Thực trạng rác thải sinh hoạt và các hoạt động bảo vệ môi trường tại Hà Nam (nghiên cứu trường hợp tại huyện Kim Bảng và huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ ÁI
THỰC TRẠNG RÁC THẢI SINH HOẠT VÀ CÁC HOẠT
ĐỘNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI HÀ NAM
(Nghiên cứu trường hợp tại huyện Kim Bảng và huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam) LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Hà Nội – 2013 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ ÁI

6.2. Phạm vi nghiên cứu 17
7. Câu hỏi nghiên cứu 17
8. Giả thuyết nghiên cứu 17
9. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu 18
9.1. Phương pháp luận 18
9.2. Phương pháp nghiên cứu 19
10. Khung lý thuyết 21
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 22
1.1. Hệ thống khái niệm 22
1.1.1. Khái niệm rác thải sinh hoạt 22
1.1.2. Khái niệm môi trường và hoạt động bảo vệ môi trường 23
1.1.3. Khái niệm Nông thôn 24
1.2. Các lý thuyết áp dụng 25
1.2.1. Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý 25
1.2.2. Lý thuyết hành động xã hội của Max Weber (1864-1920 27
1.3. Chủ trƣơng xã hội hóa lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng 28
1.4. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 32 2
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG RÁC THẢI SINH HOẠT TẠI HUYỆN
KIM BẢNG VÀ HUYỆN LÝ NHÂN 36
2.1. Đặc điểm chung về điều kiện sống của ngƣời dân trong mẫu khảo
sát 36
2.2. Thực trạng nhận thức của ngƣời dân tại huyện Kim Bảng và huyện
Lý Nhân về vấn đề môi trƣờng và bảo vệ môi trƣờng 42
2.3. Các loại rác thải sinh hoạt, lƣợng rác thải sinh hoạt và hình thức
xử lý rác thải sinh hoạt của ngƣời dân tại Kim Bảng và Lý Nhân 49
2.3.1. Các loại rác thải sinh hoạt tại Kim Bảng và Lý Nhân 49
2.3.2. Lượng rác thải sinh hoạt hàng ngày của các hộ gia đình tại Kim

PHỤ LỤC 114
1.Bảng hỏi 114
2.Câu hỏi phỏng vấn sâu 127
3.Một số hình ảnh rác thải sinh hoạt tại huyện Kim Bảng và huyện Lý
Nhân 129

4
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Nghề nghiệp của các đối tượng khảo sát tại Hà Nam
36
Bảng 2.2: Tương quan giữa trình độ học vấn với mức độ quan tâm…
43

89
Bảng 3.8: Hình thức xử lý rác thải sinh hoạt tại Kim Bảng và Lý Nhân
90
Bảng 3.9: Mong muốn của người dân về tổ chức đứng ra thực hiện các
hoạt động bảo vệ môi trường…
97
DANH MỤC BIỂU ĐỔ
Biểu đồ 2.1: Trình độ học vấn của đối tượng khảo sát ở tỉnh Hà Nam
37
Biểu đồ 2.2: Điều kiện nhà ở của người dân
38
Biểu đồ 2.3: Điều kiện nhà vệ sinh của người dân
39
Biểu đồ 2.4: Các nguồn nước ăn phổ biến của người dân (%)
41
Biểu đồ 2.5: Chất lượng nguồn nước theo đánh giá của người dân (%)
41
Biểu đồ 2.6: Đánh giá của người dân về thực trạng môi
51
Biểu đồ 2.7: Vấn đề ô nhiễm môi trường nhất tại Hà Nam (%)
52
Biểu đồ 2.8: Lượng rác thải sinh hoạt trung bình 1 ngày của hộ gia đình
59
Biểu đồ 2.9: Hình thức xử lý rác thải sinh hoạt
63
Biểu đồ 3.1: Các tổ chức tham gia truyền thông bảo vệ môi trường
75
Biểu đồ 3.2: Các tổ chức tham gia hoạt động dọn dẹp vệ sinh định kỳ
83
Biểu đồ 3.3: Hiệu quả của hoạt động dọn dẹp vệ sinh định kỳ

nhất là kĩ thuật sản xuất, nhiều loại giấy, hộp đóng gói được làm chủ yếu bằng
ni lông, nhựa thiếc rất tiện lợi, góp phần làm thay đổi phong cách và tập quán
sinh hoạt của nhiều người dân từ nông thôn đến thành thị. Chính nhờ những
dịch vụ chăm sóc khách hàng đó cùng với sự phát triển của xã hội mà nhu cầu
sinh hoạt của con người ngày càng tăng cao và luôn được đáp ứng kịp thời.
Song bên cạnh những mặt tích cực ấy là lượng rác thải sinh hoạt thải ra môi
trường ngày càng nhiều, đặc biệt ở những khu vực có mật độ dân cư đông
đúc, tốc độ phát triển kinh tế xã hội nhanh. Rác thải được thải ra môi trường

6
lúc đầu là một túi nhỏ, dần dà chúng “tập kết” thành từng đống, làm cho cảnh
quan môi trường bị thay đổi theo chiều hướng tiêu cực và tác động trực tiếp
đến đời sống của người dân. Rõ ràng, để có thể phát triển về kinh tế các quốc
gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng cũng đã phải đánh đổi rất
nhiều các nguồn tài nguyên thiên nhiên và chấp nhận một môi trường sống
đang ngày càng bị ô nhiễm.
Về khía cạnh không gian, các vấn đề về ô nhiễm môi trường thường gắn liền
với các khu vực đô thị- nơi tập trung đông đúc dân cư, nhà máy, xí nghiệp…
tuy nhiên đó đã là một câu chuyện cũ bởi hiện nay khu vực nông thôn - lá
phổi của quốc gia ở rất nhiều nơi cũng đã và đang bị ô nhiễm một cách
nghiêm trọng như việc sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật bừa bãi, việc
bỏ trống khâu xử lý chất thải ngành chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, chất thải
làng nghề… phần nhiều nguyên nhân trong số đó xuất phát từ sự gia tăng dân
số, thay đổi các thói quen tiêu dùng và thói quen trong sản xuất.
Ở góc độ chính sách, trong những năm vừa qua số lượng các chính sách có
liên quan tới lĩnh vực bảo vệ môi trường ngày càng nhiều, các quy định cũng
ngày càng chặt chẽ và bám sát diễn biến của đời sống xã hội. Sự gia tăng
nhanh chóng về mặt số lượng cũng như sự chặt chẽ các chính sách của Nhà
nước liên quan tới lĩnh vực bảo vệ môi trường cho thấy hai vấn đề: (i) Nhà
nước ngày càng quan tâm hơn tới các vấn đề bảo vệ môi trường trong quá

người thì nông thôn vẫn được coi là rất trong lành và sạch sẽ. Tuy nhiên, hiện
nay vấn đề ô nhiễm môi trường nói chung và vấn đề rác thải sinh hoạt nói
riêng tại các vùng nông thôn đang là một báo động lớn và rất cần nhận được
sự hỗ trợ trong công tác thu gom và xử lý. Trước khi đi vào từng công trình
nghiên cứu cụ thể có liên quan gián tiếp đến đề tài, dưới đây là số liệu tổng
quát về tình hình rác thải sinh hoạt của nước ta năm 2012:

8
Như chúng ta đã biết: Chất thải rắn sinh hoạt nông thôn phát sinh từ các
nguồn: Các hộ gia đình, chợ, nhà kho, trường học, bệnh viện, cơ quan hành
chính chất thải rắn sinh hoạt khu vực nông thôn có tỷ lệ chất hữu cơ khá
cao, chủ yếu là từ thực phẩm thải, chất thải vườn và phần lớn đều là chất hữu
cơ dễ phân hủy (tỷ lệ các thành phần dễ phân hủy chiếm tới 65% trong chất
thải sinh hoạt gia đình ở nông thôn). Với dân số hơn 60 triệu người sống ở
khu vực nông thôn, lượng phát sinh chất thải của người dân ở các vùng nông
thôn khoảng 0,3 kg/người/ngày, ta có thể ước tính lượng rác thải sinh hoạt
phát sinh khoảng 18,21 tấn/ngày, tương đương với 6,6 triệu tấn/năm. Vùng
Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung và Đồng
bằng sông Cửu Long có lượng rác phát sinh lớn nhất do có mức độ sản xuất
nông nghiệp cao.
Tình trạng sử dụng hóa chất trong nông nghiệp như phân bón hóa học,
thuốc bảo vệ thực vật đang diễn ra tràn lan, thiếu kiểm soát. Do đó, các
chất thải rắn như chai lọ, bao bì đựng hóa chất bảo vệ thực vật, vỏ bình phun
hóa chất: thuốc trừ sâu; thuốc trừ nấm; thuốc trừ chuột; thuốc trừ bệnh; thuốc
trừ cỏ tăng lên đáng kể và không thể kiểm soát. Theo số liệu thống kê của
Tổng cục Môi trường, Tổng cục Thống kê, Tổng cục Hải quan, mỗi năm
Việt Nam sử dụng khoảng 35.000 đến 37.000 tấn hóa chất bảo vệ thực vật.
Việc sử dụng phân bón cũng phát sinh các bao bì, túi chứa đựng. Số liệu sơ
bộ cho thấy, tổng lượng phân bón vô cơ các loại được sử dụng 2,4 triệu
tấn/năm. Như vậy, mỗi năm thải ra môi trường khoảng 240 tấn thải lượng

quan quản lý, biện pháp xử lý đúng kỹ thuật và người dân vẫn chưa có ý thức
đổ rác theo quy định. Việc thu gom, xử lý chất thải từ bao bì, chai lọ hóa
chất bảo vệ thực vật hiện còn nhiều hạn chế. Đây là chất thải rắn thuộc danh
mục chất thải nguy hại cần phải thu gom, xử lý đúng quy định. Nhưng thực tế,

10
các loại vỏ bao bì, vỏ chai hóa chất bảo vệ thực vật thường bị vứt bừa bãi tại
ruộng, góc vườn, hoặc nguy hiểm hơn, có trường hợp còn vứt ngay đầu nguồn
nước sinh hoạt. [19]
Dưới đây là tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
nghiên cứu luận văn: “Thực trạng rác thải sinh hoạt và các biện pháp bảo vệ
môi trường tại Hà Nam”.
Dự án: “Nâng cao năng lực bảo vệ môi trường và xây dựng mô hình thí điểm
hệ thống thu gom, xử lý rác thải” tại Thị trấn Đồng Văn, Duy Tiên, Hà Nam
do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hà Nam thực hiện dưới sự tài trợ của
chương trình SEMLA, trong dự án này có 2 mục tiêu hết sức quan trọng được
đặt ra: “xây dựng một mô hình thu gom rác, tự quản bảo vệ môi trường với sự
tham gia của đông đảo nhân dân và các tổ chức xã hội. Đồng thời với việc
tuyên truyền phổ biến chính sách, kỹ năng hoạt động bảo vệ môi trường để
nâng cao nhận thức và trình độ hiểu biết khả năng tự bảo vệ môi trường của
cộng đồng” [18]. Các hoạt động của dự án đã mang lại những thay đổi tích
cực trong hoạt động bảo vệ môi trường không chỉ tại Đồng Văn mà tại nhiều
khu vực lân cận với các hoạt động của đội thu gom rác thải và hàng loạt các
hoạt động truyền thông môi trường.
Dự án SES/1/03: “Nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường và sản xuất an
toàn thực phẩm. Xây dựng mô hình hợp tác xã dịch vụ bảo vệ môi trường tại
xã Khắc Niệm, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh” do Tổ chức hợp tác phát triển
quốc tế Thuỵ Điển (SIDA) tài trợ đã hướng đến công tác tuyên truyền, nâng
cao nhận thức cho người dân[23]. Các nội dung có lồng ghép với Luật Bảo vệ
môi trường và phát triển bền vững. Trong báo cáo của dự án, các biện pháp

trưng văn hoá môi trường cho cộng đồng này. Mặc dù vậy, kết quả dự án

12
cũng đồng thời cho thấy những thách thức khi một cộng đồng “tự lực” giải
quyết vấn đề môi trường của mình mà không có những hỗ trợ từ bên ngoài.
Kết quả nghiên cứu của dự án trình diễn: “Xây dựng mô hình xã hội hoá để
giải quyết những vấn đề chất thải rắn cho 4 xã: Thi Sơn, Ngọc Sơn, Văn Xá
và Thị trấn Quế ở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam” do PGS.TS Nguyễn Thị
Kim Thái và PGS.TS Nguyễn Thị Loan thực hiện cho thấy tính cấp thiết của
việc xây dựng và đẩy mạnh các mô hình xã hội hoá bảo vệ môi trường khi mà
những tác động tiêu cực từ ô nhiễm môi trường (chủ yếu rác thải) ngày càng
hiển hiện rõ rệt trong khi tính đồng thuận của cộng đồng trong các hoạt động
bảo vệ môi trường và sự quyết liệt của chính quyền địa phương chưa được thể
hiện rõ [20]. Kết thúc báo cáo đánh giá, nhóm tác giả đã đưa ra những phương
án lựa chọn xây dựng mô hình phù hợp với điều kiện thực tế của các địa
phương. Tuy nhiên báo cáo chủ yếu tập trung nhiều vào các phân tích kĩ thuật
về thu gom và xử lý rác chưa chưa đi sâu đánh giá nhận thức của cộng đồng
về hoạt động bảo vệ môi trường và những thách thức đối với tính bền vững
của các mô hình thu gom rác thải.
Nghiên cứu về: “Vai trò của tôn giáo trong việc bảo vệ môi trường ở Việt
Nam” của tác giả PSG.TS Nguyễn Quang Hưng minh chứng rằng tín ngưỡng,
tôn giáo có vai trò to lớn trong lịch sử Việt Nam. Trong nghiên cứu của mình,
tác giả đã đưa ra các quan điểm của Đảng và Nhà nước xác nhận về vai trò
của tôn giáo, tín ngưỡng trong đời sống xã hội. Tác giả khẳng định, những
nhận thức về vai trò của tôn giáo đã tạo điều kiện cho các tôn giáo tham gia
sâu rộng vào các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong rất nhiều vai trò khác
nhau của tôn giáo thì ông đã có đề cập tới vai trò của tôn giáo trong bảo vệ
môi trường. Tác giả cũng đã nhấn mạnh rằng, vấn đề được thế giới quan tâm
từ nhiều thập kỷ nay, nhưng còn mới mẻ ở Việt Nam, nơi hầu như chưa có
những công trình nghiên cứu về vấn đề vai trò của tôn giáo trong hoạt động

14
năm 2011 cũng đã chỉ ra rất rõ được thực trạng rác thải rắn trên địa bàn thị
trấn Yên Thành và chỉ ra được công tác quản lý rác thải hiện nay ở thị trấn
đồng thời tìm ra được các mô hình quản lý rác thải hiện nay có trong cộng
đồng dân cư [28]. Ngoài ra nghiên cứu cũng chỉ ra được những yếu tố ảnh
hưởng tới công tác quản lý rác thải ở thị trấn Yên Thành và tìm ra các giải
pháp để nâng cao hiệu quả công tác quản lý rác thải. Tuy nhiên, các yếu tố tác
động đến công tác quản lý rác thải chưa được tác giả phân tích một cách rõ
ràng và kỹ lưỡng, mới chỉ dẫn ra các lý do chung chung. Điều này sẽ ảnh
hưởng đến việc đưa ra các giải pháp cho việc nâng cao hiệu quả công tác quản
lý rác thải tại địa phương.
“Nghiên cứu thực trạng thu gom rác thải sinh hoạt tại thị trấn Anh Sơn-huyện
Anh Sơn-tỉnh Nghệ An và đề xuất một số giải pháp quản lý thích hợp” của tác
giả Nguyễn Duy cũng đã phân tích, làm rõ thực trạng vấn đề rác thải sinh hoạt
đang tồn tại ở thị trấn Anh Sơn; các thành phần rác thải; nguồn gốc phát sinh
các loại chất thải sinh hoạt; các hoạt động thu gom rác thải sinh hoạt tại Anh
Sơn và đưa ra được một số đề xuất giải pháp quản lý thích hợp về công tác
thu gom rác thải sinh hoạt, tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở cấp độ các đô thị, thị
trấn chưa bao quát chung đến cả các vùng nông thôn.[6]
Đề tài cấp bộ: “Hiện trạng và giải pháp quản lý, tái sử dụng rác thải sinh
hoạt khu vực đô thị tại thành phố Thái Nguyên” do đại học Nông lâm thực
hiện; Nguyễn Ngọc Nông là chủ nhiệm đề tài đã phân tích các loại rác thải
sinh hoạt hiện nay, sự ảnh hưởng của chúng đến sức khỏe con người [14].
Ngoài ra nghiên cứu cũng đã đề cập đến hiện trạng quản lý, xử lý rác thải sinh
hoạt trên Thế giới và ở Việt Nam. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đã tập trung
làm rõ hiện trạng rác thải sinh hoạt tại các phường, xã thành phố Thái
Nguyên. Điều tra, đánh giá nguồn phát sinh và thành phần rác thải sinh hoạt.
Đánh giá về hiện trạng thu gom, xử lý, vận chuyển rác thải sinh hoạt. Nhận

15

rác thải sinh hoạt nói riêng, đồng thời chỉ ra được các hoạt động bảo vệ môi
trường hiện nay ở Hà Nam, phân tích đánh giá những mặt làm được và chưa
làm được của các biện pháp bảo vệ môi trường từ đó cung cấp những kiến
nghị để xây dựng hoạt động bảo vệ môi trường hiệu quả, góp phần giải bài
toán ô nhiễm môi trường tại Hà Nam.
4. Đối tƣợng nghiên cứu
Thực trạng rác thải sinh hoạt và các hoạt động bảo vệ môi trường tại Hà Nam.
5. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Mục đích nghiên cứu
Phân tích, làm rõ thực trạng vấn đề rác thải sinh hoạt tại 2 huyện Kim Bảng
và Lý Nhân tỉnh Hà Nam. Chỉ ra được các hoạt động bảo vệ môi trường đang
diễn ra tại địa phương, đánh giá hiệu quả của các hoạt động đó. Đồng thời đưa
ra được những kiến nghị nâng cao hiệu quả của hoạt động bảo vệ môi trường
tại Hà Nam.
5.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu vấn đề rác thải sinh hoạt tại Lý Nhân và Kim Bảng cụ thể chỉ ra
được các vấn đề có liên quan đến rác thải sinh hoạt như thành phần các loại
rác thải, lượng rác thải và các hình thức xử lý rác thải sinh hoạt của người
dân.
- Phân tích các hoạt động bảo vệ môi trường tại Lý Nhân và Kim Bảng gồm
nội dung các hoạt động bảo vệ môi trường; hình thức hoạt động; hiệu quả của
các hoạt động bảo vệ môi trường.
- Đánh giá mong muốn của người dân về các tổ chức tham gia thực hiện hoạt
động bảo vệ môi trường tại địa phương.
- Đề xuất kiến nghị để tăng cường sự tham gia của các tổ và cộng đồng vào
các hoạt động bảo vệ môi trường.

17
6. Khách thể, phạm vi nghiên cứu
6.1. Khách thể nghiên cứu

Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là phương pháp
luận quan trọng giúp người nghiên cứu trong quá trình nhìn nhận và đánh giá
vấn đề nghiên cứu. Theo đó, quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng cho
rằng mọi sự vật, hiện tượng đều nằm trong mối quan hệ ảnh hưởng qua lại lẫn
nhau. Không có sự vật, hiện tượng nào tồn tại một cách độc lập, riêng rẽ.
Đứng trên góc độ của quan điểm này khi nhìn vào các vấn đề môi trường
cũng như các hoạt động bảo vệ môi trường tại Hà Nam chịu tác động bởi rất
nhiều các yếu tố xung quanh: từ chính hoạt động sinh hoạt hàng ngày, hoạt
động sản xuất kinh doanh của người dân địa phương, ý thức của người dân,
biến đổi khí hậu…đã có tác động qua lại rất lớn đối với môi trường. Do đó, để
có thể tìm hiểu và lý giải được các vấn đề môi trường cũng như hoạt động bảo
vệ môi trường ở Hà Nam, chúng ta cần phải xem xét nó trong mối tương quan
với rất nhiều các nhân tố khác. Trong nghiên cứu này, chủ nghĩa duy vật biện
chứng là cơ sở để chỉ ra các vấn đề ô nhiễm môi trường cũng như các hoạt
động bảo vệ môi trường trong mối quan hệ với các đặc điểm kinh tế, xã hội,
đặc trưng văn hoá… của người dân tại địa bàn nghiên cứu.
Mặt khác, theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, mọi sự vật đều tồn
tại trong tính không gian và thời gian xác định, luôn vận động, biến đổi. Bản
thân các vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường - mặc dù vẫn luôn là một
thách thức “cố hữu” của nhân loại trong nhiều thế kỷ nay, tuy nhiên nó lại
không phải là một hiện tượng bất biến, nó vẫn có sự vận động và biến đổi
theo thời gian. Ngày nay, Đảng và Nhà nước ta kêu gọi các tổ chức, mọi cá
nhân cùng chung tay giữ gìn, bảo vệ môi trường và trong đó có một tổ chức
có tính chất đặc thù hơn cả đó là các tổ chức tôn giáo. Như vậy, chủ nghĩa duy
vật lịch sử có một ý nghĩa quan trọng về phương pháp luận trong việc đánh

19
giá thực trạng các vấn đề môi trường cũng như các hoạt động bảo vệ môi
trường đang diễn ra tại Hà Nam.
9.2. Phƣơng pháp nghiên cứu

Lý Nhân
Xã có người dân theo tôn giáo
khác hoặc không theo tôn giáo
Thụy Lôi, Đại Cương
Nhân Nghĩa, Xuân Khê
Xã có người dân theo Công Giáo
Lê Hồ
Đồng Lý
Với số liệu định tính: gồm phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm, đề tài tập trung
khai thác thêm thông tin từ các nhóm đối tượng có liên quan tới đề án tại 2
huyện Kim Bảng và Lý Nhân của tỉnh gồm: Người dân, trưởng/phó thôn, cán
bộ xã, người thu gom rác, đại diện các tổ chức tham gia bảo vệ môi trường.
Các thông tin định lượng trong đề tài này được nhập và xử lý bằng phần mềm
SPSS 11.5, các thông tin định tính được xử lý bằng phần mềm NVIVO 7.0.
● Phương pháp phỏng vấn sâu
Phương pháp này sử dụng nhằm thu thập, làm rõ thêm các thông tin mà bảng
hỏi còn hạn chế. Đồng thời tác giả khai thác thêm một số thông tin liên quan
đến ý kiến đánh giá của người dân, cán bộ chính quyền địa phương, đoàn thể
về vấn đề rác thải sinh hoạt và các hoạt động bảo vệ môi trường hiện nay tại
các địa phương.
+ Nhóm người dân: 6 người
+ Nhóm đại diện chính quyền, các tổ chức tham gia bảo vệ môi trường:
4 người



Truyền
thông MT
Dọn vệ
sinh định
kỳ

Xây dựng
quy chế
BVMT

Xây dựng
đội thu
gom rác

Trồng, bảo
vệ cây
xanh

Xử lý
nguồn
nước

Xây dựng
hầm
biogas

Điều kiện kinh tế xã hội
Các hoạt động
bảo vệ môi

sinh từ các hộ gia đình, khu công cộng, khu thương mại, khu xây dựng, bệnh
viện, khu xử lý chất thải…
- Thành phần rác thải sinh hoạt bao gồm: Rau, thực phẩm thừa, chất hữu
cơ dễ phân hủy, cây gỗ, giấy, bao bì carton, nhựa, cao su, vải sợi, vật liệu sợi,
kim loại, rơm, rạ, xác động vật v.v…
- Phân loại rác thải sinh hoạt: Có rất nhiều cách phân loại chất thải khác
nhau. Việc phân loại chất thải hiện nay chưa có những quy định chung thống
nhất, tuy nhiên bằng những nhìn nhận thực tiễn của hoạt động kinh tế và ý
nghĩa của nghiên cứu quản lý đối với chất thải, có thể chia ra các cách phân
loại sau đây:
 Phân loại theo nguồn gốc phát sinh gồm có:
+ Chất thải từ các hộ gia đình hay còn gọi là chất thải hay rác thải sinh hoạt
được phát sinh từ các hộ gia đình.
+ Chất thải từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, thương mại: là những chất
thải có nguồn gốc phát sinh từ các ngành kinh tế như công nghiệp, nông
nghiệp, dịch vụ.
 Phân loại chất thải theo thuộc tính vật lý gồm có: chất thải rắn, chất thải
lỏng, chất thải khí.
 Phân loại chất thải theo tính chất hóa học: theo cách này người ta chia
chất thải dạng hữu cơ, vô cơ hoặc theo đặc tính của vật chất như chất thải
dạng kim loại, chất dẻo, thủy tinh, giấy, bìa…
 Phân loại theo mức độ nguy hại đối với con người và sinh vật: chất thải

23
độc hại, chất thải đặc biệt. Mỗi cách phân loại có một mục đích nhất định
nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu, sử dụng hay kiểm soát và quản lý chất
thải có hiệu quả. [14]
1.1.2. Khái niệm môi trƣờng và hoạt động bảo vệ môi trƣờng
- Khái niệm môi trường
Theo Cục bảo vệ môi trường có đưa ra định nghĩa về môi trường như sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status