Lời cảm ơn!
Em xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy cô giáo đã tận tình giảng dạy,
hướng dẫn, quan tâm, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để em hoàn thành quá trình
học tập của mình.
Em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Phó giáo sư Tiến sĩ
Nguyễn Thị Thanh Bình, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt
quá trình tìm hiểu, nghiên cứu làm khóa luận cho tới khi hội đồng khoa học
nghiệm thu đề tài.
Em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa Tâm lý – Giáo dục
trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã giúp đỡ, động viên em trong suốt quá trình
học tập và nghiên cứu khoa học.
Em xin chân thành cảm ơn bạn bè và gia đình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi
cho em hoàn thành khóa luận này!
Hà Nội, tháng 5 năm 2012
Tác giả
Nguyễn Phương Hồng
1
Danh mục chữ viết tắt
GD –ĐT : Giáo dục – đào tạo
BLHĐ :Bạo lực học đường
HS : Học sinh
2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Những hiện tượng xấu lan tỏa trong gia đình và học đường, đang làm cho
các bậc cha mẹ và những thầy cô, các nhà giáo dục phải lo âu và tìm ra phương
hướng giải quyết, đó là nạn Bạo Lực Học Đường, nó đã biến trường học không
còn là nơi an toàn cho con em và làm ảnh hưởng rất nhiều tới việc hình thành và
phát triển nhân cách cho các em.
Bạo lực học đường không còn là một vấn đề mới mẻ nhưng thời gian gần
đây mới bùng phát một cách mạnh mẽ, mức độ và tính chất của hành vi này ngày
sinh tiểu học để xây dựng môi trường học đường lành mạnh, thân thiện cho các
em, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Hành vi bạo lực học đường của học sinh tại một số trường tiểu học ở thành
phố Hà Nội.
3.2 Khách thể nghiên cứu
Gồm: 93 nam và 105 nữ thuộc khối lớp 5 thuộc 3 trường tiểu học ở thành
phố Hà Nội là: Yên Hòa (quận Cầu Giấy), Tô Vĩnh Diện (quận Đống Đa) và
Tiểu học Kim Liên (quận Đống Đa).
4
4. Giả thuyết khoa học
Hành vi bạo lực học đường của học sinh tiểu học đã xuất hiện và có chiều
hướng ngày càng gia tăng. Tuy nhiên, nhận thức của các em ở độ tuổi này về
BLHĐ còn khá hạn chế. Hành vi bạo lực học đường của học sinh tiểu học có thể
ngày càng có nhiều biến tướng, ảnh hưởng tới tâm lý và sự phát triển nhân cách
của mỗi cá nhân trong tương lai, cả trẻ có hành vi bạo hành với bạn và trẻ bị bạn
bạo hành. Các em có thái độ phản đối, lên án những hành vi bạo lực đó song
chưa có hành vi can thiệp đúng mức. Ngoài ra còn có sự khác biệt về hành vi bạo
lực giữa học sinh nam và nữ. Nếu xác định được đúng thực trạng và nguyên
nhân của hành vi bạo lực ở học sinh thì có thể xây dựng các biện pháp giáo dục
phù hợp hơn dành cho các em.
5. Nhiệm vụ
5.1. Hệ thống hóa và khái quát hóa một số vấn đề lý luận tâm lý học về
hành vi, BLHĐ và hành vi BLHĐ để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài.
5.2. Khảo sát thực trạng hành vi bạo lực học đường của học sinh tiểu học ở
Hà Nội và các yếu tố ảnh hưởng tới thực trạng hành vi đó. Trên cơ sở đó đề xuất
một số biện pháp khắc phục hạn chế những hành vi bạo lực học đường của học
sinh tiểu học.
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Mức 2: 2 điểm
Mức 3: 1 điểm
Ứng với cách cho điểm như trên, chúng tôi quy ước như sau:
Mức 1: (cao), Điểm trung bình (ĐTB) từ 2.41 3.0
(đồng ý, nhiều lần…)
Mức 2: (trung bình), Điểm trung bình (ĐTB) từ 1.71 2.4
6
(Đồng ý một phần, ít khi,….)
Mức 3: (thấp), Điểm trung bình (ĐTB) từ 1.0 1.7
(Không bao giờ, không đồng ý…)
Những câu hỏi ở 4 mức độ trả lời thì tùy theo sự lựa chọn ở các mức độ
mà cho điểm:
Mức 1: 4 điểm (chấp nhận)
Mức 2: 3 điểm (chấp nhận một phần lớn)
Mức 3: 2 điểm (chấp nhận một phần nhỏ)
Mức 4: 1 điểm (không thể chấp nhận)
Ứng với cách cho điểm như trên, chúng tôi quy ước như sau:
Mức 1: (cao nhất), X (ĐTB) từ 3.3 4
(chấp nhận …)
Mức 2: (cao), X (ĐTB) từ 2.4 3.29
(chấp nhận một phần lớn )
Mức 3: (trung bình), X (ĐTB) từ 1.7 2.39
(chấp nhận một phần nhỏ …)
Mức độ 4: (thấp), X (ĐTB) từ 1.0 1.69
(không thể chấp nhận …)
Chương 1:
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HÀNH VI BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG
CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC
1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu hành vi BLHĐ
Những năm gần đây, hiện tượng bạo lực học đường được công bố trên
học sinh đã bị đình chỉ tại các trường của bang trong năm 2008, gần một phần ba
trong số đó bởi "hành vi không đúng đắn về thể chất".
Tại Nam Australia, 175 vụ tấn công bạo lực vào các học sinh hay giáo
viên đã được ghi nhận trong năm 2008.
Tại Bỉ
Một nghiên cứu gần đây thấy rằng việc phải đối đầu với bạo lực của các
giáo viên tại vùng nói tiếng Pháp của Bỉ là một yếu tố quan trọng trong những
quyết định rời bỏ nghề giáo.
Tại Bulgaria
Sau "nhiều báo cáo trong thập kỷ vừa qua về bạo lực trường học", Bộ
Giáo dục đã đưa ra những quy định chặt chẽ hơn vào năm 2009 về hành vi của
học sinh, gồm cả ăn mặc không thích hợp, say rượu, và mang điện thoại. Các
giáo viên được trao các quyền lực mới để trừng phạt những học sinh không tuân
lời.
Tại Pháp
Năm 2000 Bộ Giáo dục Pháp tuyên bố rằng 39 trong 75.000 vụ bạo lực
học đường là "bạo lực nghiêm trọng" và 300 là "có bạo lực ở một số mức độ".
Tại Nhật Bản
Một cuộc điều tra của Bộ Giáo dục cho thấy các học sinh tại các trường
công có liên quan tới một số vụ bạo lực năm 2007—52.756 trường hợp, tăng
khoảng 8.000 so với năm trước đó. Trong tới 7.000 vụ, các giáo viên là đối
tượng bị tấn công.
Tại Ba Lan
Năm 2006, sau một vụ tự sát của một cô gái sau khi bị quấy nhiễu tình
dục tại trường, Bộ trưởng Bộ Giáo dục Ba Lan, Roman Giertych, đã tung ra một
cuộc cải cách trường học "không khoan dung". Theo kế hoạch này, các giáo viên
sẽ có vị thế pháp lý như các nhân viên dân sự, khiến việc thực hiện hành động
9
bạo lực chống lại họ bị trừng phạt với những mức độ cao hơn. Hiệu trưởng sẽ,
trên lý thuyết, có thể gửi những học sinh hung hãn tới thực hiện phục vụ cộng
Tỷ lệ này ở nam lớn gấp ba lần nữ. Trong 12 tháng trước cuộc điều tra, 7.8% học
sinh trung học được thông báo đã bị đe doạ hay bị thương tích bởi một vũ khí
trong trường học ít nhất một lần, với tỷ lệ cao trong nam lớn gấp hai lần nữ.
Trong 12 tháng trước cuộc điều tra, 12.4% học sinh từng tham gia vào một vụ
đánh nhau tại trường ít nhất một lần. Tỷ lệ nam cũng cao gấp hai lần nữ. Trong
30 ngày trước cuộc điều tra, 5.5% học sinh được thông báo bởi họ không cảm
thấy an toàn, họ đã không tới trường ít nhất một ngày. Các tỷ lệ này ở nam và nữ
xấp xỉ bằng nhau.
Dữ liệu mới nhất của Mỹ về tội phạm bạo lực trong đó các giáo viên là
mục tiêu cho thấy 7% (10% tại các trường đô thị) giáo viên năm 2003 là đối
tượng bị đe doạ bởi học sinh. 5% giáo viên tại các trường đô thị bị tấn công thể
chất, với những tỷ lệ thấp hơn tại các trường ngoại ô và nông thôn. Các thành
viên khác trong trường cũng có nguy cơ bị tấn công bạo lực, với các lái xe buýt
trường học là những người dễ bị nguy cơ.
Bên cạnh những điều tra về thực trạng BLHĐ trên các quốc gia thì
những nguyên nhân của tình trạng này cũng rất được các nhà tâm lý học quan
tâm.
- GS-TS Amal Sedky Winter - chuyên gia tâm lý hàng đầu của Mỹ đưa ra
ý kiến rằng: “Từ năm 1960 đến nay, đã có nhiều chương trình nghiên cứu tình
trạng bạo lực học đường. Kết quả nghiên cứu ấy cho thấy: những cảnh bạo lực
trên phim ảnh có tác động nhất định đến người lớn và trẻ em. Khi nào còn phô
diễn những cảnh bạo lực thì con em chúng ta sẽ lãnh đủ, ngay cả trong trường
học.
11
Trong gia đình, trẻ chứng kiến những cảnh bạo lực thì khi lớn lên, chúng
cũng thường dùng bạo lực để giải quyết những vấn đề của mình. Chúng ta đang
sống trong một giai đoạn mà bạo hành rất phổ biến. Đọc tin tức báo chí, các bạn
cũng thấy tình trạng bạo lực ngày càng gia tăng.”
- Theo nhận định của chuyên gia tâm lý người Đức thì nguyên nhân
chính là do: học sinh bị ức chế tâm lý do sức ép phải đạt kết quả cao trong học
giữa việc cưỡng bức ở mẹ với phản ứng của trẻ và sự hình thành hành vi hung
hãn. Lý - thuyết kiểm soát của Hirschi (1969) cho rằng trẻ có sự gắn bó kém với
cha mẹ sẽ có nguy cơ thực hiện hành vi bạo lực nhiều hơn cả trong và ngoài
trường học. Một số yếu tố thuộc về gia đình như cha mẹ phạm tội, giáo dục
cưỡng bức của gia đình, thiếu sự quan tâm của cha mẹ, mâu thuẫn gia đình,
ngược đãi hoặc không chấp nhận đối với tẻ là các yếu tổ rủi ro có thể dẫn tới
hành vi bạo lực (Parterson, Fortgat & Miller 1998).
+ Môi trường xã hội gần gũi: cộng đồng xã hội nơi trẻ sinh sống cũng
được coi là có liên quan đến hành vi bạo lực của trẻ. Các cộng đồng với tỷ lệ tội
phạm cao, cách ứng xử bạo lực phổ biến có thể dạy trẻ các hành vi hung hãn.
Việc tiếp xúc của trẻ với bạn bè hung hãn cũng góp phần gia tăng hành vi bạo
lực.
+ Môi trường học đường: Flannery (1997) liệt kê một loạt các yếu tố rủi
ro có thể gây ra bạo lực học đường như: tỷ lệ học sinh trên giáo viên cao, trường
học có nhiều tiền sự bạo lực, trường học tại đô thị, quản lý không nhất quán.
Việc bỏ qua các hành vi bạo lực của học sinh từ phía giáo viên có thể coi như sự
thưag nhận “quyền” của học sinh tự giải quyết vấn đề bằng bạo lực (Furlong &
Morrison, 2000). Theo Hirschi, sự gắn bó với trường học cũng có liên quan đến
13
nguy cơ bạo lực học đường. Có sự tương quan nghịch giữa kết quả học tập với
hành vi chống đối và bạo lực. Sự tương tác trong trường học cũng là yếu tố cần
quan tâm. Nghiên cứu cho thấy giáo viên tương tác với học sinh có nguy cơ cao
(có hành vi bạo lực) ít hơn 2 lần so với các học sinh khác và giáo viên cũng “ra
lệnh” mang tính tiêu cực nhiều hơn đối với các đối tượng này (Wehby at all
1993).
Nghiên cứu của Qing Li đã đề xuất mô hình lý thuyết về bắt nạt và bạo lực
học đường với 5 yếu tố: Thể chất, xã hội, xúc cảm, các biến số bạo lực học
đường khác và nhóm các yếu tố như lực học, sự thành công trong học tập.
Nghiên cứu thực trạng để kiểm định mô hình lý thuyết được tiến hành ở học sinh
từ lớp 7 đến lớp 12 một số trường ở Trung Âu và cho thấy có mối liên hệ giữa
ở điều kiện cho phép. Ở Australia đã thiết lập cơ chế bảo hộ, phân công một em
lớn đưa đón một em lớn đưa đón một em nhỏ tới trường. Nét chung của các
chương trình chống bắt nạt quốc tế là sự tỷ mỷ, chu đáo, có hệ thống và tôn trọng
nhân cách của học sinh và phụ huynh.
Như vây, BLHĐ là một vấn đề nóng bỏng được quan tâm trên thế giới.
BLHĐ bao hàm trong nó nhiều khía cạnh đáng quan tâm như bạo lực giữa học
sinh và giáo viên, bạo lực giữa học sinh với học sinh, những nguyên nhân của
BLHĐ và các giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn BLHĐ. Các khía cạnh đó phần
nào đã được các tác giả trên thế giới đề cập tới trong các nghiên cứu của mình.
Tuy nhiên, về phương diện tâm lý học thì đây vẫn còn là một vấn đề khá mới mẻ
và cần được nghiên cứu nhiều hơn.
1.1.2 Những nghiên cứu về bạo lực học đường tại Việt Nam
15
Gần đây nhiều vụ bạo lực học đường xảy ra liên tục ở Việt Nam, kể cả
nữ giới, điều này đã làm mất đi cái nết của nhà trường. Nhà trường và phụ huynh
học sinh vẫn chưa có biện pháp giải quyết tình hình. Nhiều phụ huynh học sinh
phải gắng nhịn vì không muốn con mình bị trả thù, có một số học sinh cũng
không dám kể với ai khi bị bạn đánh vì sợ sẽ bị đánh nhiều hơn. Nhà trường
cũng không thể làm gì được, không thể đuổi học vì chính sách nhà nước là chống
mù chữ, nên khi biết học sinh giang hồ còn gây ra thêm nhiều vụ ẩu đả, nhà
trường còn khá lúng túng trong việc xử lý cho ổn thỏa và triệt để.
Tại hội thảo “Bạo hành trẻ em trong gia đình và nhà trường hiện nay
– thực trạng và giải pháp” do Viện Nghiên cứu Phát triển thành phố Hồ Chí
Minh phối hợp với trung tâm tư vấn FDC tổ chức ngày 27/5/2009 tại thành phố
Hồ Chí Minh đã đưa ra con số thống kê như sau: Ở Việt Nam, tỉ lệ người phạm
tội ở tuổi vị thành niên ngày một tăng, theo thống kê của Viện KSND Tối cao;
năm 1986 có 3.607 người; năm 1996 có 11.726 người. Tệ nạn xã hội trong giới
học đường theo chiều mũi tên đi lên; năm 2004 có 600 học sinh sinh viên nghiện
ma túy; năm 2007 tăng gấp đôi (1.234 người).
Khảo sát trên 1.000 học sinh do Viện Nghiên cứu Môi trường và Các
tâm đến hành vi đánh nhau của con gái”.
Về thái độ của những người xung quanh, gần như trong các clip đều thể
hiện thái độ bàng quan, vô cảm của những bạn trẻ đứng xung quanh, gần như
những người chung quanh chỉ hò reo, cổ vũ, thậm chí chăm chú quay video mà
không hề có sự can thiệp, ngăn cản hoặc tìm cách cứu giúp nạn nhân. Thái độ
này nếu không được quan tâm kịp thời sẽ dần hình thành trong các tâm lý của
lứa tuổi các em thói quen thờ ơ trước cái xấu, thậm chí còn vô tình đồng lõa
trước cái xấu đang diễn ra quanh mình.
17
Hàng loạt các nguyên nhân dẫn tới bạo lực ở môi trường học đường
được chuyên gia tâm lý, thầy cô mang ra “mổ xẻ” tại buổi hội thảo Phòng chống
bạo lực trong nhà trường do Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh
tổ chức ngày 9/4/2010 tại thành phố Hồ Chí Minh
Theo TS. Nguyễn Thị Bích Hồng, Phó trưởng Khoa Tâm lý Trường Đại
học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh: “Điểm xuất phát của tình trạng bạo lực
học đường ngày càng lan tràn như hiện nay là sự cô đơn bế tắc của trẻ. Cha mẹ
chạy theo kinh tế, thầy cô chạy theo giờ hành chính, người lớn thiếu lòng yêu trẻ
khiến các em không gần gũi, chia sẻ”.
PGS.TS Trần Tuấn Lộ, Trưởng khoa Tâm lý ĐH Văn Hiến, khẳng định:
“Cùng với sự phát triển của kinh tế và xã hội, thế hệ trẻ đang bị đầu độc bởi ma
lực của những trò chơi chém giết trong game, đồng thời cũng bị "nhiễm khuẩn”
từ chính những cảnh bạo hành trong gia đình và ngoài xã hội. Chính người lớn
đã góp phần không nhỏ làm tăng thêm tính hung hãn, côn đồ ở trẻ”.
Nhiều ý kiến khác cho rằng giáo dục trong nhà trường hiện thiên về dạy
chữ hơn dạy làm người. Một số giáo viên vẫn chưa gương mẫu, có những hành
vi xúc phạm, xâm hại học sinh. Hiện tượng đối xử không công bằng làm các em
bức xúc rồi trở nên quậy phá như một cách lấy lại cân bằng.
Về phía gia đình, nhiều bậc cha mẹ có tư tưởng khoán trắng việc giáo
dục con cái cho nhà trường. Chính sự thiếu chăm sóc về mặt tình cảm của cha
mẹ khiến trẻ có hành vi bạo lực để được cha mẹ quan tâm.
Tóm lại, BLHĐ hiện một vấn đề nóng, rất đáng được quan tâm với nhiều
nghiên cứu trên thế giới và cả ở Việt Nam. Những nghiên cứu về BLHĐ chủ yếu
nghiêng về khía cạnh bạo lực giữa học sinh và học sinh, với những mô tả và số
liệu cụ thể, những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng BLHĐ.
19
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Bạo lực học đường
1.2.1.1 Bạo lực
● Khái niệm bạo lực
Trên thế giới có rất nhiều quan niệm khác nhau về bạo lực. Lâu nay khái
niệm bạo lực vẫn thường được hiểu theo nghĩa hẹp của chuyên ngành chính trị
học. Với cách định nghĩa như vậy bạo lực vẫn thường được hiểu vói tính chất
của một phương thức vận động chính trị. “Bạo lực là dùng sức mạnh để trấn áp,
lật đổ” (Từ điển Tiếng Việt, 2003). “Bạo lực là sức mạnh dùng để trấn áp, chống
lại lực lượng đối lập hay lật đổ chính quyền” (Đại Từ điển Tiếng Việt, 1998)
Tuy nhiên không phải mọi hình thức bạo lực trong xã hội đều mang tính
chính trị, hướng vào việc lật đổ các đảng nhóm phe phái chính trị. Người ta có
thể dùng bạo lực để hành xử với nhau trong cuộc sống hàng ngày vì rất nhiều lí
do. Như vậy có thể nói rằng bạo lực là một hiện tượng xã hội. Nó là một phương
thức hành xử trong các mối quan hệ xã hội và tồn tại từ rất lâu trong lịch sử.
Với bản chất sử dụng sức mạnh với nhau trong các mối quan hệ xã hội,
bạo lực cũng có thể là những hình thức chém giết, đánh đập, triệt hạ nhau về mặt
thân xác, nhưng cũng có thể là trấn áp, đe dọa, gây sức ép về mặt tinh thần, tâm
lý. Chính vì vậy mà nhân loại tiến bộ từ lâu đã coi bạo lực là hành vi sai lệch.
Nhiều học thuyết đã đề cao lòng vị tha, khoan dung, tuyên truyền cho tư tưởng
“bất bạo động”. Nhiều tôn giáo còn kêu gọi lòng nhân ái không chỉ giữa con
người với nhau mà còn xót thương cả tới vạn vật sinh linh.
Theo trang Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì: Bạo lực là hành vi sử
dụng sức mạnh thể chất với mục đích gây thương vong, tổn hại hoặc giết một ai
đó.
viết rằng phần lớn vụ giết người thường bắt đầu từ những tranh cãi bình thường
21
giữa những người đàn ông không liên quan đến nhau và rồi leo thang lên bạo lực
và chết chóc. Ông cho rằng những xung đột như vậy xảy ra khi có tranh cãi về vị
thế giữa những người đàn ông cùng vị thế. Nếu có sự khác nhau lớn về địa vị
ngay từ ban đầu, cá nhân có địa vị thấp hơn thường không dám thách thức và nếu
có thách thức thì cũng bị cá nhân có địa vị cao hơn phớt lờ. Trong cùng một môi
trường có khoảng cách bất bình đẳng lớn, các cá nhân ở đấy có thể sử dụng bạo
lực để dành được vị thế cao hơn.
Trong “Tuyên ngôn về loại trừ bạo lực chống lại phụ nữ” do Đại hội
đồng Liên hiệp quốc thông qua năm 1993 cho rằng, bạo lực trong gia đình đối
với phụ nữ bao gồm “bất kỳ một hành động bạo lực dựa trên cơ sở giới nào dẫn
đến, hoặc có khả năng dẫn đến, những tổn thất về thân thể, về tình dục, hay tâm
lý, hay những đau khổ của phụ nữ, bao gồm cả sự đe dọa có những hành động
như vậy, sự cững bức hay tước đoạt một cách tùy tiện sự tự do (của phụ nữ), bất
kể trong đời sống riêng tư hay bên ngoài cộng đồng.” diễn ra trong gia đình
(United nations, 1995: 73).
Từ những quan điểm trên về bạo lực, tôi thực hiện nghiên cứu này dựa
trên quan điểm: bạo lực là dùng sức mạnh, quyền lực, lời nói để làm tổn
thương, xâm hại tới thể chất cũng như tinh thần của người khác.
● Các hình thức của bạo lực.
Bạo lực gồm có nhiều dạng, nhiều hình thức khác nhau, ta có thể nhắc
tới hai loại bạo lực được nói đến nhiều hơn cả là bạo lực thân thể và bạo lực tinh
thần.
+ Bạo lực thân thể (còn gọi là bạo lực thể chất): Bạo lực thân thể chiếm
khoảng 80% trong các tình huống bạo lực. Đây là loại bạo lực mà người gây ra
bạo lực dùng sức mạnh cơ bắp hoặc những công cụ, vũ khí để gây nên sự đau
đớn đối với nạn nhân. Hình thức phổ biến của dạng bạo lực này là bất cứ sự
đụng chạm thân thể nào mà bạn không muốn, ngăn trở bạn bằng bất cứ cách nào,
22
cô, nhà trường.
Hiện tượng học sinh đánh nhau là một thực tế không mới nhưng những
hiện tượng đánh nhau của học sinh ở một số nơi trong thời gian gần đây đã bộc
lộ những tính chất nguy hiểm và nghiêm trọng. Mâu thuẫn thường không lớn
nhưng lại được học sinh sử dụng những biện pháp đánh nhau có vũ khí, thậm chí
nguy hiểm đến tính mạng. Điều này rất đáng báo động và được xem như một tệ
nạn cần được xã hội nghiêm túc nhìn nhận và có biện pháp xử lý. Nguyên nhân
của những vụ việc trên có thể do học sinh bị tiêm nhiễm từ lối cư xử của các đối
tượng bên ngoài nhà trường, thậm chí là những người lớn trong gia đình. Nhiều
học sinh có cha mẹ hoặc người thân là những người hành nghề tự do trong xã hội
và có cách cư xử không đúng chuẩn mực. Chính những thói quen ứng xử hằng
ngày của họ đã vô tình gieo trong đầu các em những suy nghĩ không tốt, dẫn đến
việc các em có lối cư xử, hành xử không hay trong nhà trường với bạn bè.
Như vậy, bạo lực học đường là dùng sức mạnh, quyền lực, lời nói để
làm tổn thương, xâm hại tới thể chất cũng như tinh thần của người khác
trong phạm vi nhà trường, giữa học sinh với giáo viên hay giữa học sinh với
học sinh.
● Những hậu quả của bạo lực học đường
Những hành vi bắt nạt được lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ gây ra những tổn
thương thể chất hoặc tâm lý cho nạn nhân, và gây ảnh hưởng xấu đến môi trường
học tập chung vì các em học sinh không cảm nhận được sự an toàn ngay trong
chính ngôi trường của mình.
Các em bị bắt nạt lại thường bị cô lập nên không muốn đến trường vì
những bạn bè khác sẽ xa lánh do không muốn “cùng nhóm với kẻ đáng ghét”
24
hoặc “cùng nhóm với kẻ yếu thế” để bản thân cũng có thể trở thành nạn nhân bị
bắt nạt. Tình trạng bị bắt nạt kéo dài, ngoài ảnh hưởng xấu việc học tập, còn có
tác hại rất lớn đến sự phát triển của các em, cả về mặt xã hội lẫn cảm xúc. Các
em rất dễ bị trầm cảm và luôn có cảm giác thấp kém, những điều sẽ gây khó
khăn cho cuộc sống của các em ngay cả lúc đã ở tuổi trưởng thành.