ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN VIỆT ĐỨC
NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG DU LỊCH BIÊN MẬU
TẠI THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
Chuyên ngành: Du lịch
(Chương trình đào tạo thí điểm) LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Nguyễn Phạm Hùng HÀ NỘI – 20121
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
1. Tính cấp thiết của đề tài 6
2. Mục đích và nội dung nghiên cứu 9
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
4. Phương pháp nghiên cứu 10
5. Bố cục luận văn 11
6. Đóng góp của luận văn: 11
Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH BIÊN MẬU VÀ
ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIÊN MẬU Ở THÀNH PHỐ
MÓNG CÁI 12
1.1. Một số vấn đề lý luận về du lịch biên mậu 12
1.1.1. Khái niệm biên mậu 12
2.3.1. Các chương trình - tuyến du lịch biên mậu thuần túy ở Móng Cái 75
2.3.2. Các chương trình – tuyến du lịch biên mậu kết hợp 76
2.4. Công tác tổ chức, quản lí hoạt động du lịch biên mậu ở Móng Cái 78
2.4.1. Các hình thức tổ chức, quản lí của Nhà nước 78
2.4.2. Công tác tổ chức, quản lí của doanh nghiệp 88
2.5. Nhận xét chung về hoạt động du lịch biên mậu ở Móng Cái 97
2.5.1. Những thuận lợi trong hoạt động du lịch 97
2.5.2. Những khó khăn trong hoạt động du lịch 101
2.5.3. Những thành tựu đạt được trong hoạt động du lịch 103
2.5.4. Những hạn chế trong hoạt động du lịch biên mậu ở Móng Cái 105
Tiểu kết chương 2. 109
Chương 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIÊN MẬU Ở
THÀNH PHỐ MÓNG CÁI 110
3.1. Căn cứ đề xuất 110 3
3.1.1. Định hướng phát triển du lịch Móng Cái 110
3.1.2. Mục tiêu của ngành du lịch Móng Cái 111
3.1.3. Thực trạng hoạt động du lịch biên mậu ở Móng Cái 112
3.2. Đề xuất một số giải pháp góp phần phát triển du lịch biên mậu ở
Móng Cái 113
3.2.1. Giải pháp về khai thác và bảo vệ tài nguyên du lịch biên mậu 114
3.2.2. Giải pháp về xây dựng sản phẩm du lịch biên mậu 115
3.2.3. Giải pháp về đầu tư phát triển du lịch biên mậu 120
3.2.4. Giải pháp về phát triển nhân lực du lịch biên mậu 123
3.2.5. Giải pháp về tuyên truyền quảng bá du lịch biên mậu 123
3.2.6. Giải pháp về tổ chức, quản lý, quy hoạch du lịch biên mậu 125
3.2.7. Giải pháp về giữ gìn bản sắc văn hóa, môi trường sinh thái trong du
lịch biên mậu 130
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Số lượng khách du lịch đến Móng Cái (2005 - 2012) 47
Bảng 2.2: Doanh nghiệp kinh doanh lưu trú tại Móng Cái năm 2011 92
Bảng so sánh tăng trưởng cơ sở lưu trú ở TP Móng Cái 93
Bảng 2.3: Doanh nghiệp quản lí chợ, trung tâm thương mại phục vụ du lịch ở
TP Móng Cái 96 6
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tại nhiều địa phương trên cả nước, trong đó có Quảng Ninh, du lịch
đang là một ngành mũi nhọn, đem lại nhiều lợi ích về kinh tế, xã hội. Đối với
thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, ngoài những lợi ích kinh tế, xã hội mà
du lịch đem lại, nó còn góp phần quan trọng vào việc bảo vệ văn hóa dân tộc,
bảo vệ an ninh biên giới và chủ quyền quốc gia. Trong đó, du lịch biên mậu có
vai trò đặc biệt quan trọng, cần phải tiến hành nghiên cứu nghiêm túc.
Nhu cầu đi du lịch đã trở thành thói quen tất yếu của cuộc sống con
người trong xã hội phát triển hiện nay. Trên thế giới, các nước phát triển
không những coi ngành du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, mà còn được
xác định ngành du lịch như một vị cứu tinh của nền kinh tế quốc gia. Với các
nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam ngành du lịch đặc biệt được coi
trọng được thể hiện và cụ thể hóa qua các văn kiện của các kỳ Đại hội trong
việc chỉ đạo đường lối chính sách của Nhà nước. Thời gian mấy năm gần đây
ngành du lịch Việt Nam đã có những bước tiến phát triển đáng khích lệ, số
lượng du khách quốc tế không ngừng gia tăng, đặc biệt nhu cầu đi nhu lịch của
du khách trong nước tăng đột biến. Suy thoái toàn cầu đã khiến khách du lịch
quốc tế thận trọng hơn trong việc lựa chọn các phương án đi du lịch. Do đó,
Trung Hoa, giữ một vị trí đặc biệt quan trọng về kinh tế - xã hội, an ninh quốc
phòng. Thành phố Móng Cái là đầu mối giao thương giữa hai nước Việt Nam
– Trung Quốc và các nước trong khu vực. Với những hội tụ và điều kiện thuận
lợi cho phát triển kinh tế - xã hội quan trọng trong tiến trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa Đất nước. Được xác định là một điểm của vành đai kinh tế Vịnh
Bắc Bộ, là cửa ngõ quan trọng của hành lang tam giác kinh tế Hà Nội – Hải
Phòng – Quảng Ninh, có hệ thống cảng biển, cảng nước sâu có năng lực bốc 8
xếp cho tàu hàng vạn tấn, đã tạo ra nhiều thuận lợi cho ngành vận tải đường
biển giữa nước ta với các nước trên thế giới, Quảng Ninh có hệ thống cửa khẩu
phân bố trên dọc tuyến biên giới, đặc biệt cửa khẩu Quốc tế Móng Cái là nơi
hội tụ giao lưu thương mại, du lịch, dịch vụ và thu hút các nhà đầu tư, là cửa
ngõ giao dịch xuất nhập khẩu với Trung Quốc và các nước trong Đông Nam Á.
Được xác định là một trong những trung tâm kinh tế trọng tâm của vùng
duyên hải Bắc bộ, Móng Cái nơi địa đầu của Tổ Quốc cách TP Hạ Long 158
km về phía đông bắc, được đánh giá là rất thuận lợi cho mạng lưới giao thông
cả về đường bộ (quốc lộ 18A) và đường biển, ngay tại trung tâm TP Móng Cái
tiếp giáp biên giới với TP Đông Hưng Quảng Tây - Trung Quốc, cho nên
Móng Cái chiếm giữ vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển thương mại,
du lịch. Tại TP Móng Cái có một cửa khẩu quốc tế Móng Cái, hai cửa khẩu
khác là cửa khẩu Ka Long, cửa khẩu Vạn Gia và một cửa khẩu tiểu nghạch
Lục Lầm, có 9 chợ biên giới có quy mô lớn và 3 trung tâm thương mại hoạt
động tấp nập với bạn hàng Trung Quốc và khách du lịch, các trung tâm thương
mại, các chợ biên giới chính là một trong những lợi thế lớn tạo nên như một
điểm nhấn đối với sự phát triển du lịch nói chung và hoạt động du lịch biên
mậu nói riêng tại TP Móng Cái.
Khả năng khai thác các thế mạnh của TP Móng Cái – Quảng Ninh chính
là động lực phát triển được xem là đầy triển vọng, nhất là việc tăng cường giao
TP Móng Cái, khái quát một số vấn đề lí luận liên quan đến đề tài như: du lịch,
hoạt động biên mậu, du lịch biên mậu và thành phố Móng Cái.
Thứ hai, nghiên cứu thực trạng hoạt động du lịch biên mậu ở TP Móng
Cái dựa trên sự tổng hợp, phân tích thông tin về hình thức tổ chức, quản lí hoạt
động du lịch biên mậu, sản phẩm du lịch biên mậu, khách du lịch biên mậu
qua đó đưa ra đánh giá về những thành tựu, hạn chế, thuận lợi, khó khăn trong
sự phát triển du lịch biên mậu ở thành phố Móng Cái – Quảng Ninh. 10
Thứ ba, đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả
hoạt động của Du lịch biên mậu ở thành phố Móng Cái.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu bao gồm các vấn đề tổng quan về TP Móng Cái
như tự nhiên, kinh tế, văn hoá - xã hội, an ninh quốc phòng, thực trạng phát
triển của ngành du lịch và hoạt động du lịch biên mậu tại thành phố Móng Cái
– Quảng Ninh, từ đó đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao
hiệu quả hoạt động du lịch biên mậu ở TP Móng Cái.
* Phạm vi nghiên cứu
Về không gian:
Phạm vi nghiên cứu trọng tâm của đề tài chính là thành phố cửa khẩu
Móng Cái nơi có hoạt động du lịch biên mậu diễn ra rất sôi động và một số địa
bàn có sức hút về tài nguyên du lịch tại phạm vi TP Móng Cái như: biển Trà
Cổ, Sân Golf Vĩnh thuận – Trà Cổ, điểm địa đầu Tổ Quốc - Mũi Trà Vĩ, các
di tích lịch sử văn hóa, danh thắng ở trung tâm TP Móng Cái và phụ cận.
Về thời gian:
Đề tài nghiên cứu, sử dụng thông tin sơ cấp và thứ cấp về các lĩnh vực
kinh tế - xã hội, văn hóa, và hoạt động du lịch trên địa bàn thành phố Móng
Cái trong thời gian từ năm 2006 đến năm 2012.
12
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH BIÊN MẬU VÀ ĐIỀU KIỆN
PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIÊN MẬU Ở THÀNH PHỐ MÓNG CÁI
1.1. Một số vấn đề lý luận về du lịch biên mậu
Luận văn này tập trung chủ yếu vào việc nghiên cứu những điều kiện
phát triển du lịch biên mậu ở Móng Cái, đánh giá thực trạng và đề xuất giải
pháp cho du lịch biên mậu Móng Cái. Những vấn đề lý luận chung về du lịch
biên mậu đã được trình bày trong các nghiên cứu của PGS.TS. Nguyễn Phạm
Hùng và Ths. Nguyễn Thị Thu Thủy[10 - 36], vì vậy trong luận văn này, về
mặt lý luận, chúng tôi lựa chọn tìm hiểu và hoàn thiện thêm một số vấn đề cho
phù hợp với điều kiện thực tế tại TP Móng Cái, đó là những vấn đề biên mậu,
hoạt động kinh tế biên mậu, và du lịch biên mậu.
1.1.1. Khái niệm biên mậu
Vấn đề du lịch biên mậu đã được đặt ra trong một số nghiên cứu gần
đây, các khái niệm, thuật ngữ chuyên môn về du lịch biên mậu trong luận văn
này sẽ tiếp tục phát triển trong khuôn khổ cho phép. Những đóng góp mới của
luận văn này, chủ yếu là những kết quả nghiên cứu thực tiễn du lịch biên mậu
tại TP Móng Cái, mà người viết luận văn trực tiếp tham gia. Những phân tích
thực tiễn, những đề xuất giải pháp hoàn toàn được rút ra từ những khảo sát và
dịch vụ, các chứng từ có giá trong xã hội”[10, 36, 10 – 12].
Qua nghiên cứu thực tiễn hoạt động mậu dịch ở Móng Cái nhiều năm
qua, tác giả cho rằng, hoạt động biên mậu không chỉ thuần túy là các hoạt động
trao đổi hàng hóa, mà còn thể hiện nhiều giá trị văn hóa, nhiều tập quán văn
hóa, nhiều sinh hoạt xã hội có liên quan của cư dân hai bên biên giới với nội
dung như sau:
Biên mậu là các hoạt động mua, bán trao đổi hàng hoá ở khu vực biên
giới với nước láng giềng, bao gồm, mua bán hàng hóa chính ngạch, mua bán 14
hàng hóa tiểu ngạch, mua bán ở chợ biên giới, mua bán hàng hóa của cư dân
biên giới, cùng các hoạt động văn hóa xã hội khác được hình thành và tương
tác trong các hoạt động đó.
1.1.2. Hoạt động kinh tế biên mậu
Sau gần 7 năm khi đã có chính sách mở cửa biên giới giữa Việt Nam và
Trung Quốc, Chính phủ Việt Nam đã chính thức tiến hành cho thí điểm xây
dựng khu kinh tế tại biên giới năm 1996, phê duyệt một số cơ chế ưu đãi mà
cụ thể là khu kinh tế cửa khẩu Móng cái. Sau hai năm Chính phủ tiếp tục cho
thí điểm ở quy mô rộng rãi hơn với việc phê duyệt chính sách ưu đãi cho các
khu kinh tế như: cửa khẩu Mộc Bài – Tây Ninh, cửa khẩu Lao Bảo – Quảng
Trị. Năm 2002, Chính phủ đã khẳng định: „các khu kinh tế cửa khẩu biên giới
đã thực sự phát triển làm sống động cuộc sống tại các khu vực cửa khẩu, góp
phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh có cửa khẩu, thúc đẩy một số ngành
sản xuất phát triển đồng thời góp phần tăng thu ngân sách, tạo kết cấu hạ tầng
cho khu kinh tế cửa khẩu và các vùng liên quan. Về xã hội đã tạo thêm công
ăn việc làm cho người lao động, từng bước nâng cao đời sống dân cư trong
khu vực và tạo ra diện mạo mới cho vùng biên cương trước đây là vùng sâu,
vùng xa đặc biệt khó khăn nay đa
̃
i giao lưu qua
đươ
̀
ng mậu dịch tiểu ngạch này.
Do đó, nói tới hoạt động kinh tế biên mậu cũng cần chú ý tới văn hóa
biên mậu. Hoạt động kinh tế biên mậu luôn gắn liền với hoạt động văn hóa, xã
hội, với giao lưu văn hóa xã hội, hay với văn hóa biên mậu giữa các dân tộc,
các vùng miền, để tạo nên nét riêng biệt, độc đáo của vùng biên mậu. Điều này
được thể hiện rõ trong các hoạt động mậu dịch tiểu ngạch ở các vùng biên. Vì
thế, du lịch biên mậu cần có thêm những mối quan tâm mới, đó là việc du
khách không chỉ được tham quan, tìm hiểu và mua sắm tại các chợ biên giới,
các trung tâm thương mại vùng biên, được thưởng thức những đặc sắc văn
hóa và thiên nhiên vùng biên giới, mà có thể còn được chứng kiến, hay được 16
tham gia vào chính các hoạt động mậu dịch biên giới tiểu ngạch đó như những
sinh hoạt văn hóa đặc thù - văn hóa biên mậu.
1.1.3. Du lịch biên mậu
Du lịch biên giới là một hình thức du lịch được phân loại dựa theo đặc
điểm của địa lí điểm du lịch. Du lịch biên giới vẫn mang bản chất của hoạt
động du lịch, tuy nhiên điểm khác là nơi để triển khai các hoạt động du lịch ở
đây lại là các khu vực gần với điểm chấm dứt chủ quyền về mặt lãnh thổ của
một quốc gia có hoạt động thương mại biên giới sôi động. Thông thường, khu
vực biên giới mang tính chất “nhạy cảm” cao về chính trị và an ninh - quốc
phòng, vì vậy trên thực tế có thể thấy tài nguyên du lịch ở các khu vực biên
giới rất độc đáo, hấp dẫn nhưng khả năng để khai thác phục vụ phát triển du
lịch luôn gặp nhiều trở ngại.
Du lịch mậu dịch hiểu nôm na là du lịch mua sắm, du lịch đi chợ, chơi
chợ, xem chợ. Trên thực tế, không có tên gọi cho loại hình du lịch mậu dịch,
Ninh), cửa khẩu Lao Bảo (Quảng Trị), TP. Móng Cái (Quảng Ninh), khu cửa
khẩu Tân Thanh – Pò Chài(Lạng Sơn), cửa khẩu Cầu Treo (Hà Tĩnh), Thanh
Thủy (Hà Giang)… Với các điểm du lịch đặc thù này, du khách được thỏa mãn
nhiều mong muốn: không chỉ được tham quan các danh lam thắng cảnh ở nơi
đến, mà còn được thỏa mãn thú vui mua sắm khi đã một lần đặt chân tới đó.
Ngày càng có nhiều du khách tham gia các chương trình du lịch biên
mậu. Và sản phẩm du lịch biên mậu cũng ngày càng được bổ sung, hoàn thiện
cho thêm sự phong phú, đa dạng, sinh động hơn, nhằm thu hút nhiều hơn sự
quan tâm của du khách.
Qua nghiên cứu thực tiễn, luận văn này tiếp tục hoàn thiện khái niệm du
lịch biên mậu với nội dung sau:
Du lịch biên mậu là hoạt động du lịch tại các khu vực mậu dịch biên
giới, kết hợp mua sắm, tham quan, trải nghiệm tại những khu vực mậu dịch
biên giới với việc tham quan, tìm hiểu, thưởng thức văn hóa biên mậu, văn hóa 18
truyền thống và cảnh đẹp thiên nhiên vùng biên, được tổ chức bởi các công ty
du lịch hoặc do du khách tự tổ chức.
Du lịch biên mậu có vai trò quan trọng tại những địa phương có đường
biên giới với nước ngoài, với các hoạt động trao đổi mua bán tại vùng biên
giới tấp nập và có nhiều tài nguyên văn hóa và thiên nhiên đặc thù. Đây là
những điểm du lịch ngày càng thu hút nhiều du khách, như Lạng Sơn, Móng
Cái, Lào Cai, Tây Ninh… Và đặc biệt, như đã nói, biên mậu không chỉ là một
hoạt động kinh tế, mà còn là một hoạt động văn hóa – xã hội đặc thù ở vùng
biên giới, du khách có thể được chứng kiến, hay được tham gia vào chính các
hoạt động văn hóa – xã hội đó thông qua việc trực tiếp với các hoạt động mậu
dịch biên giới tiểu ngạch tại các điểm du lịch vùng biên.
1.2. Điều kiện phát triển du lịch biên mậu ở thành phố Móng Cái
1.2.1. Điều kiện tự nhiên và xã hội của TP. Móng Cái
trực thuộc tỉnh Quảng Ninh và được tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
cho thị xã Móng Cái hiện đại trở thành một trung tâm thương mại lớn ở phía
Đông Bắc.
Đến ngày 25 tháng 9 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ đã ra nghị định số
03/NĐ-CP thành lập Thành phố Móng Cái trên cơ sở toàn bộ diện tích tự
nhiên và dân số của thị xã Móng Cái cũ.
1.2.1.2. Điều kiện tự nhiên:
Móng Cái là một thành phố biên giới nằm ở vị trí phía Đông Bắc của
tỉnh Quảng Ninh với độ địa lý từ 21010
o
đến 21039
o
vĩ độ Bắc; từ 107043
o
đến
108040
o
kinh độ Đông, ranh giới của thành phố Móng Cái tiếp giáp với: phía
Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Tây nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa;
phía Đông và Đông Nam tiếp giáp với Biển Đông; phía Tây Bắc giáp huyện
Hải Hà. 20
Phía Bắc thành phố Móng Cái với địa hình là đồi núi, địa hình thoải dần
ra biển. Diện tích tự nhiên của Móng Cái phần trên đất liền và đảo là 516,55
km
2
, chiếm 8,49% diện tích tự nhiên của toàn tỉnh Quảng Ninh. Thành phố có
đường biên giới trên đất liền là 72 km và trên 50km đường biển tiếp giáp với
Khoáng sản: trên địa bàn thành phố Móng Cái có các loại khoáng sản
như: Đá Granit (lục phủ), cao lanh (Vĩnh thực), Titan (Trà cổ, Bình ngọc, Vĩnh
thực) và nguồn cát sỏi phong phú đáp ứng cho xây dựng.
Tài nguyên Biển: với chiều dài bờ biển 50km, có vùng biển rộng, diện
tích bãi triều lớn rất thuận lợi cho việc phát triển nghề đánh bắt và nuôi trồng,
chế biến thủy, hải sản. Nằm trong quần thể du lịch sinh thái Hạ Long, Cát Bà,
Trà Cổ, với bãi cát trắng mịn, sóng được gió lớn mang từ biển vào một nét
riêng biệt, độc đáo đã tạo nên tài nguyên biển ở thành phố Móng Cái hứa hẹn
nhiều tiềm năng cho phát triển các điểm du lịch văn hóa biển lý tưởng.
Thiên nhiên đã ban tặng cho thành phố Móng Cái nhiều phong cảnh đẹp,
ở địa đầu tổ quốc có nhiều di tích lịch sử, văn hóa, hơn nữa lại nằm trong địa
bàn trọng điểm phát triển du lịch của cả nước. Nhân dân Móng Cái có đa dạng
về thành phần Tộc người mang đậm nét văn hóa đặc sắc, có đức tính cần cù,
đoàn kết và mến khách. Điều này đã làm phong phú tài nguyên du lịch và nhân
văn của nơi địa đầu tổ quốc biên cương này.
1.2.1.3. Điều kiện kinh tế xã hội
Đến nay, Móng Cái có rất nhiều tiềm năng để phát triển cho nền kinh tế
tổng hợp với mũi nhọn là du lịch và dịch vụ, với cửa khẩu quốc tế Bắc Luân và
một số cửa khẩu quốc gia như: Vạn Gia; Ka Long; Lục Lầm; quốc lộ 18A nối
liền với TP Hạ Long và cả nước, nhiều cảng biển cho tàu hàng vạn tấn neo đậu,
bãi biển Trà Cổ trải dài 17km với phong cảnh tự nhiên vào loại đẹp nhất Việt
Nam; mũi Sa Vĩ – điểm khởi đầu hình chữ S trên bản đồ Việt Nam từ lâu đã
trở nên nổi tiếng và một số hồ nước có phong cảnh hữu tình như: hồ Tràng
Vinh; Đoan Tĩnh; Kim Tinh, mở ra nhiều triển vọng lớn để phát triển ngành du
lịch. Đồng thời, Móng Cái còn là mảnh đất có truyền thống lịch sử văn hóa từ 22
lâu đời, các di tích lịch sử văn hóa đã được xếp hạng cấp quốc gia đó là: Đình
Trà Cổ, chùa Vạn Linh Khánh, chùa Xuân Lan, đền Xã tắc, đình Vạn Ninh
triệu lượt khách qua cửa khẩu tham quan du lịch, làm ăn buôn bán và tìm kiếm
cơ hội hợp tác đầu tư. Tuy nhiên, từ năm 2006 đến nay, khách du lịch Trung
quốc tham quan Móng Cái và nối tour vào các tuyến bên trong giảm đáng kể
do phía Trung quốc thay đổi chính sách xuất nhập cảnh đối với nhân thân của
từng du khách. Dịch vụ du lịch phát triển mạnh, đặc biệt trong giai đoạn 5 năm
qua, 2006 – 2011, mỗi năm trên địa bàn có thêm 20 – 25 khách sạn nhà nghỉ.
Đến nay đã đạt đến hơn 3000 phòng nghỉ với trên 6000 giường. Hiê
̣
n ta
̣
i trên
địa bàn có 2 khách sạn 5 sao đã đi vào hoạt động, và trên 10 khách sạn đạt tiêu
chuẩn 2 sao. Dịch vụ vui chơi giải trí được đầu tư đa dạng, trong đó khu vui
chơi giải trí dành cho người nước ngoài bước đầu được hình thành và hoạt
động khá hiệu quả, sân Golf Vĩnh Thuận 18 lỗ tại Trà Cổ đạt tiêu chuẩn quốc
tế được đông đảo các tầng lớp thượng lưu quan tâm tham gia sử dụng dịch vụ.
Nhìn chung về cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất ngành du lịch đã đáp ứng được
yêu cầu của một trung tâm thương mại – du lịch – dịch vụ lớn. Dịch vụ ngân
hàng phát triển mạnh mẽ, từ năm 2001 đến nay tốc độ bình quân luôn đạt 30%
năm, nay đã có 11 chi nhánh ngân hàng cấp 1 được thành lập tại Móng Cái.
Dịch vụ viễn thông phát triển mạnh, tỷ lệ máy điện thoại đạt 78 máy/100 dân,
cao gấp 5 lần tỷ lệ chung của cả nước. Dịch vụ giao thông vận tải tuy có gặp khó
khăn về hạ tầng kỹ thuật song hàng năm vẫn đáp ứng vận chuyển với khối lượng
hàng hóa trên 25 triệu tấn và vận chuyển được trên 2 triệu lượt hành khách.
Công tác quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội luôn được đảm bảo,
tạo môi trường thuận lợi cho kinh tế - xã hội phát triển. Đời sống vật chất, văn
hóa, tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng cao. Giai
đoạn 2006 – 2007, GDP bình quân đầu người đạt 1400 USD/năm, giai đoạn
2008 – 2010 đạt 1900 USD/người/năm, giải quyết việc làm trên 2000 lao động,