực hiện hành vi thỏa mãn các
dấu hiệu của cấu thành tội phạm đƣợc luật hình sự quy định. Nói cách khác,
ngƣời chƣa thành niên phạm tội là ngƣời đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực
hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự coi là tội phạm nhƣng chƣa đủ

pháp đƣợc quy định tại điều 60 của Bộ luật này ( nhƣ: giáo dục tại xã, phƣờng,
thị trấn, đƣa vào trƣờng giáo dƣỡng ). Và các hình thức này không bị xem xét là
án tích.
5. Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với ngƣời chƣa thành
niên phạm tội. Khi xử phạt thì có thời hạn, toà án cho ngƣời chƣa thành niên
phạm tội đƣợc hƣởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với ngƣời đã thành
niên phạm tội tƣơng ứng.
Không áp dụng hình phạt tiền đối với ngƣời chƣa thành niên phạm tội ở độ
tuổi từ 14 tuổi đến dƣới 16 tuổi.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với ngƣời chƣa thành niên phạm tội.
6. Án đã tuyên đối với ngƣời chƣa thành niên phạm tội khi chƣa đủ 16 tuổi
thì không tính đến để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm”.[10, tr 52,
54].
Nhƣ vậy, tội phạm tuổi vị thành niên là một hiện tƣợng, hành vi nguy
hiểm của xã hội. Điều này cho thấy việc cần thiết của sự giáo dục nhân cách và
định hƣớng hành vi cho các em nhằm hạn chế một cách tối đa số các em thực
hiện hành vi phạm tội.
1.2.4: Khái niệm “ Chuẩn mực xã hội” và “ Hành vi lệch chuẩn”.
Ở trong bất kỳ một xã hội nào cũng tồn tại một hệ thống các quy tắc, quy
định mang tính chất ràng buộc xã hội lớn. Hệ thống các quy tắc, quy định này có
thể tồn tại dƣới dạng thành văn hoặc bất thành văn nhằm mục đích kiểm soát xã
hội, điều chỉnh hành vi của các cá nhân, các nhóm xã hội để giữ đƣợc sự ổn định
đời sống xã hội. Đó đƣợc gọi là những chuẩn mực. Chuẩn mực thành văn là
những chuẩn mực đã đƣợc ghi chép dƣới dạng văn bản ví dụ nhƣ các điều luật.
Chuẩn mực bất thành văn là những chuẩn mực tồn tại dƣới dạng phong tục, tập
quán, đạo đức, lối sống
Luận văn cao học xã hội học Cù Thị Thanh Thuỷ18


19
- Kiểm soát xã hội từ bên ngoài: Dùng để bảo vệ trật tự khi mà quá trình xã hội
hoá không thành công, cá nhân không thể hoặc không muốn nội tâm hoá các giá
trị, chuẩn mực và quy tắc xã hội.
- Kiểm soát nội tâm: nhằm giữ gìn trạng thái thăng bằng của các tổ chức xã hội
và ổn định trật tự của xã hội. Nhằm mục tiêu là các hành vi phải đƣợc theo
những khuôn khổ xã hội chấp nhận. Để thực hiện một cách trọn vẹn các mục
đích đó, tất cả các thành viên của xã hội đó sẽ phải hành động trong một xã hội
mà các hoạt động đó đƣợc chấp nhận”.[13, tr 87].
Nhà xã hội học Travis Hirschi đã đƣa ra khái niệm “ Ràng buộc xã hội”
trong tác phẩm “ Các nguyên nhân của tội phạm”, ông cho rằng khi các cá nhân
tin tƣởng các giá trị và theo đuổi các mục tiêu nhằm đạt đƣợc sự thành đạt mà xã
hội thừa nhận thì họ sẽ ít phạm phải những hành động tội lỗi.
Từ khái niệm về chuẩn mực, ta có thể hiểu hành vi lệch chuẩn là những
hành vi không thực hiện theo các quy tắc đã đƣợc định sẵn, đi ngƣợc lại và làm
trái với chuẩn mực xã hội.
“ Lệch” có nghĩa là không phù hợp với sự mong đợi của xã hội hoặc một
nhóm xã hội.
Merton là ngƣời nghiên cứu rất sâu về các hành động sai lệch, ông cho
rằng “Hành động sai lệch nhƣ một dấu hiệu của việc tách rời giữa những mục
tiêu văn hoá đã định trƣớc với những biện pháp mang cấu trúc xã hội nhằm thực
hiện những mục tiêu này”.[14, tr 279].
Khi xem xét tính chất và mức độ lệch chuẩn của các hành vi phải đặt vào
hoàn cảnh xã hội cụ thể, trong các quy tắc sống tồn tại bởi vì một hành vi đƣợc
thừa nhận đúng đắn và đúng chuẩn mực trong thể chế này nhƣng rất có thể lệch
chuẩn và không đƣợc thừa nhận ở thể chế xã hội khác. Có 2 cấp độ lệch lạc:
- Sự lệch lạc cá nhân: Khi một cá nhân hành động lệch lạc một cách đơn độc
ra khỏi các quy tắc xã hội đã đƣợc xác lập và trong thực tế bác bỏ các quy tắc
đó.

Mác Werber định nghĩa “ Hành động có nghĩa là một thái độ của con
ngƣời (tự có), hành động bên trong hoặc bên ngoài, không đƣợc phép hoặc đƣợc
phép, khi và chỉ khi chủ thể gắn liền thái độ của mình với một ý nghĩa chủ quan.
Còn hành động xã hội lại là hành vi có định hƣớng ý nghĩa theo thái độ của
những ngƣời khác”.[14, tr157]. Nhƣ vậy ông nhấn mạnh đến động cơ bên trong
chủ thể nhƣ là nguyên nhân của hành động. Theo đó trong hành động xã hội bao
giờ cũng phải có sự tham gia của yếu tố ý thức.
Luận văn cao học xã hội học Cù Thị Thanh Thuỷ21
Không phải tất cả mọi hành động của con ngƣời đều đƣợc xếp là loại hành
vi, nó chỉ là hành vi khi ngƣời thực hiện hành động đó gắn với một ý nghĩa chủ
quan, tức là có sự tham gia của ý thức .
1.2.6: Khái niệm “ Gia đình”.
Gia đình đƣợc xem là tế bào của xã hội, là đơn vị cơ bản của xã hội và gia
đình là sản phẩm của lịch sử. Với tƣ cách là tế bào của xã hội, gia đình tác động
tích cực đến tiến trình phát triển của xã hội. “ Gia đình là tổ ấm thân yêu đem lại
hạnh phúc cho mỗi con ngƣời. Trong gia đình các cá nhân đƣợc bao bọc về mặt
vật chất và giáo dục về tâm hồn”.[16, tr 420].
Hiện nay tồn tại rất nhiều khái niệm “ Gia đình”.
Trƣớc hết, theo quan điểm của Spencer thì “ Gia đình là một thiết chế xã
hội, thiết chế này không những đáp ứng nhu cầu tái sản xuất xã hội mà còn phải
thoả mãn nhu cầu kiểm soát hoạt động duy trì nòi giống, quan hệ giữa phụ nữ và
nam giới và nhu cầu di truyền xã hội, nuôi dạy con cái và chăm sóc các thành
viên của gia đình”.[15, tr 111].
Gia đình là cầu nối giữa mọi thành viên trong gia đình và xã hội. Nhiều
thông tin về xã hội tác động đến con ngƣời thông qua gia đình.
Trải qua các chế độ xã hội và các giai đoạn phát triển khác nhau mà gia
đình có những nét đặc thù khác nhau.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status