Người lao động trong khu công nghiệp với việc tiếp cận dịch vụ hành chính công của chính quyền địa phương hiện nay (Nghiên cứu trường hợp khu công nghiệp Bắc Thăng Long, huyện Đông Anh, Hà Nội) - Pdf 41

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------

NGUYỄN THỊ YẾN

NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG KHU CÔNG NGHIỆP
VỚI VIỆC TIẾP CẬN DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG
CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƢƠNG HIỆN NAY
(Nghiên cứu trường hợp khu công nghiệp Bắc Thăng Long,
huyện Đông Anh, Hà Nội)

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

Hà Nội – 2016
1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------

NGUYỄN THỊ YẾN

NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG KHU CÔNG NGHIỆP
VỚI VIỆC TIẾP CẬN DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG
CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƢƠNG HIỆN NAY
(Nghiên cứu trường hợp khu công nghiệp Bắc Thăng Long,
huyện Đông Anh, Hà Nội)

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Xã hội học

CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG

CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG KHU CÔNG NGHIỆPError! Bookmark not defined.
2.1. Thực trạng sử dụng dịch vụ hành chính công của ngƣời lao động..... Error!
Bookmark not defined.
2.1.1. Nhận biết nơi làm các dịch vụ hành chính côngError! Bookmark not defined.
2.1.2. Việc sử dụng các dịch vụ hành chính côngError! Bookmark not defined.

2.1.3. Mức phí và thời gian làm các dịch vụ hành chính côngError! Bookmark not define
2.2. Mức độ hài lòng của ngƣời lao động với các dịch vụ hành chính công
....................................................................................... Error! Bookmark not defined.
3


2.3. Một số bất cập trong tiếp cận các dịch vụ hành chính công................. Error!
Bookmark not defined.
2.4. Mong muốn của ngƣời lao động với các thủ tục hành chính công...... Error!
Bookmark not defined.

2.4.1. Mong muốn tìm hiểu thông tin về thủ tục hành chính côngError! Bookmark not def

2.4.2. Mong muốn cải thiện chất lượng dịch vụ hành chính côngError! Bookmark not def
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG TỚI VIỆC TIẾP CẬN DỊCH VỤ
HÀNH CHÍNH CÔNG CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNGError! Bookmark not defined.
3.1. Nhóm các yếu tố từ phía ngƣời nhận dịch vụError!
defined.

Bookmark

not

nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, các khu công nghiệp, khu kinh tế phát triển
với tốc độ cao nên tình trạng di dân đến các khu công nghiệp ngày càng gia tăng.
Để sinh sống và hòa nhập thì người lao động cũng có nhu cầu lớn đối với các
dịch vụ hành chính công tại nơi cư trú, chẳng hạn: giấy tạm trú tạm vắng; hộ
khẩu; giấy khai sinh; bảo hiểm lao động…vv và nhiều loại giấy tờ khác. Song
trên thực tế, hiện nay việc tiếp cận của họ với các dịch vụ này vẫn còn nhiều trở
ngại và khó khăn nhất định, tình trạng bộ máy cồng kềnh, chức năng chồng chéo,
tính không công khai trong các thủ tục hành chính, năng lực chuyên môn, nghiệp
vụ của người cung ứng dịch vụ còn nhiều bất cập, hạn chế. Tình trạng bất bình
đẳng phân biệt đối xử trong việc tiếp cận dịch vụ vẫn còn khá phổ biến.
Cải cách dịch vụ hành chính công là một yêu cầu cấp thiết cho người lao
động, bởi nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công thể hiện rõ bản chất:
“Nhà nước của dân, do dân, vì dân” của Nhà nước ta.
5


Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011 – 2020 xác định
“Trọng tâm cải cách hành chính trong giai đoạn 10 năm tới là: cải cách thể chế;
xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, chú trọng
cải cách chính sách tiền lương nhằm tạo động lực thực sự để cán bộ, công chức,
viên chức thực thi công vụ có chất lượng và hiệu quả cao; nâng cao chất lượng
dịch vụ hành chính và chất lượng dịch vụ công”. Trong Nghị quyết Hội nghị lần
thứ 7 Ban Chấp hành Trung Ương Đảng khóa VIII (năm 1999) lần đầu tiên đề
cập đến khái niệm “dịch vụ công”. Nghị quyết còn yêu cầu “tiến hành từng bước
việc phân định rõ biên chế trong bộ máy hành chính với biên chế trong các đơn
vị sự nghiệp, kinh tế, dịch vụ công; thí điểm việc xã hội hóa một số lĩnh vực dịch
vụ, y tế, giáo dục, khoa học và hoạt động văn hóa, thể thao…trước hết là ở các
thành phố và các khu công nghiệp.
Khu công nghiệp Bắc Thăng Long là nơi thu hút rất nhiều người lao động
đến từ các tỉnh khác nhau trong cả nước. Có thể nói đây là một trong những khu

của người lao động
Nhằm tháo gỡ các khó khăn và hạn chế liên quan tới hành chính công, thì
với đề tài“Cải cách dịch vụ hành chính công ở Việt Nam” (thuộc chương trình
nghiên cứu: các giải pháp thúc đẩy cải cách hành chính ở Việt Nam) chủ nhiệm
đề tài là PGS.TS Lê Chi Mai. Đề tài đã phân tích thực trạng cung ứng các dịch vụ
hành chính công ở nước ta hiện nay, từ đó kiến nghị các giải pháp cải tiến việc
cung ứng dịch vụ này nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ nhân dân của bộ máy nhà
nước. Trong đề tài đã mô tả và làm rõ về mặt lý luận khái niệm và nội dung của
dịch vụ hành chính công. Đề tài tập trung nghiên cứu các dịch vụ hành chính
công do các cơ quan hành chính nhà nước cung ứng thông qua tiến hành khảo sát
thực tiễn cung ứng 7 loại dịch vụ hành chính công chủ yếu hiện nay (bao gồm
thu thuế, cấp giấy phép đầu tư nước ngoài, hải quan, công chứng, cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở, xuất nhập cảnh, giấy đăng ký
kinh doanh). Đề tài đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu phổ biến để đạt
được mục tiêu đề ra như là: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp,
phương pháp so sánh, phương pháp thống kê. Tuy nhiên, đề tài chưa đi sâu phân
tích việc người lao động nói riêng tiếp cận như thế nào với các dịch vụ hành
7


chính công đó cũng như có những yếu tố nào ảnh hưởng, khó khăn và thuận lợi
khi tiếp cận dịch vụ hành chính công.
Cùng với nội dung đổi mới hành chính công thì bài viết “Một số vấn đề
đổi mới quản lý dịch vụ công ở Việt Nam” của TS. Đặng Đức Đạm, phó trưởng
Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ. Với các trình bày chi tiết các khái
niệm có liên quan tới dịch vụ công ở nước ta, trong đó có hành chính công, hơn
nữa bài viết cũng nêu ra thực trạng, vấn đề và yêu cầu đổi mới quản lý dịch vụ
công. Hơn nữa bài viết cũng đề cập tới một số đổi mới chế độ tài chính đối với
dịch vụ công, tuy nhiên bài viết chưa làm rõ cụ thể các loại dịch vụ công hiện
nay, mặt khác cũng chưa đề cập tới việc tiếp cận các loại dịch vụ này như thế

Khả năng chuyển đổi vị trí làm việc của người lao động thấp. Mặc dù nghiên cứu
cũng đã chỉ ra một số khó khăn về quan hệ của người lao động với các cơ quan
chức năng của địa phương song nghiên cứu mới dừng lại ở việc mô tả sơ bộ khó
khăn, chưa đi sâu phân tích việc tiếp cận với các dịch vụ hành chính của địa
phương, mặt khác nghiên cứu chưa phân tích cụ thể được những nhu cầu, thực
trạng, cũng như các yếu tố ảnh hưởng tới việc tiếp cận dịch vụ hành chính công
hiện nay.
Di dân là một trong những vấn đề mà được nhiều nhà nghiên cứu quan
tâm, với đề tài cấp bộ: “Di dân tạm thời ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh”
do PGS.TS Lưu Bích Ngọc làm chủ nhiệm đề tài. Báo cáo đã phân tích và làm rõ
các nội dung có liên quan tới người lao động di cư tạm thời, đồng thời báo cáo
cũng đã ước lượng di cư tạm thời và dự báo dân số. Bên cạnh đó báo cáo cũng
chỉ ra được một số vấn đề kinh tế - xã hội của người di cư tạm thời, trong đó báo
cáo cũng đề cập đến mức độ hiểu biết và thực hành về một số quyền cơ bản của
người di cư hiện nay. Những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định di cư, báo cáo
cũng đề xuất một số giải pháp hạn chế giảm thiểu tiêu cực của di cư tạm thời
hiện nay. Với mẫu khảo sát tại hai địa bàn Hà Nội và TP. HCM, đây là hai trung
tâm kinh tế chính trị và văn hóa lớn nhất cả nước, với lợi thế là nơi tập trung đa
dạng nhiều ngành nghề, đã tạo điều kiện cơ bản để thu hút được một lực lượng
lao động lớn từ nông thôn ra thành thị. Kết quả khảo sát cho thấy có sự khác biệt
cơ bản giữa lao động ở Hà Nội và TP. HCM, mặc dù vậy, nghiên cứu mới đưa ra
9


những kết quả chung cho vấn đề di dân ở nước ta, việc tìm hiểu về việc tiếp cận
các dịch vụ xã hội của người di dân vẫn còn nhiều hạn chế, hơn nữa, đề tài mới
chỉ ra một số quyền cơ bản khi tiếp cận dịch vụ, chưa phân tích và làm rõ được
các nội dung liên quan tới việc tiếp cận dịch vụ hành chính công.
Cũng theo nghiên cứu và báo cáo tại các hội nghị Báo cáo viên do Ban
Tuyên giáo Trung ương yêu cầu, năm 2010 đã chỉ ra những xu hướng chính của

nước và các chủ thể khác có liên quan theo hướng phù hợp và hài hòa với các
tiêu chuẩn chung đã được thiết lập trong các văn kiện và đang được áp dụng ở
tầm quốc tế và khu vực. Tuy nhiên, cuốn sách mới đề cập tới các văn kiện quan
trọng về lao động di cư quốc tế. Chưa có nội dung liên quan tới quyền người lao
động di cư nội địa, vì vậy các vấn đề có liên quan như quyền dịch vụ xã hội cơ
bản, trong đó có dịch vụ hành chính công chưa được đề cập đến.
Bảo vệ các quyền lợi của người lao động nhập cư là một trong nhiệm vụ
quan trọng của Đảng Nhà nước và các ban ngành, vì vậy an sinh xã hội cho
người nhập cư là một trong những vấn đề được quan tâm. Bài viết “Nhập cư đô
thị và an sinh xã hội”, Xã hội học số 1 (93), 2006 của Phạm Quỳnh Hương đã
nêu ra vấn đề nhu cầu an sinh xã hội của người nhập cư; đổi mới và thực trạng an
sinh xã hội của người nhập cư; tăng cường tiếp cận an sinh xã hội cho người
nhập cư trong giai đoạn hiện nay; trong đó bài viết đi sâu vào thực trạng và việc
đổi mới an sinh xã hội, có đề cập tới khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội còn
nhiều hạn chế do không có đăng ký cư trú, điều này lại trở thành bài toán khó
không chỉ cho công cuộc xóa đói giảm nghèo mà còn khó khăn hơn cho bài toán
quản lý đô thị hiện nay. Tuy nhiên, bài viết chưa đi sâu vào phân tích được thực
trạng, yếu tố ảnh hưởng của người lao động khi tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản
nói chung và dịch vụ hành chính công nói riêng.
Việc cung ứng đầy đủ và đảm bảo các dịch vụ xã hội cơ bản của người lao
động tiếp tục được đề cập tới trong bài viết của Đặng Nguyên Anh & Nguyễn
Bình Minh, “Đảm bảo cung cấp dịch vụ xã hội cho người lao động nhập cư ở
thành phố, Tạp chí XHH số 3 (47), 1998. Với số liệu khảo sát “Di cư và sức
khỏe” (VNMHS97) do Viện Xã hội học (thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và
Nhân văn Quốc gia Việt Nam) thực hiện năm 1997 trong khuôn khổ dự án hợp
11


tác quốc tế do Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) tài trợ. Trung tâm đào tạo và
nghiên cứu dân số (Đại học Tổng hợp Brown, Hoa Kỳ) là cơ quan trợ giúp kỹ


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đặng Nguyên Anh (2005), Chiều cạnh giới của di dân lao động trong thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Tạp chí xã hội học số 2 (90)
2. Đặng Nguyên Anh & Nguyễn Bình Minh (1998), Đảm bảo cung cấp dịch vụ xã
hội cho người lao động nhập cư ở thành phố, Tạp chí xã hội học số 4 (64)
3. Nguyễn Đăng Dung, Phạm Hồng Thái, Vũ Công Giao (2011), Lao động di
trú trong pháp luật quốc tế và Việt Nam, sách chuyên khảo, Nxb Lao động xã
hội, Hà Nội.
4. Phạm Tất Dong – Lê Ngọc Hùng (Đồng chủ biên) (2001), “Xã hội học”, Nxb
Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr.129-144; tr.257-262
5. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 133
6. Phạm Quỳnh Hương (2006), Người nhập cư đô thị và an sinh xã hội, Tạp chí
Xã hội học số 1 (93)
7. Hà Thị Phương Tiến, Hà Quang Ngọc (2002), Lao động nữ di cư tự do nông
thôn – thành thị, Nxb Phụ nữ Hà Nội.
8. Lê Ngọc Hùng (2011), Lịch Sử và lý thuyết xã hội học, Nxb Đại học quốc gia
Hà Nội
9. Nguyễn Thị Bích Nga (2003), Việc làm và đời sống của người lao động theo
thời vụ từ nông thôn ra Hà Nội (Nghiên cứu trường hợp tại Hà Nội và xã Xuân
Thượng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định), Tạp chí xã hội học số 2 (82)
10. Phạm Văn Quyết, Nguyễn Quý Thanh (2011), Phương pháp nghiên cứu xã
hội học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
11. GS. Đoàn Trọng Truyền (chủ biên) (1999), Hành chính học đại cương, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 18
12. Viện Dân số và các vấn đề xã hội, trường Đại học Kinh tế Quốc dân, báo cáo
“Di dân tạm thời ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh”, PGS. TS Lưu Bích
Ngọc chủ nhiệm đề tài, năm 2014
13

http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Viet-nam14


tren-duong-doi-moi/Cai-cach-hanh-chinh/2013/23256/Tuan-tin-cai-cachhanh-chinh-tu-ngay-19-den-ngay-2582013.aspx, truy cập ngày 26/8/2013
21. Khu

công

nghiệp

Việt

Nam,

định

hướng



chính

sách,

khucongnghiep.com.vn,http://khucongnghiep.com.vn/dinhhuong/tabid/65/arti
cleType/ArticleView/articleId/1429/Nhn-li-5-nm-pht-trin-cc-KCN-KKT.aspx,
truy cập ngày 08/09/2015
22. Khái niệm tiếp cận,
http://tratu.soha.vn/dict/vn_vn/Ti%E1%BA%BFp_c%E1%BA%ADn,
23. Báo cáo số 2184/BC-BNV của Bộ trưởng Bộ Nội vụ ngày 25/06/2013 về


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------

NGUYỄN THỊ YẾN

NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG KHU CÔNG NGHIỆP
VỚI VIỆC TIẾP CẬN DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG
CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƢƠNG HIỆN NAY
(Nghiên cứu trường hợp khu công nghiệp Bắc Thăng Long,
huyện Đông Anh, Hà Nội)

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

Hà Nội – 2016
1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------

NGUYỄN THỊ YẾN

NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG KHU CÔNG NGHIỆP
VỚI VIỆC TIẾP CẬN DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG
CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƢƠNG HIỆN NAY
(Nghiên cứu trường hợp khu công nghiệp Bắc Thăng Long,
huyện Đông Anh, Hà Nội)

1.2.2 Lý thuyết lựa chọn hành vi hợp lý ....... Error! Bookmark not defined.
1.3. Sơ lƣợc về địa bàn nghiên cứu ......................... Error! Bookmark not defined.
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG

CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG KHU CÔNG NGHIỆPError! Bookmark not defined.
2.1. Thực trạng sử dụng dịch vụ hành chính công của ngƣời lao động..... Error!
Bookmark not defined.
2.1.1. Nhận biết nơi làm các dịch vụ hành chính côngError! Bookmark not defined.
2.1.2. Việc sử dụng các dịch vụ hành chính côngError! Bookmark not defined.

2.1.3. Mức phí và thời gian làm các dịch vụ hành chính côngError! Bookmark not define
2.2. Mức độ hài lòng của ngƣời lao động với các dịch vụ hành chính công
....................................................................................... Error! Bookmark not defined.
3


2.3. Một số bất cập trong tiếp cận các dịch vụ hành chính công................. Error!
Bookmark not defined.
2.4. Mong muốn của ngƣời lao động với các thủ tục hành chính công...... Error!
Bookmark not defined.

2.4.1. Mong muốn tìm hiểu thông tin về thủ tục hành chính côngError! Bookmark not def

2.4.2. Mong muốn cải thiện chất lượng dịch vụ hành chính côngError! Bookmark not def
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG TỚI VIỆC TIẾP CẬN DỊCH VỤ
HÀNH CHÍNH CÔNG CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNGError! Bookmark not defined.
3.1. Nhóm các yếu tố từ phía ngƣời nhận dịch vụError!
defined.

Bookmark

trở lên có hơn bốn phần năm (81,7%) tham gia vào lực lượng lao động [12].
Cùng với việc gia nhập WTO, Việt Nam đang bước vào thời kỳ công
nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, các khu công nghiệp, khu kinh tế phát triển
với tốc độ cao nên tình trạng di dân đến các khu công nghiệp ngày càng gia tăng.
Để sinh sống và hòa nhập thì người lao động cũng có nhu cầu lớn đối với các
dịch vụ hành chính công tại nơi cư trú, chẳng hạn: giấy tạm trú tạm vắng; hộ
khẩu; giấy khai sinh; bảo hiểm lao động…vv và nhiều loại giấy tờ khác. Song
trên thực tế, hiện nay việc tiếp cận của họ với các dịch vụ này vẫn còn nhiều trở
ngại và khó khăn nhất định, tình trạng bộ máy cồng kềnh, chức năng chồng chéo,
tính không công khai trong các thủ tục hành chính, năng lực chuyên môn, nghiệp
vụ của người cung ứng dịch vụ còn nhiều bất cập, hạn chế. Tình trạng bất bình
đẳng phân biệt đối xử trong việc tiếp cận dịch vụ vẫn còn khá phổ biến.
Cải cách dịch vụ hành chính công là một yêu cầu cấp thiết cho người lao
động, bởi nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công thể hiện rõ bản chất:
“Nhà nước của dân, do dân, vì dân” của Nhà nước ta.
5


Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011 – 2020 xác định
“Trọng tâm cải cách hành chính trong giai đoạn 10 năm tới là: cải cách thể chế;
xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, chú trọng
cải cách chính sách tiền lương nhằm tạo động lực thực sự để cán bộ, công chức,
viên chức thực thi công vụ có chất lượng và hiệu quả cao; nâng cao chất lượng
dịch vụ hành chính và chất lượng dịch vụ công”. Trong Nghị quyết Hội nghị lần
thứ 7 Ban Chấp hành Trung Ương Đảng khóa VIII (năm 1999) lần đầu tiên đề
cập đến khái niệm “dịch vụ công”. Nghị quyết còn yêu cầu “tiến hành từng bước
việc phân định rõ biên chế trong bộ máy hành chính với biên chế trong các đơn
vị sự nghiệp, kinh tế, dịch vụ công; thí điểm việc xã hội hóa một số lĩnh vực dịch
vụ, y tế, giáo dục, khoa học và hoạt động văn hóa, thể thao…trước hết là ở các
thành phố và các khu công nghiệp.


Các nghiên cứu về thực trạng tiếp cận dịch vụ hành chính công
của người lao động
Nhằm tháo gỡ các khó khăn và hạn chế liên quan tới hành chính công, thì
với đề tài“Cải cách dịch vụ hành chính công ở Việt Nam” (thuộc chương trình
nghiên cứu: các giải pháp thúc đẩy cải cách hành chính ở Việt Nam) chủ nhiệm
đề tài là PGS.TS Lê Chi Mai. Đề tài đã phân tích thực trạng cung ứng các dịch vụ
hành chính công ở nước ta hiện nay, từ đó kiến nghị các giải pháp cải tiến việc
cung ứng dịch vụ này nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ nhân dân của bộ máy nhà
nước. Trong đề tài đã mô tả và làm rõ về mặt lý luận khái niệm và nội dung của
dịch vụ hành chính công. Đề tài tập trung nghiên cứu các dịch vụ hành chính
công do các cơ quan hành chính nhà nước cung ứng thông qua tiến hành khảo sát
thực tiễn cung ứng 7 loại dịch vụ hành chính công chủ yếu hiện nay (bao gồm
thu thuế, cấp giấy phép đầu tư nước ngoài, hải quan, công chứng, cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở, xuất nhập cảnh, giấy đăng ký
kinh doanh). Đề tài đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu phổ biến để đạt
được mục tiêu đề ra như là: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp,
phương pháp so sánh, phương pháp thống kê. Tuy nhiên, đề tài chưa đi sâu phân
tích việc người lao động nói riêng tiếp cận như thế nào với các dịch vụ hành
7


chính công đó cũng như có những yếu tố nào ảnh hưởng, khó khăn và thuận lợi
khi tiếp cận dịch vụ hành chính công.
Cùng với nội dung đổi mới hành chính công thì bài viết “Một số vấn đề
đổi mới quản lý dịch vụ công ở Việt Nam” của TS. Đặng Đức Đạm, phó trưởng
Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ. Với các trình bày chi tiết các khái
niệm có liên quan tới dịch vụ công ở nước ta, trong đó có hành chính công, hơn
nữa bài viết cũng nêu ra thực trạng, vấn đề và yêu cầu đổi mới quản lý dịch vụ
công. Hơn nữa bài viết cũng đề cập tới một số đổi mới chế độ tài chính đối với

nhập; Cùng một nhóm nghề nhưng thu nhập của nam cao hơn nữ, do chi tiêu cá
nhân của nam cao hơn nên số tiền gửi về gia đình của nam và nữ tương đương;
Khả năng chuyển đổi vị trí làm việc của người lao động thấp. Mặc dù nghiên cứu
cũng đã chỉ ra một số khó khăn về quan hệ của người lao động với các cơ quan
chức năng của địa phương song nghiên cứu mới dừng lại ở việc mô tả sơ bộ khó
khăn, chưa đi sâu phân tích việc tiếp cận với các dịch vụ hành chính của địa
phương, mặt khác nghiên cứu chưa phân tích cụ thể được những nhu cầu, thực
trạng, cũng như các yếu tố ảnh hưởng tới việc tiếp cận dịch vụ hành chính công
hiện nay.
Di dân là một trong những vấn đề mà được nhiều nhà nghiên cứu quan
tâm, với đề tài cấp bộ: “Di dân tạm thời ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh”
do PGS.TS Lưu Bích Ngọc làm chủ nhiệm đề tài. Báo cáo đã phân tích và làm rõ
các nội dung có liên quan tới người lao động di cư tạm thời, đồng thời báo cáo
cũng đã ước lượng di cư tạm thời và dự báo dân số. Bên cạnh đó báo cáo cũng
chỉ ra được một số vấn đề kinh tế - xã hội của người di cư tạm thời, trong đó báo
cáo cũng đề cập đến mức độ hiểu biết và thực hành về một số quyền cơ bản của
người di cư hiện nay. Những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định di cư, báo cáo
cũng đề xuất một số giải pháp hạn chế giảm thiểu tiêu cực của di cư tạm thời
hiện nay. Với mẫu khảo sát tại hai địa bàn Hà Nội và TP. HCM, đây là hai trung
tâm kinh tế chính trị và văn hóa lớn nhất cả nước, với lợi thế là nơi tập trung đa
dạng nhiều ngành nghề, đã tạo điều kiện cơ bản để thu hút được một lực lượng
lao động lớn từ nông thôn ra thành thị. Kết quả khảo sát cho thấy có sự khác biệt
cơ bản giữa lao động ở Hà Nội và TP. HCM, mặc dù vậy, nghiên cứu mới đưa ra
9


những kết quả chung cho vấn đề di dân ở nước ta, việc tìm hiểu về việc tiếp cận
các dịch vụ xã hội của người di dân vẫn còn nhiều hạn chế, hơn nữa, đề tài mới
chỉ ra một số quyền cơ bản khi tiếp cận dịch vụ, chưa phân tích và làm rõ được
các nội dung liên quan tới việc tiếp cận dịch vụ hành chính công.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status