Pháp luật Việt Nam về xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

LÊ THỊ NGỌC VÂN PHÁP LUẬT VIỆT NAM
VỀ XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU THEO THỜI HIỆU LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2014



HÀ NỘI - 2014
Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.

Tác giả luận văn Lê Thị Ngọc Vân

8
1.1.3.
Khái niệm động sản và bất động sản
11
1.2.
Khái niệm quyền sở hữu
13
1.2.1.
Khái niệm sở hữu
13
1.2.2.
Khái niệm quyền sở hữu
14
1.2.3.
Nội dung quyền sở hữu theo Pháp luật dân sự Việt Nam
16
1.3.
Căn cứ xác lập quyền sở hữu
20
1.3.1.
Khái niệm
20
1.3.2.
Các căn cứ xác lập quyền sở hữu
21
1.4.
Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu
24
1.4.1.
Khái niệm về xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu

Hạn chế của xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu
45
2.2.
Thực tiễn áp dụng qui định xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu
46
2.2.1.
Những tranh chấp tại Tòa án liên quan đến qui định xác lập
quyền sở hữu theo thời hiệu
48
2.2.2.
Những căn cứ được áp dụng xác lập quyền sở hữu theo thời
hiệu trong giải quyết tranh chấp tại Tòa án
56
2.2.3.
Khó khăn cho công tác xét xử khi giải quyết các tranh chấp
57
2.3.
Bất cập của xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu
58
2.3.1.
Về lý luận
58
2.3.2.
Qui định của pháp luật còn thiếu và không phù hợp với thực tế
65

Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XÁC LẬP
QUYỀN SỞ HỮU THEO THỜI HIỆU
68
3.1.

3.3.
Một số kiến nghị hoàn thiện qui định xác lập quyền sở hữu
theo thời hiệu trong pháp luật dân sự Việt Nam
78
3.3.1.
Kiến nghị về việc thống nhất các qui định pháp luật về xác
lập quyền sở hữu có liên quan đến yếu tố thời hiệu thành "Các
trường hợp xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu"
79
3.3.2.
Kiến nghị về điều kiện xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu
80
3.3.3.
Kiến nghị về "thời hiệu" trong qui định xác lập quyền sở hữu
theo thời hiệu
82

KẾT LUẬN
86

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
89 1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Tài sản và quyền sở hữu là chế định quan trọng, chiếm vị trí lớn trong

Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn
cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn
mười năm đối với động sản, ba mươi năm đối với bất động sản thì
trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu,
trừ trường hợp qui định tại khoản 2 Điều này [27, Điều 247].
Tuy nhiên, quá trình áp dụng thực tế đã chứng tỏ nhiều bất cập trong
việc xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu cũng như giải quyết các tranh chấp
khác về tài sản và quyền sở hữu có liên quan, chính vì vậy học viên đã chọn
đề tài "Pháp luật Việt Nam về xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu" để làm
luận văn thạc sĩ Luật chuyên ngành Luật dân sự. Đây là một đề tài có ý nghĩa
thiết thực về mặt lý luận và thực tiễn trên cơ sở áp dụng thực tế trong quá
trình giải quyết các tranh chấp về tài sản và quyền sở hữu. Thông qua luận văn
này, học viên hy vọng sẽ có những đóng góp tích cực trong việc hoàn thiện
hơn qui định của Pháp luật Việt Nam về xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu.

2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Mặc dù xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu là một qui định quan
trọng trong Bộ luật dân sự Việt Nam nói riêng và pháp luật Việt Nam từ trước
đến nay nói chung, song các qui định ấy khi đi vào cuộc sống đã bộc lộ nhiều
bất cập. Tuy có nhiều ý kiến khác nhau và không ít lần vấn đề này được đưa
ra bàn bạc, nhằm tìm một giải pháp hữu hiệu cho việc khắc phục những
nhược điểm trong áp dụng pháp luật, song những giải pháp được đưa ra tất cả
chỉ mang tính chất tạm thời, thực tế chưa có một đề tài nào nghiên cứu cụ thể
về vấn đề này. Trước mắt, Bộ luật dân sự chưa có kế hoạch sửa đổi bổ sung,
nhưng xét thấy việc hoàn thiện qui định xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu
làm sao cho phù hợp với tình hình thực tế của các mối quan hệ xã hội, đồng
thời là công cụ pháp lý hữu hiệu cho việc giải quyết các vấn đề liên quan, để

3



thời hiệụ, những bất cập của qui định pháp luật Việt Nam từ trước tới nay về
xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử,
- Phương pháp hệ thống hóa, tổng hợp và phân tích các tư liệu,
- Phương pháp so sánh,
- Phương pháp khảo sát, thống kê.
5. Những đóng góp mới của đề tài
Là công trình khoa học phân tích một cách có hệ thống các qui định
của pháp luật Việt Nam về xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu qua các thời
kỳ lịch sử, làm rõ thực trạng áp dụng các qui định pháp luật vào thực tiễn các
mối quan hệ xã hội về tài sản và quyền sở hữu, trên cơ sở đó phát hiện những
bất cập trong qui định pháp luật, đưa ra những giải pháp hữu hiệu cho việc
hoàn thiện pháp luật trong tương lai. Từ đó có thể thấy luận văn có những
đóng góp cụ thể về mặt khoa học cũng như thực tiễn:
- Phân tích một số vấn đề lý luận về tài sản, quyền sở hữu và những
qui định pháp luật hiện hành về xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu.
- Phân tích thực trạng áp dụng pháp luật và những bất cập:
+ Bất cập trong việc xác định đối tượng áp dụng của qui định
+ Bất cập trong việc giải quyết các tranh chấp về tài sản và quyền sở
hữu tại Tòa án liên quan đến việc xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu.
+ Bất cập về mâu thuẫn giữa thời hiệu xác lập quyền sở hữu và thời
hiệu khởi kiện tranh chấp về thừa kế? Cần phải giải quyết như thế nào?
+ Bất cập về xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu với các qui định của
Luật đất đai và Luật nhà ở hiện hành.
- Đưa ra những đề xuất hoàn thiện pháp luật về xác lập quyền sở hữu
theo thời hiệu.


LÝ LUẬN CHUNG
VỀ XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU THEO THỜI HIỆU

1.1. KHÁI NIỆM TÀI SẢN VÀ QUYỀN SỞ HỮU
1.1.1. Khái niệm tài sản
Tài sản là một khái niệm quen thuộc, là một phần không thể thiếu của
cuộc sống, là công cụ của đời sống con người. Tuy nhiên, tài sản dưới góc độ
pháp lý lại không hoàn toàn giống quan niệm đời thường. Dưới góc độ pháp
lý, nhận thức về tài sản và phân loại tài sản có vai trò rất quan trọng trong
việc tạo lập các qui định pháp luật và giải quyết các tranh chấp. Đã có rất
nhiều định nghĩa khác nhau về tài sản trong lịch sử lập pháp và nghiên cứu
pháp luật thế giới.
Vậy tài sản là gì? Deluxe Back’s Law Dictionary giải nghĩa: "Tài sản là
một từ được sử dụng chung để chỉ mọi thứ là đối tượng của quyền sở hữu, hoặc
hữu hình hoặc vô hình, hoặc bất động sản hoặc động sản." Các luật gia theo
hệ thống Common Law cũng có những định nghĩa về tài sản như sau: "Theo
nghĩa rộng, tài sản như một mớ quyền (a bundle of rights), tài sản là bất kể
những gì có khả năng sở hữu, hoặc bởi cá nhân, tập thể hoặc cho lợi ích của
người khác", các định nghĩa như vậy về tài sản thường nhấn mạnh tới tài sản là
một mớ quyền được thiết lập trên vật có hiệu lực chống lại những người khác.
Theo Luật La mã, tài sản hay vật (res) là những vật chất đáp ứng nhu
cầu của con người và có ý nghĩa kinh tế - xã hội, tài sản bao gồm vật chất liệu
và tài sản phi chất liệu - đó là các quyền.
Bộ luật dân sự 1804 của Pháp - một công trình pháp điển
hóa hiện đại đầu tiên trên thế giới - đã không đưa ra một định nghĩa
cụ thể nào về tài sản. Song theo những đặc tính căn bản của pháp
luật La Mã - Đức về việc giải thích các quy tắc pháp lý hay khái
niệm pháp lý, người ta có thể hiểu được rằng, tài sản nói trong Bộ

7


8

Tiếp đó, Điều 188 của Bộ luật này bổ sung: "Quyền tài sản là quyền
trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự, kể cả
quyền sở hữu trí tuệ" [23, Điều 188]
Khái niệm tài sản theo Bộ luật dân sự 2005 đã mở rộng hơn Bộ luật
dân sự 1995 về những đối tượng nào được coi là tài sản, Điều 163 Bộ luật dân
sự 2005 (Bộ luật dân sự hiện hành) qui định: "Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy
tờ có giá và các quyền tài sản" [27, Điều 163]. Theo đó, không chỉ những "vật
có thực" mới được gọi là tài sản mà cả những vật được hình thành trong
tương lai cũng được gọi là tài sản.
Từ những phân tích như trên có thể hiểu tài sản là lợi ích vật chất mà
con người kiểm soát được nhằm thỏa mãn các nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng,
nhu cầu sản xuất kinh doanh.
1.1.2. Phân loại tài sản
Tài sản là một chế định quan trọng của luật dân sự, trong đó
việc phân loại tài sản có một ý nghĩa rất lớn, bởi lẽ tài sản là công cụ
của đời sống xã hội. Nó liên quan tới hàng loạt các vấn đề pháp lý
như: thuế, bảo đảm nghĩa vụ dân sự, thừa kế, hiệu lực của hợp đồng,
bắt giữ và bán tài sản, công khai các quyền tài sản, thương mại, tư
pháp quốc tế [41].
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về việc phân loại tài sản, song có
thể nói, phân loại tài sản chính là cơ sở cho việc nhận thức đầy đủ về tài sản,
không có sự phân loại thì sẽ không thể hiểu được khái niệm tài sản.
Không những thế, phân loại tài sản còn là cơ sở để có thể thiết lập các
quy chế cụ thể cho việc điều tiết các hành vi pháp lý như hành vi mua bán,
trao đổi và cả xác lập quyền sở hữu đối với tài sản. Ở mỗi loại tài sản khác
nhau lại có một quy chế riêng phù hợp, ví dụ: quy chế về thời hạn, thời hiệu,
điều kiện thực hiện hành vi …

Bộ luật dân sự 1804 của Pháp phân loại tài sản thành hai loại là bất
động sản và động sản, mà trong đó bất động sản được chia thành bất động sản

10

do tính chất, bất động sản do mục đích sử dụng và bất động sản do có đối
tượng gắn liền với nó; động sản bao gồm động sản do tính chất và động sản
do luật định.
Ngoài ra, xem xét tới các đặc tính vật lý thực tế của tài sản trong khoa
học pháp lý, theo các căn cứ khác nhau người ta có nhiều cách phân loại tài
sản khác nhau như: vật tiêu hao và vật không tiêu hao; vật chia được và vật
không chia được; vật cùng loại và vật đặc định; vật chính và vật phụ Nhưng
quan trọng nhất và trên hết tất cả là cách phân loại tài sản truyền thống chia
tài sản thành bất động sản và động sản.
Theo PGS.TS Ngô Huy Cương, ngày nay cách phân loại tài
sản thành động sản và bất động sản "được áp dụng cho tất cả các
nguồn của cải kể cả tài sản hữu hình (là các vật chất liệu) và tài sản
vô hình (có liên quan tới các quyền)" [41]. Ông phân tích: "Xuất
phát từ cách phân loại cơ bản này, người ta thiết kế một hệ thống qui
định chi tiết đối với bất động sản so với động sản. Có một số quyền
chỉ có thể tồn tại trên bất động sản như dịch quyền và một số khác
thì tồn tại trên cả động sản và bất động sản như quyền hưởng dụng.
Do đặc tính vật lý của bất động sản là cố định, nên người ta dễ dàng
thiết kế một hệ thống đăng ký tài sản (bất động sản) để công khai
hóa các quyền nhằm thông báo cho các chủ nợ. Vì vậy dẫn tới việc
người ta có thể tạo ra hệ thống các quyền phức tạp hơn trên bất động
sản. Ví dụ một số Bộ luật dân sự không yêu cầu phải chiếm hữu
thực tế bất động sản trong việc đưa bất động sản ra để bảo đảm cho
nghĩa vụ (thế chấp) giống chức năng của mortgage (để đương) trong
Hệ thống Thông luật (Common Law), nhưng lại không cho phép

trên hoặc dầu khí, mỏ khoáng chất ở dưới mảnh đất đó. Động sản (personal
property)có nghĩa ngược với bất động sản, là những thứ có thể di chuyển
được và không gắn liền với đất đai, hoặc những tài sản khác được pháp luật
qui định là bất động sản. Những thứ có thể dỡ ra khỏi mảnh đất như nhà di

12

động, lều, nhà tạm thì không được xem là bất động sản. Sự khác biệt về khái
niệm giữa "bất động sản" và "động sản" là ở chỗ: bất động sản được chuyển
nhượng cùng với đất đai, còn động sản thì không. Một số tài liệu lịch sử đã
xác nhận lần đầu tiên thuật ngữ "bất động sản" được sử dụng vào năm 1666.
Điều này chứng tỏ sự coi trọng của giai cấp phong kiến đối với đất đai cũng
như quyền sử dụng đất.
Bộ luật dân sự Pháp qui định: "Tài sản là bất động sản do tính chất, do
mục đích sử dụng hoặc do đối tượng gắn liền với tài sản" [15, Điều 517]. Tuy
không có một khái niệm cụ thể về bất động sản, nhưng bằng phương pháp liệt
kê, có thể hiểu bất động sản theo qui định trong Bộ luật dân sự Pháp chính là
những tài sản có tính chất không dịch chuyển được như đất đai, các công trình
xây dựng, các bộ phận được gắn liền với đất đai hoặc đặt trên các công trình
xây dựng, kể cả cây cối, mùa màng khi chưa thu hái, chặt, đốn; súc vật mà
người chủ sở hữu ruộng đất giao cho người thuê đất canh tác với thỏa thuận là
dùng vào việc canh tác khi chúng gắn liền với đất đai, hạt giống, nông cụ
được dùng vào việc khai thác ruộng đất cũng là bất động sản.
Trước ngày ban hành Bộ luật dân sự, trong hệ thống Pháp luật Việt
Nam không có một văn bản pháp luật nào qui định về động sản và bất động
sản. Trong pháp luật kinh tế, chúng ta chỉ sử dụng hai thuật ngữ là tài sản cố
định và tài sản lưu động để phân biệt với nhau. Khi Bộ luật dân sự 1995 được
ban hành, theo thông lệ và tập quán quốc tế, Bộ luật dân sự 1995 đã chia tài
sản thành bất động sản và động sản trên cơ sở phương pháp loại trừ. Dựa vào
thuộc tính tự nhiên của tài sản là có thể dịch chuyển cơ học được hay không

Tài sản và sở hữu có mối quan hệ mật thiết với nhau, là hai mặt của
một vấn đề. Ngay từ buổi đầu sơ khai của xã hội loài người, con người đã biết
chiếm giữ hoa quả tự nhiên, chim thú săn bắn được, những công cụ giản đơn
để phục vụ nhu cầu sống và tồn tại của mình. Tuy thời kỳ này chưa có sự
phân biệt rõ rệt về khái niệm "sở hữu" đối với tư liệu sản xuất và sức lao

14

động, nhưng về bản chất, sở hữu chính là sự chiếm giữ và đối tượng của
chiếm giữ chính là các sản vật của tự nhiên hay những thành quả lao động của
loài người, tất cả những đối tượng ấy được gọi bằng một cái tên chung là tài
sản. Nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử, xã hội, triết học… đều thống
nhất rằng sở hữu chính là một phạm trù kinh tế mang yếu tố khách quan xuất
hiện và phát triển song song cùng với sự phát triển của xã hội loài người.
Quan hệ sở hữu chính là mối quan hệ giữa người với người trong quá trình
chiếm hữu và sản xuất ra của cải, vật chất của xã hội, quan hệ sở hữu là cơ sở
hạ tầng và tương ứng với nó là một kiến trúc thượng tầng nhất định, đó chính
là hình thái kinh tế xã hội. Trên cơ sở phân tích các hình thái kinh tế xã hội,
C.Mác đã chỉ ra quy luật tự nhiên của quan hệ sở hữu, ở bất cứ nền sản xuất
nào cũng có việc con người chiếm hữu những đối tượng của tự nhiên trong
phạm vi một hình thái kinh tế xã hội nhất định. Vì vậy, sở hữu chính là một
phạm trù kinh tế.
1.2.2. Khái niệm quyền sở hữu
Quan hệ sở hữu xuất hiện và ưu thế luôn thuộc về những người có
quyền sở hữu của cải vật chất và tư liệu sản xuất, những người này thuộc giai
cấp thống trị của xã hội. Là một hình thái trong kiến trúc thượng tầng, pháp
luật về sở hữu ghi nhận và củng cố địa vị, lợi ích của giai cấp thống trị đối với
việc chiếm giữ và định đoạt các của cải vật chất trước các giai cấp khác. Vì
vậy quyền sở hữu chính là một công cụ pháp lý xác nhận và bảo vệ các quyền
lợi của các chủ sở hữu trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản.

sản [27, Điều 164].
Tóm lại, quyền sở hữu hiểu theo nghĩa khách quan là tổng hợp các qui
phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát
sinh trong lĩnh vực chiếm hữu, sử dụng và định đoạt các tư liệu sản xuất và tư
liệu tiêu dùng gọi chung là tài sản.
Quyền sở hữu hiểu theo nghĩa chủ quan là quyền của chủ sở hữu đối
với tài sản của mình. Chủ sở hữu có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt
tài sản theo qui định của pháp luật.

16

1.2.3. Nội dung quyền sở hữu theo Pháp luật dân sự Việt Nam
Theo qui định của Bộ luật dân sự 2005, quyền sở hữu là những quyền
năng dân sự đối với tài sản. Điều 164 Bộ luật dân sự 2005 qui định: "Quyền
sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản
của chủ sở hữu theo qui định của pháp luật" [27], đây chính là những quyền
dân sự cụ thể của chủ sở hữu đối với tài sản. Những quyền dân sự này hợp
thành nội dung của quyền sở hữu.
* Quyền chiếm hữu
Quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ, quản lý tài sản thuộc sở hữu của
mình. Trong trường hợp chủ sở hữu tự chiếm hữu tài sản của mình thì chủ sở
hữu thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, quản lý tài sản.
Đó cũng là quyền kiểm soát, làm chủ và chi phối vật theo ý chí của mình.
Việc chiếm hữu của chủ sở hữu là chiếm hữu có căn cứ pháp luật không bị
hạn chế và gián đoạn về thời gian.
Tuy nhiên, trong thực tế đời sống hàng ngày xảy ra trường hợp có
những người không phải là chủ sở hữu nhưng vẫn chiếm hữu tài sản đó. Vấn
đề đặt ra là sự chiếm hữu trong những trường hợp này có hợp pháp hay
không? Vì vậy, cần phân biệt rõ hai loại chiếm hữu là chiếm hữu hợp pháp
(chiếm hữu có căn cứ pháp luật) và chiếm hữu không hợp pháp (chiếm hữu

người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật theo qui định tại Điều 189 Bộ
luật dân sự nhưng không biết và không thể biết việc chiếm hữu của mình là
không dựa trên cơ sở pháp luật. Ví dụ: Mua phải hàng do phạm tội mà có
nhưng không biết và không có khả năng biết điều ấy, mua tài sản của người
không phải chủ tài sản, không được chủ tài sản ủy quyền nhưng không thể
biết việc ấy.
Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật không ngay tình đó là trường
hợp người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật biết đó là việc chiếm hữu bất
hợp pháp hoặc tuy không biết nhưng thuộc trường hợp pháp luật buộc phải
biết là mình chiếm hữu không dựa trên cơ sở pháp luật. Ví dụ: Người mua

18

biết là tài sản do phạm tội mà có nhưng vì ham rẻ mà vẫn cố tình mua…
Việc xác định chiếm hữu bất hợp pháp là ngay tình hay không ngay
tình trên thực tế hết sức khó khăn, do vậy phải dựa vào nhiều yếu tố: trình độ
nhận thức, thời gian, địa điểm, giá trị tài sản, Việc phân biệt này có ý nghĩa
quan trọng trong thực tiễn nhằm bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu đồng thời
cũng bảo vệ quyền lợi của người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng
ngay tình. Trong trường hợp chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng
ngay tình, nếu chiếm giữ liên tục, công khai trong thời hạn do luật định, hết
thời hạn đó người chiếm hữu có thể trở thành chủ sở hữu tài sản mà mình
chiếm hữu (theo qui định từ Điều 239 đến Điều 244, và Điều 247 Bộ luật dân
sự). Ngoài ra, người chiếm hữu còn "có quyền khai thác công dụng, hưởng hoa
lợi, lợi tức từ tài sản theo qui định của pháp luật" [27, Điều 194, Khoản 2].
Ngược lại, người chiếm hữu bất hợp pháp không ngay tình thì trong mọi
trường hợp phải trả lại tài sản kể cả hoa lợi, lợi tức thu được từ việc khai thác
công dụng của tài sản, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.
* Quyền sử dụng
Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức

không còn trong thực tế như sử dụng hết hoặc tiêu hủy tài sản. Tuy nhiên, đối
với một số loại tài sản thì khi thực hiện quyền định đoạt phải tuân theo những
qui định khác của pháp luật. Theo qui định của pháp luật chủ sở hữu có thể tự
mình thực hiện quyền định đoạt hoặc ủy quyền cho người khác thực hiện
quyền định đoạt tài sản (thông qua việc bán đại lý hàng hóa). Để thực hiện
quyền định đoạt thì chủ sở hữu hoặc người được chủ sở hữu ủy quyền phải
đảm bảo năng lực chủ thể theo qui định của pháp luật, chẳng hạn lập di chúc
hoặc bán nhà thì nguyên tắc phải từ đủ 18 tuổi trở lên, có khả năng nhận thức
và điều khiển hành vi để tránh tình trạng bị lừa dối hay bị cưỡng ép,
Tuy nhiên theo pháp luật Việt Nam, quyền định đoạt của chủ sở hữu
bị hạn chế chỉ trong trường hợp do pháp luật qui định. Qui định này nhằm
mục đích ngăn chặn các cơ quan có thẩm quyền hoặc người có thẩm quyền

Trích đoạn CĂN CỨ XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU 1 Khỏi niệm Cỏc căn cứ xỏc lập quyền sở hữu Khỏi niệm về xỏc lập quyền sở hữu theo thời hiệu Phỏp luật một số nƣớc về xỏc lập quyền sở hữu theo thời hiệu Quỏ trỡnh phỏt triển và hoàn thiện của phỏp luật Việt Nam về xỏc lập quyền sở hữu theo thờihiệu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status