Phóng sự Việt Nam 1932 - 1945 nhìn từ sự vận động của thể loại - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐINH PHƯƠNG OANH PHÓNG SỰ VIỆT NAM 1932 – 1945
NHÌN TỪ SỰ VẬN ĐỘNG CỦA THỂ LOẠI

LUẬN VĂN THẠC SỸ VĂN HỌC Hà Nội - 2009

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
3.2. Giai đoạn 1945 - 1985…………………………………………
3. 3. Giai đoạn từ 1986 đến nay………………………………
4. Phương pháp nghiên cứu
5. Kết cấu của luận văn
Trang
4
4
4
5
5
9
11
12
12
PHẦN NỘI DUNG…………………………………………………
CHƯƠNG1: THỂ LOẠI PHÓNG SỰ, QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH,
PHÁT TRIỂN CỦA THỂ LOẠI PHÓNG SỰ Ở VIỆT NAM 1932 – 1945
1.1. Những vấn đề lý luận chung về thể loại phóng sự
1.1.1. Nguồn gốc của thể loại phóng sự
1.1.2. Những quan điểm khác nhau về thể loại phóng sự………………
1.2. Quá trình hình thành và phát triển của phóng sự Việt Nam 1932 -
1945……………………………………………………………………….
1.2.1. Quá trình hình thành phóng sự ở Việt Nam 1932 – 1945………….
1.2.2. Các giai đoạn phát triển của phóng sự Việt Nam 1932 – 1945……
1.3. Đặc điểm của phóng sự Việt Nam 1932 – 1945…………………….
1.3.1. Phóng sự Việt nam 1932 - 1945 - một thể loại văn học mới trong
văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX
1.3.2. Phóng sự Việt Nam 1932 - 1945 là một thể loại văn chương đặc
biệt…
13

2.4. Phóng sự điều tra về sự hà khắc ở các nhà tù thực dân …………
CHƯƠNG 3: SỰ VẬN ĐỘNG TRONG NGHỆ THUẬT CỦA PHÓNG
SỰ VIỆT NAM 1932 – 1945………………………………
3.1. Phương thức tiếp cận đối tượng và phản ánh hiện thực
3.1.1. Tiếp cận hiện thực từ những điểm nhìn đặc biệt
3.1.2. Tiếp cận hiện thực từ những tư liệu xác thực để tạo niềm tin cho
độc giả
3.1.3. Sự xuất hiện của cái tôi nhân chứng, trần thuật thẩm định và cảm
xúc nội tâm
3.2. Phương thức tổ chức tình huống, dẫn dắt tình tiết sự
3.3. Nghệ thuật châm biếm và sử dụng ngôn ngữ trong phóng sự 1932
- 1945
3.3.1. Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ

31
31
31

36

43

43

48

54
59

63

4
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX văn học Việt Nam bước vào công cuộc
hiện đại hóa. Do ảnh hưởng của văn hóa, văn học phương Tây, văn học nước ta
đã dần thoát ra khỏi những ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến, cũng như những
quan điểm, hệ thống thi pháp phong kiến để hòa nhập với sự phát triển chung
của văn học thế giới. Trong quá trình hiện đại hóa văn học, cùng với các thể loại
như thơ, tiểu thuyết , thể loại phóng sự hình thành và đã không ngừng vận động
góp phần quan trọng làm nên “một thời đại” rực rỡ của văn học Việt Nam.
Cũng như phong trào Thơ mới và tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, những năm
1930 phóng sự ra đời và được coi là một thể loại văn học đặc sắc, hiện đại. Sự ra
đời của phóng sự không chỉ đáp ứng được nhu cầu nhận thức về hiện thực xã hội
Việt Nam những năm 1930 – 1945 mà còn đáp ứng được nhu cầu thưởng thức
của công chúng mới. Với những ưu thế riêng của thể loại, phóng sự đã nhanh

Trước những năm 1930 trong làng văn học và báo chí Việt Nam đã xuất
hiện những tác phẩm được coi là nền móng của phóng sự như một số tác phẩm
của Trương Vĩnh Ký, Phạm Quỳnh, Nguyễn Trọng Thuật…, nhưng phải đến
năm 1932 sau khi Tôi kéo xe của Tam Lang được đăng trên Hà Thành ngọ báo
(6/1932) thì thể loại phóng sự Việt Nam mới chính thức xuất hiện và phát triển.
Ngay sau khi Tôi kéo xe xuất hiện, tác phẩm đã tạo được một sự chú ý đặc biệt
và được dư luận rất hoan nghênh. Tuy nhiên, do giai đoạn 1932 – 1945 là giai
đoạn đầu tiên đánh dấu sự ra đời của phóng sự nên các công trình đề cập đến
phóng sự giai đoạn này chủ yếu tập trung vào những tác giả và tác phẩm cụ thể
tiêu biểu. Công trình nghiên cứu phê bình đầu tiên về thể loại phóng sự 1932 –
1945 là bài viết của Hoài Thanh in trên Tiểu thuyết thứ bảy, số 74 ra ngày 26
tháng 10 năm 1935. Trong bài viết của mình Hoài Thanh đã đưa ra những lời

6
khen ngợi những thành công mà Tam Lang đã đạt được trong phóng sự Tôi kéo
xe: “Nếu trong bao nhiêu người xem thiên phóng sự này, mà có một người nhân
đó mà để ý đến cái thế giới u ám của người kéo xe, biết động lòng trắc ẩn vì
người kéo xe, biết nới tay ra một tý trong lúc đi xe thì cái việc ông Tam Lang đã
làm là việc có ích rồi… Điều cần nhất cho một người phóng viên là biết nghe,
biết nhìn, biết tìm cái đáng tìm và biết gợi những câu chuyện đáng nghe, biết
quan sát vậy. Biết quan sát, rồi lại biết biểu diễn những điều quan sát được
thành câu văn. Ông Tam Lang có những tư cách ấy. Người ta thường khen ngợi
ngòi bút tả chân của ông thực không quá đáng” [65; 83]. Không chỉ có Hoài
Thanh ca ngợi Tôi kéo xe của Tam Lang mà, nhà phê bình Vũ Ngọc Phan trong
Nhà văn hiện đại cũng khẳng định: “Tôi kéo xe là một quyển phóng sự có giá
trị” [79; 562]. Giá trị của Tôi kéo xe không chỉ dừng lại ở việc đây là tác phẩm
mở đầu cho sự ra đời của thể loại phóng sự Việt Nam mà còn là một tác phẩm
thể hiện lối viết “tả chân” rất sắc sảo của Tam Lang. Vũ Ngọc Phan đã nhận
định: “Dù ở tác phẩm nào của Tam Lang, người ta cũng thấy cây bút của ông là
cây bút tả chân và châm biếm; ông nhạo đời để răn đời, chứ không bao giờ có

bút báo Tin văn về bài “Văn chương dân uế” ”đăng ở Hà Nội báo (29/3/1936)
và bài “Để đáp lời báo ngày nay: Dâm hay không dâm” đăng trên báo Tương lai
(25/3/1937) để thẳng thắn bác lại ý kiến của Thái Phỉ và Nhất Chi Mai đồng thời
khẳng định quan niệm văn chương tiến bộ của mình. Ông khẳng định: “các ông
muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết. Tôi và các nhà văn cùng chí hướng như tôi
muốn tiểu thuyết là sự thật ở đời…các ông muốn tiểu thuyết tùy thời, chỉ nói đến
cái gì thiên hạ thích nghe nhất là sự giả dối. chúng tôi chỉ muốn nói cái gì đúng
sự thật…” [51; 919]
Sau cái chết của Vũ Trọng Phụng, rất nhiều những lời ngợi ca của các nhà
văn cùng thời như Ngô Tất Tố, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Tuân, Trương Tửu…ca

8
ngợi về văn tài và đức sáng của Vũ Trọng Phụng. Nhà phê bình Trương Tửu đã
phân tích sâu sắc những giá trị tư tưởng và nghệ thuật mang đầy tính nghịch lý
trong mạch văn phóng sự của họ Vũ: "Ông làm phóng sự về con bạc, làm phóng
sự về đầy tớ, làm phóng sự về gái điếm, làm phóng sự về me tây. Ông viết ra bốn
quyển kiệt tác: Cạm bẫy người, Cơm thầy cơm cô, Lục xì, Kỹ nghệ lấy Tây - nền
móng đầu tiên của nghệ thuật phóng sự trong văn giới Việt Nam hiện đại. Viết
bốn quyển ấy, ông muốn lột trần cái hạ đẳng của xã hội. Trong các trang giấy
đó, không có sự khinh bỉ, không có lòng thương hại, không có ác ý mỉa mai.
Ngòi bút ông thật là khách quan và vô tư. Ông sợ cái đời hạ đẳng ấy. Cái sợ này
rất chính đáng. Ông đã thừa biết bọn người khốn nạn kia không bao giờ chờ
được ở xã hội một cứu tế thiết thực. Đó là hạng người muốn tiêu trừ hơn là cứu
vớt. Rơi xuống cái đẳng cấp ấy tức là trầm luân mãn kiếp và bị diệt vong
không để lại tiếng vang nào". Đặc biệt Tam Lang đã chân thành đánh giá cao tài
năng của Vũ Trọng Phụng: “Đọc những thiên phóng sự ấy, tôi nhận thấy rằng
Vũ Trọng Phụng, về mặt phóng sự - một lối văn do tôi khởi xướng ra đầu tiên -
đã bỏ xa tôi lắm” [72; 33].
Bên cạnh Tam Lang (bậc khai quốc thể phóng sự hiện đại), Vũ Trọng
Phụng (người đưa phóng sự Việt Nam 1932 – 1945 lên đỉnh cao), giai đoạn này

nghệ tại Việt Bắc, nhà thơ Tố Hữu đã trân trọng nói về công lao của Vũ Trọng
Phụng: “Vũ Trọng Phụng không phải là nhà cách mạng nhưng cách mạng cám
ơn Vũ Trọng Phụng đã vạch rõ cái thực xấu xa thối nát của xã hội ấy. Nếu Vũ
Trọng Phụng đi vào cuộc đời cách mạng thì anh ta đã thành công” [46; 157].
Năm 1950, trong bài giảng Muốn làm phóng sự, Nguyễn Đình Lạp đã đề
cao sự đóng góp của Vũ Trọng Phụng “là nhà phóng sự phong phú nhất, xuất
sắc nhất”. Tuy nhiên, khi những người cầm đầu nhóm Nhân văn - Giai phẩm đề
cao Vũ Trọng Phụng thì lập tức, các cây bút phê bình hướng sự phê phán vào

10
ông. Hoàng Văn Hoan trong Một vài ý kiến về vấn đề tác phẩm Vũ Trọng Phụng
trong Văn học Việt Nam đã coi Lục xì “đâu chỉ là lõa lồ dâm uế mà còn là cả
một ý thức thừa nhận thú tính, cổ lệ nhục dục”.
Sau ngày hòa bình lập lại (1954), đất nước bị chia cắt thành hai miền với
hai chế độ chính trị - xã hội khác nhau. Do đó việc nhìn nhận, đánh giá những
giá trị văn hóa, văn học của dân tộc ở hai miền cũng khác nhau. Tuy nhiên các
nhà nghiên cứu đều thống nhất trong việc đề cao, và ngợi ca giá trị của các tác
phẩm phóng sự trước cách mạng.
Một số công trình nghiên cứu văn học sử và giáo trình giảng dạy trong các
trường Đại học đã đề cập đên phóng sự 1932 – 1945 như: Sơ thảo lịch sử văn
học Việt Nam 1930-1945, Tổng tập văn học Việt Nam tập 29A, Giáo trình lịch sử
văn học Việt Nam tập V…Trong đó, cuốn: Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam
1930-1945 (NXB Văn học, H, 1964) đã dành gần 3 trang cho phóng sự giai đoạn
này. Tuy nhiên phần đánh giá lại có phần khắt khe và chưa thỏa đáng: “Phóng
sự 1930 – 1945 xét về cơ bản không thuộc trào lưu hiện thực. Nó có nhiều yếu tố
tự nhiên chủ nghĩa” [104]. Duy chỉ có hai phóng sự là Việc làng của Ngô Tất Tố
và Ngục Kon Tum của Lê Văn Hiến được đề cao. Năm 1978 trong Giáo trình
lịch sử văn học Việt Nam tập V Nguyễn Trác đã có cách nhìn nhận khách quan
và công bằng hơn về phóng sự giai đoạn 1932 – 1945. Ông đề cao ý thức nhập
cuộc của các nhà phóng sự và nội dung xã hội của phóng sự “Họ đã đi vào bóng

chọn và in một cách công phu, hệ thống như: Tuyển tập phóng sự Vũ Trọng
Phụng (NXB Văn học 1987), Phóng sự chọn lọc (NXB Hội nhà văn 1994)…
Đặc biệt nhất là tuyển tập Phóng sự Việt Nam 1932-1945 (NXB Văn học 2000)
gồm 3 tập giới thiệu 64 tác giả, 115 tác phẩm. Đây là công trình tuyển chọn công
phu, tâm huyết của các nhà nghiên cứu Phan Trọng Thưởng, Nguyễn Cừ,

12
Nguyễn Hữu Sơn, giúp cho người đọc có được cái nhìn tương đối toàn diện về
phóng sự giai đoạn này.
Như vậy, từ sau đổi mới đến nay, phóng sự đã và đang thu hút được sự
chú ý của giới nghiên cứu. Đã xuất hiện những công trình nghiên cứu phóng sự
nói chung trên bình diện rộng, khái quát.
Kế thừa những người đi trước, hoàn thành đề tài này, người viết mong
muốn góp một phần nhỏ vào việc nhận diện về sự vận động của thể loại phóng
sự 1932 - 1945 từ đó một lần nữa khẳng định những biến thiên của phóng sự
1932 - 1945 cũng như khẳng định thêm vai trò không thể thiếu của phóng sự giai
đoạn này trong tiến trình hiện đại hoá văn học dân tộc.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp so sánh - tổng hợp
- Phương pháp phân tích - chứng minh
- Phương pháp thống kê
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Thể loại phóng sự, quá trình hình thành và phát triển của thể loại
phóng sự Việt Nam 1932 - 1945
Chương 2: Sự vận động trong nội dung của phóng sự Việt Nam 1932 - 1945
Chương 3: Sự vận động trong nghệ thuật của phóng sự Việt Nam 1932 -
1945
phóng sự có thể là Giắclânđơn và Áptơn Xincle ở Mỹ với những tác phẩm như
Dân dưới vực thẳm hoặc Rừng. Trong cuốn Bách khoa toàn cầu (Encyclopedia
Universalis), xuất bản ở Pari 1991 thì cho rằng “phóng sự ra đời ở Mỹ trong

14
chiến tranh Nam Bắc (1861 - 1865). Phóng sự đã nhanh chóng xuất hiện trong
các báo Anglo - Saxonne và trên mục thời luận lúc đó. Các tác giả cuốn sách
này còn cho biết thể văn, báo này xuất hiện ở Mỹ sớm như vậy, nhưng thời điểm
đó ở Châu Âu, đặc biệt là Pháp, các kí giả nhận thức không đúng về thể loại này
nên sử dụng rất dè dặt” [29; 26, 27].
Không đồng nhất với ý kiến cho rằng phóng sự xuất hiện đầu tiên ở Châu
Âu có nhà nghiên cứu đưa ra quan điểm của mình cho rằng phóng sự ra đời ở
nước Nga, gắn liền với những biến động của cuộc cách mạng tháng Mười và tác
phẩm Mười ngày rung chuyển thế giới của nhà văn, nhà báo Mỹ Giôn Rít chính
là bằng chứng. Bên cạnh đó còn có ý kiến cho rằng phóng sự thực ra đã xuất
hiện ở Trung Quốc do có mầm mống từ các tác phẩm kí nổi tiếng trong văn học
cổ Trung Hoa như Sử kí của Tư Mã Thiên… Nhưng những ý kiến này lại chưa
có những luận cứ chắc chắn nên ít được chú ý.
Việc xác định nguồn gốc của thể loại phóng sự cho đến nay vẫn chưa được
khẳng định chính xác, tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu về thể
loại phóng sự phần lớn các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng, do sự biến động
của xã hội, cùng với nhu cầu thông tin ngày càng cao của công chúng và sự tham
gia tích cực của các nhà văn vào địa hạt báo chí đã thúc đẩy thể loại phóng sự ra
đời vào cuối thế kỉ XIX. Ngay khi vừa ra đời, phóng sự đã lập tức trở thành một
thể loại được yêu thích và phát triển rầm rộ. Đến đầu thế kỉ XX phóng sự đã
khẳng định được năng lực phản ánh hiện thực của mình. Đặc biệt ở phương Tây,
những thập kỉ đầu tiên của thế kỉ XX phóng sự đã thực sự thu hút sự chú ý của
công chúng với những tác phẩm của những cây bút nổi tiếng như Halibơctơn,
Larítxa Raixnơ, Guiliat Phuxích, Êgôn Ecsvin Kít… Đến thời kì này, phóng sự
hiện đại không còn tự giới hạn trong việc mô tả hiện thực trên bề mặt mà đạt tới


16
phải xác định, ít nhất bằng sự trả lời 5 câu hỏi: ai? Cái gì? ở đâu? Khi nào?
Như thế nào? Tại sao? cho phép đồng thời miêu tả và giải thích” [21; 29].
Còn với người Mỹ, những con người thực dụng lại luôn quan tâm đến việc
tìm được đúng người đứng ra đại diện cho quyền lợi của mình thì xem phóng sự
hấp dẫn nhất là ở chỗ có thể mô tả, tường thuật các cuộc họp. Thông qua những
bài phóng sự, độc giả biết được các cuộc cãi vã của các ông nghị trong Quốc hội.
Họ biết được ý kiến này hay dự định kia được thừa nhận hay bác bỏ tại Quốc hội
và điều đó gắn liền với quyền lợi của họ. Hai giáo sư bộ môn Báo chí trường Đại
học Tennesse - Mĩ: X.Tenlây Giôxon và Giulian trong cuốn sách Người phóng
viên toàn năng cho rằng “Phóng sự là một bài tường thuật hoặc một bài báo
được phát triển và xử lý một cách có tính văn học”. Quan niệm này công nhận
phóng sự là một thể tài báo chí có khả năng sử dụng các yếu tố văn học mà chất
lượng, giá trị tùy thuộc vào tài năng và nhân cách của người viết. Nhưng trọng
tâm được đặt vào khía cạnh thông tin, vào cách xử lý cụ thể tài liệu và sự việc.
Phóng viên phải có khả năng trả lời những câu hỏi sau: Chuyện gì xảy ra?
Chuyện ấy có liên quan đến những ai? Chuyện ấy diễn ra vào thời gian nào? Ở
đâu? Chuyện ấy diễn ra như thế nào và tại sao lại xảy ra chuyện ấy. Đồng tình
với quan điểm này nhà văn, nhà báo Mỹ Mark Twain cho rằng “phóng sự chỉ là
một sự ghi chép máy móc đơn thuần các sự việc chứ không phải là một công việc
sáng tạo”. Đây là cách nhìn phiến diện cho rằng phóng sự là thể tài ghi chép,
tường thuật đơn giản. Lịch sử phát triển của phóng sự cho thấy thể tài này không
chỉ dừng lại ở mức độ ghi chép, tường thuật sự kiện mà nó còn lý giải, tìm kiếm
nguyên nhân sự việc, cũng như gợi ý một hướng giải quyết.
Trong đời sống báo chí, văn học Việt Nam, phóng sự là thể loại tân văn, là
sản phẩm của công cuộc hiện đại hóa văn học. Khái niệm phóng sự lần đầu tiên
xuất hiện ở Việt Nam năm 1931 trong Việt Nam tự điển của hội Khai trí tiến đức.
Phóng sự được giải nghĩa là “Phóng sự: người hỏi tin cho nhà báo” [76; 441].


phóng sự có mục đích cụ thể trực tiếp, phạm vi và địa điểm được quy định chặt
chẽ. Đó là thể văn gần với khoa học hơn là nghệ thuật, giầu yếu tố thông tin hơn
là yếu tố trữ tình” [69]. Nghiên cứu về kí báo chí, Nguyễn Đức Dũng đã từng
coi phóng sự là một phần của kí báo chí. Trong cuốn Các thể kí báo chí, tác giả
Đức Dũng cho rằng: “Phóng sự là thể loại đứng giữa văn học và báo chí, có khả
năng trình bầy, diễn tả những sự kiện, con người, tình huống điển hình, trong
một quá trình phát sinh, phát triển dưới dạng một bức tranh toàn cảnh vừa khái
quát, vừa chi tiết sống động với vai trò quan trọng của nhân vật trần thuật và
bút pháp linh hoạt, ngôn ngữ giầu chất văn học” [5; 83].
Nhìn chung từ sau năm 1962, phần lớn các nhà nghiên cứu văn học và báo
chí ở Việt Nam đều thống nhất quan điểm phóng sự thuộc nhóm thể loại kí, là
thể loại đứng giữa là gạch nối giữa văn học và báo chí. Nhiệm vụ của phóng sự
không chỉ là mô tả những sự kiện đơn lẻ mà các sự kiện phải được xem xét trong
quá trình phát sinh, phát triển. Các vấn đề của phóng sự đề cập phải có tính thời
sự và phải liên quan đến hoạt động của con người. Đặc biệt các sự kiện đó phải
có ý nghĩa chính trị, xã hội nhất định.
Có thể nói rằng trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu về thể loại phóng
sự các nhà nghiên cứu đã đưa ra rất nhiều quan điểm khác nhau về thể loại
phóng sự. Tuy nhiên dù quan niệm như thế nào thì chúng ta vẫn phải thừa nhận
rằng, trong thời kỳ có sự biến thiên của xã hội và lịch sử nhanh chóng, phóng sự
chính là thể loại đầu tiên có thể bắt mạch sự kiện, có thể nhận xét đâu là nhân tố
mới, có thể làm bản kiểm kê của thời điểm một cách sinh động và hấp dẫn.
Trong thế giới hiện đại, phóng sự không còn dừng lại ở sự mô tả đơn giản. Nó đã
đạt tới sự chính xác và đa dạng trong việc trình bày hiện thực, một hiện thực
phức tạp liên tục phát triển và biến động bằng những chi tiết cụ thể, với một
năng lực khái quát cao. Với bút pháp giàu chất văn học và cái tôi trần thuật vừa

19
xúc cảm vừa trí tuệ, phóng sự đã chứng tỏ một cách sinh động rằng: việc thông
tin về hiện thực có thể trình bày một cách độc lập và có nghệ thuật.

nghèo vào tình thế hết sức bi thảm. Thực trạng xã hội với hình ảnh cùng quẫn
của tầng lớp trí thức tiểu tư sản và dân nghèo thành thị, sự phất lên của những
tên quan lại địa chủ theo Pháp… là mảng đề tài hiện thực nóng bỏng được các
nhà văn, nhà báo quan tâm. Một hiện thực bức xúc như vậy không dễ gì có thể
được khám phá và chuyển tải một cách thời sự, cập nhật nếu chỉ nhờ vào các thể
loại văn chương và báo chí thời ấy vốn có. Chính vì thế các nhà văn đã lựa chọn
“một lối tả thực như văn ký sự, trào phúng như văn châm biếm, cảm người ta
như văn tiểu thuyết, mà trong lại bao gồm tất cả lối bút chiến về việc, nói tóm
lại, dùng cái lối tạo nên một thể linh hoạt và có hiệu lực vô cùng: lối Phóng sự”
[79; 495]. Nhưng “lối văn này thật hoàn toàn mới ở nước ta” và chỉ “những văn
sĩ có tiếng”, “những văn sĩ ưa sống một cách bồng bột và gần gũi với cảnh sống
luôn thay đổi nên họ mới đi vào con đường Phóng sự” [79; 495]. Chỉ có phóng
sự mới giúp các nhà văn nhà báo có điều kiện khơi sâu vào hiện thực cuộc sống
muôn mầu muôn vẻ trên cả bề rộng lẫn chiều sâu, đáp ứng được yêu cầu khám
phá thực tại nhanh nhậy, chính xác, kịp thời. Phan Trọng Thưởng đã nhận định
“Phóng sự là một thể loại văn học – báo chí đặc biệt, ra đời trong một hoàn
cảnh đặc biệt”. [57; 5]
Thứ ba, sự phát triển của nền giáo dục quốc gia vào những năm 30 của thế
kỷ XX là một điều kiện tốt để tạo ra một lực lượng công chúng lớn ở Việt Nam.
Dân trí từng bước được nâng cao, ý thức cá nhân con người – xã hội nói chung
đã được đánh thức trên bề mặt của một thể chế xã hội không còn bình yên như
trước đã dẫn đến một nhu cầu thưởng thức mới mẻ. Công chúng đòi hỏi phải có
những tác phẩm văn học và báo chí vừa phản ánh cụ thể, chính xác về hiện thực

21
cuộc sống đa dạng, bề bộn, vừa gợi cảm trong lòng người đọc. Điều đó thúc đẩy
phóng sự ra đời và nhanh chóng trở thành một “Lối văn thật hoàn toàn mới ở
nước ta, và cũng như các nước” [79; 495].
1.2.2. Các giai đoạn phát triển của phóng sự Việt Nam 1932 - 1945
* Giai đoạn 1932 – 1939

cũng là giai đoạn phóng sự đạt được nhiều thành tựu rực rỡ, tạo nên một bước
tiến vững vàng cho các giai đoạn phát triển của nền phóng sự về sau.
* Giai đoạn 1940 – 1945
Bước sang giai đoạn 1940 - 1945 phóng sự Việt Nam có nhiều đổi mới
trong nội dung và nghệ thuật. Vẫn tiếp tục chủ trương lấy chuyện đời, chuyện xã
hội để nói, không nói về cái tôi giống như phóng sự ở giai đoạn trước, nhưng
phóng sự giai đoạn này không chỉ dừng lại ở những vấn đề xã hội ở thành thị (sự
phân hóa giầu nghèo, các tệ nạn xã hội và các hệ lụy…) mà nó có một sự mở
rộng về đề tài. Trong phóng sự 1940 - 1945 bên cạnh những đề tài cũ còn có
những đề tài mới như đời sống sinh hoạt văn hóa xã hội ở các vùng thôn quê
(cảnh đói nghèo, các hủ tục…). Ngoài ra phóng sự còn là một khu vực dành cho
các vấn đề khác của cuộc sống như bàn về các món ăn dân tộc, các tên phố tên
làng, các danh lam thắng cảnh, di tích văn hóa… Các cây bút phóng sự tiêu biểu
của giai đoạn này như Ngô Tất Tố với Việc làng (1940), Trọng Lang với Đời các
ông lang (1941), Xôi thịt (9145)… Nhiều đề tài cũ trong phóng sự giai đoạn
trước tiếp tục được khai thác ở những khía cạnh mới. Viết về đề tài thực trạng
xã hội ở các đô thị lớn các nhà văn không chỉ dừng lại ở nạn cờ bạc, mại dâm mà
còn quan tâm tới nạn nghiện hút đang diễn ra tràn lan ở các đô thị như, Tàn đèn
dầu lạc (1941) của Nguyễn Tuân, Cai (1940) của Vũ Bằng…
Những năm 40 thể tài du kí phát triển và mở rộng. Các tác phẩm du kí
không chỉ dừng lại ở việc miêu tả những cảnh đẹp thiên nhiên đất nước mà còn

23
trở thành những công trình khảo cứu về phong tục, về những di tích lịch sử, và
những danh lam thắng cảnh của đất nước. Ở đây có nhiều trang ghi chép khá sâu
sắc, chi tiết về văn hoá học, dân tộc học như: Tam Lang với Một ngày ở xứ
Chàm (1941), Vân Thạch Thăm chùa Bà Đanh (1942), Thạch Lam với Hà Nội
ba sáu phố phường (1943), Biểu Chánh với Hà Tiên du ngoạn (1943), Thiếu Sơn
với Ba lần xem hội chợ Sài Gòn (1942), Thành phố Sài Gòn (1944), Hai tháng ở
gò Óc Eo hay là câu chuyện đi đào vàng (1944-1945)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status