ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THÚY VÂN
KHAI THÁC SẢN PHẨM DU LỊCH VĂN HÓA
VÙNG VEN BIỂN THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH HỌC Hà Nội, 2008
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Danh mục các ký hiệu viết tắt
Mở đầu
Ch ơng 1: Tài nguyên du lịch văn hóa vùng ven biển
Thanh Hóa .4
1.1 Một số khái niệm 3
1.2. Giới thiệu khái quát Thanh Hoá và vùng ven biển Thanh Hoá.10
1.3. Tài nguyên du lịch văn hóa tiêu biểu vùng ven biển Thanh Hoá 23
1.3.1. Tài nguyên du lịch văn hóa truyền thống 23
1.3.2. Tài nguyên du lịch văn hóa mang tính hiện đại 32
Tiểu kết ch ơng 1 34
Ch ơng 2: Thực trạng khai thác sản phẩm du lịch văn hóa
vùng ven biển Thanh Hoá36
2.1. Khái quát về hoạt động kinh doanh du lịch tỉnh Thanh Hoá và sản
phẩm du lịch văn hóa vùng ven biển Thanh Hóa36
2.1.1. Khái quát về hoạt động kinh doanh du lịch tỉnh Thanh Hóa 36
2.1.2. Khái quát sản phẩm du lịch văn hóa vùng ven biển.43
2.1.3. Các ch ơng trình du lịch khai thác yếu tố tài nguyên DLVH 49
iii
2.2. Thực trạng khai thác sản phẩm du lịch văn hóa vùng ven biển Thanh
Hóa52
2.2.1. Đặc điểm của hệ thống tài nguyên du lịch văn hóa đ ợc khai thác
trong kinh doanh du lịch.52
2.2.2. Thực trạng khai thác sản phẩm du lịch văn hoá 53
2.2.3. Hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch.62
2.2.4. Hệ thống dịch vụ trong khai thác sản phẩm du lịch văn hóa 67
2.2.5. Nguồn nhân lực phục vụ du lịch 72
2.2.6. Hoạt động khai thác tài nguyên du lịch văn hóa thành sản phẩm
v Danh mục các chữ viết tắt KDL : Khách du lịch
DSVH : Di sản văn hóa
triển không lớn, các n ớc đang phát triển không có thế mạnh xây dựng những
điểm du lịch đắt tiền, những trung tâm giải trí tầm cỡ và hiện đại, đồ sộ nh
các n ớc phát triển. Du lịch ở các n ớc đang phát triển dựa vào nguồn du lịch
tự nhiên và bản sắc văn hoá dân tộc. Đối với n ớc ta, du lịch văn hoá cũng đ -
ợc xác định nh một trong những loại hình du lịch có thế mạnh và tiềm năng
phát triển lớn.
Thanh Hoá đ ợc mệnh danh là mảnh đất "Địa linh nhân kiệt", nơi phát tích
của "Tam v ơng nhị chúa", là vùng đất có truyền thống lịch sử oai hùng trong
chống giặc ngoại xâm, có nhiều danh nhân văn hoá tiêu biểu cùng với những
di sản độc đáo - đó là những tài nguyên du lịch văn hóa hấp dẫn du khách đến
tham quan, nghiên cứu
Cùng với những b ớc phát triển của đất n ớc, để lại cho Thanh Hoá nói
chung, vùng ven biển Thanh Hóa nói riêng một l ợng lớn các di tích lịch sử -
văn hoá, danh lam thắng cảnh nổi tiếng làm say lòng những du khách tới
thăm. Ngoài ra, giống mỗi vùng trong cả n ớc, vùng ven biển Thanh Hoá có
bản sắc văn hoá địa ph ơng đặc sắc, đã tạo ra những nét riêng so với vùng
khác đ ợc thể hiện qua lễ hội, phong tục tập quán, nghề, làng nghề. Đây là
nguồn tài nguyên du lịch khá phong phú và mang đậm nét văn hóa của ng
dân vùng ven biển, hiện đã và đang đ ợc khai thác thành sản phẩm du lịch văn
hóa. Đặc biệt, khi du lịch Thanh Hóa đang cố gắng đa dạng hóa các sản phẩm
du lịch nhằm thu hút khách du lịch và triển phát du lịch tỉnh nhà thành trọng
điểm du lịch quốc gia, mà phát triển sản phẩm du lịch biển là điểm nhấn mạnh
của du lịch Thanh Hóa.
2
Với nguồn tài nguyên du lịch phong phú và đa dạng nh vậy có thể tạo ra
những sản phẩm du lịch biển (trong đó có sản phẩm du lịch văn hóa) đặc tr ng
của vùng ven biển Thanh Hóa làm hài lòng và thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu của
khách du lịch. Tuy nhiên, hiện nay do ch a đ ợc qui hoạch, chiến l ợc trong
5. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
đ ợc chia làm 3 ch ơng.
Ch ơng 1: Tài nguyên du lịch văn hóa vùng ven biển Thanh Hoá
Ch ơng 2: Thực trạng khai thác sản phẩm du lịch văn hoá vùng ven
biển Thanh Hoá
Ch ơng 3: Đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả khai thác sản
phẩm du lịch văn hoá vùng ven biển Thanh Hóa.
4
Ch ơng 1: Tài nguyên du lịch văn hóa
vùng ven biển Thanh Hóa
1.1. Một số khái niệm
1.1.1.Vùng ven biển ( Duyên hải)
Tr ớc khi tìm hiểu và nghiên cứu về tài nguyên du lịch văn hóa vùng ven
biển Thanh Hóa, chúng ta cần tìm hiểu về khái niệm vùng ven biển. Tuy
nhiên, hiện nay ch a có nhiều tác giả đ a khái niệm này. Theo các tác giả
cuốn sách Địa mạo bờ biển Việt Nam thì khái niệm vùng ven biển là:Là
một đại lục địa ven biển rộng lớn. Mà trên dải này tồn tại các đ ờng địa hình
đ ợc tạo bởi biển, các mực n ớc biển có đ ờng cao khác nhau. Nếu nh trên
lục địa không có các diện tích nặng của địa hình thì ranh giới vùng ven biển
có thể là đ ờng nối các đỉnh vũng vịnh. ở các bờ biên giới phần ranh giới này
có thể trùng với mép vạch dọc clif hoặc mép trong bậc thềm biển. Khi đó
thuật ngữ vùng ven biển chỉ có ý nghĩa về mặt địa lý tự nhiên khái quát.
1
thức của khách du lịch.
Theo GS, TS Nguyễn Văn Đính: Du lịch văn hóa là loại hình du lịch
dựa trên nền tảng của tài nguyên du lịch nhân văn, và hoạt động du lịch diễn
ra chủ yếu trong môi tr ờng nhân văn hoặc hoạt động du lịch đó tập trung
khai thác tài nguyên nhân văn, đặc biệt là các công trình kiến trúc văn hoá do
cộng đồng tạo ra có sức thu hút đặc biệt với du khách
Đây là loại hình du lịch có tác dụng giáo dục và nâng cao nhận thức
của khách du lịch và hiện đang phát triển mạnh ở Việt Nam, đất n ớc có 4000
năm lịch sử dựng n ớc và giữ n ớc.
1.1.4. Du lịch làng nghề
Du lịch làng nghề là một khái niệm mới. Tuy nhiên, cũng đ ợc hiểu
một cách thông th ờng về du lịch làng nghề, đó là một loại hình du lịch
thuộc nhóm các loại hình du lịch đ ợc phân loại theo môi tr ờng tài nguyên.
Theo tác giả Phạm Quốc Sử cuốn Phát triển du lịch làng nghề, nghiên
cứu tr ờng hợp tỉnh Hà Tây: Du lịch làng nghề là một loại hình du lịch sinh
thái nhân văn đ ợc tiến hành tại các làng tiêu biểu, mà ở đó còn l u giữ t ơng
6
đối nguyên vẹn những di sản văn hóa làng xã truyền thống (di tích lịch sử văn
hóa, phong tục, lễ hội,), đặc biệt là truyền thống công nghệ cổ, thông qua
các nghệ nhân tài giỏi.
Đến với mỗi làng nghề, khách du lịch sẽ đ ợc khám phá và thẩm nhận
những giá trị văn hóa vừa đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc,vừa độc đáo, mang
tính đặc thù địa ph ơng. Ngoài sự chứng kiến tận mắt những thao tác công
nghệ do các thợ thủ công thực hiện, khách du lịch có thể tìm hiểu sâu thêm về
truyền thống công nghệ ở các nghệ nhân. Khách du lịch có thể mua đồ l u
niệm là các sản phẩm công nghệ với giá cả phải chăng, thậm chí có thể tìm
kiếm các cơ hội đầu t , hợp tác kinh doanh, đồng thời đó cũng là dịp để du
khách lấy lại sự cân bằng về tinh thần sau những bức xúc, căng thẳng do nếp
chủ đạo và cơ bản, phù hợp với việc xây dựng loại hình du lịch văn hoá và do
đó là sản phẩm trực tiếp từ loại hình du lịch văn hoá.
1.1.7. - Di tích lịch sử - văn hoá
Di tích lịch sử - văn hóa vẫn th ờng đ ợc quan niệm là tài sản văn hóa
quí giá của mỗi đại ph ơng, mỗi dân tộc, mỗi đất n ớc và của cả nhân loại.
Nó là bằng chứng trung thành, xác thực, cụ thể nhất về đặc điểm văn hóa của
mỗi n ớc. ở đó chứa đựng những gì thuộc về truyền thống văn hóa tốt đẹp,
những tinh hoa trí tuệ tài năng, văn hóa nghệ thuật của mỗi quốc gia. Di tích
lịch sử văn hóa đ ợc coi là bộ mặt quá khứ của mỗi dân tộc, mỗi đất n ớc.
Còn theo các tác giả trong cuốn Địa lý du lịch, NXB Thành phố Hồ Chí
Minh :"Di tích lịch sử văn hóa là những không gian vật chất cụ thể, khách
thể, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân
con ng ời hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để lại.
Theo Pháp lệnh Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng
cảnh công bố ngày 4/4/1984, di tích lịch sử văn hóa đ ợc quan niệm nh sau: Di
tích lịch sử văn hóa là những công trình xây dựng địa điểm, đồ vật, tài liệu và
các tác phẩm nghệ thuật, cũng nh có giá trị văn hóa khác, hoặc liên quan đến
các sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa xã hội.
4
Theo luật DSVH của Việt Nam năm 2003: Di tích lịch sử văn hóa là
những công trình xây dựng và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công
trình, địa điểm có giá trị văn hóa và khoa học4
Luật DSVH và và văn bản h ớng dẫn thi hành, NXB Chính trị Quốc gia, năm 2003,tr 13
8
5
Đặng Kim Chi, Xử lý n ớc thải tại làng nghề, tạp chí du lịch Việt Nam, số/2007
6
Bùi Thị Hải Yến (2007), Tài nguyên du lịch, nxb Giáo dục
9
những ng ời có công với địa ph ơng và với đất n ớc, có liên quan tới những
nghi lễ tôn giáo, tín ng ỡng, ôn lại những giá trị văn hoá nghệ thuật truyền
thống hoặc h ớng về một sự kiện lịch sử-văn hoá, kinh tế trọng đại của đại
ph ơng, của đất n ớc hoặc là những hoạt động vui chơi giải trí là dịp để tăng
thêm tinh thần đoàn kết cộng đồng.
Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng diễn ra trên địa bàn
dân c trong thời gian và không gian xác định; nhằm nhắc lại một sự kiện, nhân
vật lịch sử hay huyền thoại; đồng thời là dịp để biểu hiện cách ứng xử văn hóa
của con ng ời với thiên nhiên thần thánh và con ng ời trong xã hội.
7
1.2. Giới thiệu khái quát Thanh Hoá và vùng ven biển Thanh Hoá
1.2.1. Điều kiện tự nhiên
Thanh Hoá có diện tích tự nhiên 11.106,09 km
2
, nằm ở phía Bắc Trung
Bộ Việt Nam (ở phía Nam vùng Du lịch Bắc Bộ, tọa độ địa lý từ 19
0
18' đến
20
0
40' vĩ độ Bắc và từ 104
0
bằng; Địa hình miền biển, đặc biệt thuận lợi cho phát triển du lịch với đ ờng
biển dài 102km. Tổng diện tích tự nhiên của Thanh Hoá là 11.106 km
2
, chiếm
3,37%/tổng diện tích tự nhiên cả n ớc. Trong đó đất rừng là thế mạnh của tỉnh
với 711.902ha, chiếm 63,7%, vùng bãi bồi (kể cả đất bồi ven sông, bãi bồi
sinh thái biển) khoảng 12.790ha.
Thanh Hoá là một tỉnh nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới, gió mùa,
nóng ẩm, m a nhiều, có sự phân hoá khí hậu giữa các vùng trong lãnh thổ và
thay đổi theo độ cao. Tài nguyên khí hậu kết hợp với biển đã tạo ra tính chất
mùa vụ của du lịch. Hiện nay, Thanh Hoá đang khắc phục tình trạng này bằng
cách phát triển nhiều loại hình du lịch để khai thác điều kiện thuận lợi của khí
hậu và sự đa dạng của tài nguyên du lịch trên địa bàn tỉnh.
Tài nguyên động, thực vật rừng ở Thanh Hoá rất phong phú và đa dạng.
Tài nguyên rừng đã trở thành nguồn tài nguyên du lịch quan trọng hiện đang
đ ợc a chuộng trên thị tr ờng trong n ớc và quốc tế, hấp dẫn du khách mỗi
lần đến với xứ Thanh.
1.2.2. Điều kiện xã hội, nhân văn
Trong thời kỳ đổi mới nền kinh tế của Thanh Hoá đã dần đi vào ổn
định, công cuộc đổi mới đi vào chiều sâu, nền kinh tế nhiều thành phần phát
triển với tốc độ nhanh.
11
Hiện nay hệ thống giao thông của Thanh Hoá đã đ ợc cải thiện đáng
kể, cả tỉnh có trên 7.000 km đ ờng bộ, trong đó nhựa hoá, bê tông hoá đạt
khoảng 25% tổng số đ ờng bộ toàn tỉnh; ph ơng tiện giao thông công cộng,
vận tải hành khách không ngừng tăng lên về số l ợng và chất l ợng, đặc biệt
hiện nay Thanh Hoá đã đ a vào khai thác tuyến xe buýt nối Thành phố Thanh
Hoá với các huyện, thị xã trong tỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại của
Theo thống kê có thể thấy Thanh Hoá là tỉnh có các dân tộc thiểu số
sinh sống. Trong cơ cấu dân tộc, dân tộc Kinh chiếm 84,7%; dân tộc
M ờng chiếm 8,7%; dân tộc Thái chiếm 6,0%; còn lại khoảng 0,4% là các
dân tộc khác nh : Hmông, Dao, Hoa Các dân tộc thiểu số sinh sống chủ
yếu ở các huyện miền núi phía Tây Thanh Hoá nh : Quan Hoá, Bá Th ớc,
Lang Chánh
Các dân tộc này tuy với số l ợng không nhiều, nh ng lại có một nền
văn hoá đặc sắc, thể hiện trong tập tục, trong sinh hoạt văn hoá dân gian, trong
lễ hội và ngay trong các hoạt động canh tác, đặc biệt là dân tộc M ờng. Thanh
Hoá đã đ ợc mệnh danh là thủ phủ của dân tộc M ờng. D ới góc độ du lịch
thì đây là một vốn quí, là nguồn tài nguyên đặc sắc đ ợc khách du lịch, đặc
biệt là khách du lịch quốc tế quan tâm.
Hiện nay toàn tỉnh có các loại đô thị gồm 1 thành phố loại II, 2 thị xã và
24 thị trấn. Các đô thị đang đ ợc đầu t phát triển, nâng cấp trở thành các
trung tâm kinh tế, đầu mối giao thông, các trung tâm dịch vụ - du lịch thúc
đẩy sự phát triển của huyện và tỉnh. Thị xã Sầm Sơn đang dần trở thành đô thị
du lịch tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức hoạt động du lịch.
Thanh Hoá là một tỉnh đông dân, đứng hàng thứ 3 sau Thành phố Hồ
Chí Minh và Hà Nội, có nguồn lao động trong độ tuổi rất dồi dào với trình độ
học vấn t ơng đối cao so với cả n ớc. Hàng năm, con số tuyển sinh vào các
tr ờng Đại học, Cao Đẳng, THCN và dạy nghề tăng nhanh đáng kể. Đây chính là
nguồn nhân lực quí giá cho các ngành kinh tế nói chung và du lịch nói riêng.
13
1.2.3. Lịch sử hình thành và phát triển của tỉnh Thanh Hoá
Lịch sử hình thành tỉnh Thanh Hoá là một lịch sử lâu dài, gắn liền với
lịch sử hình thành và dựng n ớc của n ớc ta. Đó cũng là lịch sử hàng ngàn
năm với nhiều lần sát nhập, tách, đổi tên. Có điều về cơ bản, địa giới của tỉnh
không thay đổi nhiều so với ngày nay.
- Năm 1831 ( năm Minh Mệnh 12), đổi trấn thành tỉnh, bắt đầu gọi là
tỉnh Thanh Hoa ( Hoa: tinh hoa)
- Năm 1841 ( năm Triệu Trị 1), lại đổi thành tỉnh Thanh Hóa và không
đổi từ đó cho tới nay.
Thời thuộc Pháp, tỉnh Thanh Hoá thuộc quản lý của triều đình Huế. Ngày
1/5/1994, tại Nghị định số 07/CP, Chính phủ quyết định thành lập thành phố
Thanh Hoá trên cơ sở hành chính thị xã Thanh Hoá.
Ngày 18/11/1996, Chính phủ n ớc Cộng hoà XHCN Việt Nam đã ra
Nghị định số 72/CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính các huyện.Ngày
6/12/1996, UBND tỉnh Thanh Hoá đã có chỉ thị số 31 TC/UB thực hiện Nghị
định 72/CP. Theo chỉ thị này, từ ngày 1/1/1997, các huyện chính thức hoạt
động theo đơn vị hành chính mới gồm 24 huyện, 2 thị xã, 1 thành phố.
Từ khi Nhà n ớc thực hiện chính sách mở cửa, đ ợc sự quan tâm và đầu
t của Chính phủ, cùng với sự đổi mới của đất n ớc Thanh Hóa đã dần phát
trển mạnh về kinh tế xã hội và đạt những thành tựu quan trọng: kinh tế tăng
tr ởng v ợt với tốc độ khá cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo h ớng tăng tỷ
trọng công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp, kết cấu hạ tầng đ ợc
quan tâm đâu t , nhiều dự án quan trọng đã và đang đ ợc xây dựng. Lĩnh vực
văn hóa - xã hội có nhiều chuyển biến tiến bộ, đời sống vật chất tinh thần của
nhân dân đ ợc cải thiện và nâng cao, tiềm lực quốc phòng an ninh đ ợc củng
cố, trật tự an toàn xã hội có chuyển biến tích cực. Thanh Hóa đã trở thành một
điểm phát triển kinh tế năng động của Nhà n ớc
15
1.2.4. Vùng ven biển Thanh Hoá
Thanh Hóa không chỉ là mảnh đất Địa linh nhân kiệt mà còn tỉnh có
biển bạc, rừng vàng, ruộng đồng man mác, xóm làng liên miên nh lời của
Chủ tịch Hồ Chí Minh khi ng ời về thăm xứ Thanh.
Nói đến Thanh Hóa không thể không nói tới vùng ven biển. Vùng ven
biển Hậu Lộc rộng hơn 2.000 km2, có rất nhiều loài hải sản quý. Bãi tôm he
Hòn Nẹ có trữ l ợng lớn trong số các bãi tôm trên Vịnh Bắc bộ. Từ xa x a,
ng ời dân Hậu Lộc đã có câu nhất biển, nhất nghề. Sản l ợng hải sản khai
thác của huyện Hậu Lộc nhiều năm qua luôn chiếm vị trí cao trong tổng sản
l ợng của cả tỉnh, tuy nhiên so với tiềm năng vẫn đang ở mức hạn chế vì đa
phần ph ơng tiện đánh bắt, khai thác của ng dân đã đã cũ kỹ, lạc hậu. Những
năm gần đây huyện đã chú trọng hơn đến việc tăng công suất các ph ơng tiện
khai thác nên hiện toàn huyện có 717 ph ơng tiện đánh bắt hải sản (tổng công
suất 47.035 CV, bình quân mỗi ph ơng tiện đạt 65,6 CV) Bên cạnh nghề khai
thác, đánh bắt trên biển, nghề nuôi trồng thủy sản ở Hậu Lộc đã có những
b ớc phát triển mạnh. Những năm 80, nghề nuôi trồng thủy sản nơi đây còn
nhỏ lẻ, manh mún; đến nay, tổng diện tích nuôi trồng thủy sản của huyện có
gần 1.100 ha; trong đó diện tích nuôi n ớc mặn, n ớc lợ là hơn 400 ha; giải
quyết cho 4.275 lao động có công ăn, việc làm, mang lại thu nhập bình quân
hơn 9 triệu đồng/ng ời/năm. Khu nuôi tôm công nghiệp Đa Lộc, khu bãi triều
ven biển nuôi nhuyễn thể Hải Lộc, Đa Lộc với diện tích hàng trăm ha đang
dần phát huy tác dụng và b ớc đầu cho hiệu quả kinh tế cao.
Tuy nhiên, do đặc điểm của vị trí địa lý, hàng năm Hậu Lộc phải hứng
chịu nhiều hậu quả nặng nề do thiên tai, làm tụt giảm đáng kể tốc độ phát
triển kinh tế của huyện trong nhiều năm. Song mấy năm gần đây, GDP của
Hậu Lộc luôn tăng tr ởng trên mức 10%, mặc dù vẫn phải đối chọi với bão lụt
và tình trạng nhiễm mặn nặng nề. Ng ời Hậu Lộc đang cố gắng thoát nghèo
để v ơn lên làm giàu, trong đó có phần đóng góp quan trọng từ kinh tế biển.
17
*Huyện Hoằng Hóa
Hoằng Hóa là một huyện đồng bằng ven biển, phía đông giáp biển, phía
Bắc giáp huyện Hậu Lộc, phía Tây giáp huyện Thiệu Hóa, Yên Định và Vĩnh
Lộc, phía Nam giáp huyện Quảng X ơng, thành phố Thanh Hóa và một phần
*Huyện Quảng X ơng
Là một huyện đồng bằng ven biển có diện tích đất tự nhiên 227,63 km
2
,
Quảng X ơng đã từ lâu đ ợc coi là trọng điểm lúa của tỉnh. Với chiều dài bờ
biển gần 18km, Quảng X ơng là một trong những huyện có tiềm năng về
thuỷ, hải sản. Hơn nữa, nằm trên các trục quốc lộ 1A, quốc lộ 45, 47, tỉnh lộ
số 4, phía bắc là thành phố Thanh Hoá với khu công nghiệp Lễ Môn, phía nam
là Khu công nghiệp động lực Nghi Sơn - Tĩnh Gia, đồng thời là huyện có vị trí
trọng yếu về an ninh - quốc phòng của tỉnh. Đây là lợi thế đặc biệt quan trọng
để thu hút đầu t phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng.
Quảng X ơng đ ợc xem là một huyện nghèo của tỉnh Thanh Hoá, đồng
đất không mấy thuận lợi, lại chịu nhiều thiên tai. Song, hiện nay, kinh tế của
huyện vào diện khá của tỉnh, GDP liên tục tăng qua các năm, thu nhập bình
quân đầu ng ời có mức tăng khá (498,7 USD năm 2006), đời sống nhân dân
ngày càng cải thiện. Thêm nữa, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo
h ớng giảm tỷ trọng nông - lâm nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp - tiểu thủ
công nghiệp và dịch vụ th ơng mại. Sự đổi thay kỳ diệu đó có đ ợc là do
Quảng X ơng đã đổi mới t duy, đổi mới cách nghĩ, cánh làm.
* Thị xã Sầm Sơn
Sầm Sơn cách thành phố Thanh Hoá 16 km về phía đông. Diện tích tự
nhiên khoảng 18 km
2
, phía Bắc giáp sông Mã, phía đông và Nam giáp biển
đông, phía Tây giáp huyện Quảng X ơng. Sầm Sơn có 3 ph ờng (Bắc Sơn,
Tr ờng Sơn, Trung Sơn), 2 xã (Quảng Tiến, Quảng C )
Thiên nhiên đã u ái cho Sầm Sơn một bãi biển kỳ thú, nên thơ cùng với
nhiều tích sử - một tài sản vô giá của Sầm Sơn từ ngàn x a để lại.
19