ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
***
ĐỖ THỊ HỒNG MAI
PHÂN CẤP
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật
Mã số : 60 38 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
12
1.2.2. Khái niệm phân cấp quản lý nhà nước về xây dựng
26
1.2.3. Mục tiêu, quan điểm, nguyên tắc phân cấp quản lý nhà
nước về xây dựng
32
1.2.3.1. Mục tiêu phân cấp
32
1.2.3.2. Các quan điểm, nguyên tắc phân cấp
33
Chương 2. Thực trạng phân cấp quản lý nhà nước về xây
dựng
35
2.1. Quá trình phân cấp quản lý giữa Chính phủ và Uỷ ban nhân
dân cấp tỉnh trong từng thời kỳ là một tất yếu khách quan
35
2.2. Thực trạng phân cấp quản lý nhà nước giữa trung ương và địa phương
37
2.3. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan quản lý
nhà nước về xây dựng
40
2.3.1. Chính phủ
40
2.3.2. Bộ Xây dựng
40
2.3.3. Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nh©n d©n
cÊp tØnh
45
2.3.4. Cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp
huyện
85
Chương 3. Phương hướng, giải pháp, lộ trình thực hiện phân
cấp quản lý nhà nước về xây dựng
87
3.1. Phương hướng thực hiện phân cấp quản lý nhà nước về xây
dựng
87
3.1.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về xây dựng
87
3.1.2. Hoàn thiện quy trình phân cấp quản lý nhà nước về xây
dựng
88
3.1.3. Đổi mới tổ chức bộ máy quản lý về xây dựng ở địa
phương
88
3.1.4. Đổi mới công tác về tài chính công và xã hội hóa một số
hoạt động trong xây dựng
90
3.1.5. Tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ thông
tin trong quản lý xây dựng
90
3.2. Giải pháp đổi mới, tăng cường phân cấp quản lý nhà nước
về xây dựng
90
3.2.1. Về thể chế
91
3.2.2. Về tổ chức bộ máy
100
3.2.3. Về đội ngũ cán bộ công chức
101
sang nền hành chính mới (phân quyền rộng rãi, mạnh mẽ, chuyển giao cho
chính quyền địa phương quyền tự quản, tự quyết các công việc của mình
theo luật định, cấp trên chỉ thực hiện sự kiểm tra, giám sát về mặt pháp luật
đối với những công việc đã phân giao cho địa phương). Việt Nam cũng như
nhiều nước trên thế giới coi việc tăng cường phân cấp trung ương- địa
phương là một trong những nhiệm vụ then chốt của công cuộc cải cách nền
hành chính nhà nước hiện nay.
Quan điểm về phân cấp ở nước ta đã được thể hiện trong các văn kiện
của Đảng. Hội nghị Trung ương 8 khóa VII đã khẳng định: "Chính phủ và cơ
quan hành chính các cấp tập trung quản lý vĩ mô "; "Xác định rành mạch cụ
thể trách nhiệm và thẩm quyền quản lý của Bộ và chính quyền địa phương
phù hợp với tính chất, đặc điểm của từng ngành, từng lĩnh vực ". Hội nghị
Trung ương 3 khóa VIII tiếp tục khẳng định: "Chính phủ và bộ máy hành
chính nhà nước thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị,
kinh tế, văn hóa xã hội, quốc phòng an ninh và đối ngoại theo đúng chức
năng phù hợp với cơ chế mới"; "phân định trách nhiệm, thẩm quyền giữa các
cấp chính quyền theo hướng phân cấp rõ hơn cho địa phương, kết hợp chặt
chẽ quản lý ngành và quản lý lãnh thổ". Tại Đại hội Đảng lần thứ IX, quan
điểm về phân cấp được đặt trong bối cảnh “đẩy mạnh cải cách tổ chức và
hoạt động của Nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế, quản lý xã
hội bằng pháp luật” [42]. Nghị quyết cũng xác định “phân cấp mạnh và toàn
diện giữa các cấp trong hệ thống hành chính nhà nước” là một trong những
định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm “đẩy mạnh cải cách hành chính” là
công việc quan trọng quyết định thành công của công cuộc đổi mới, chương
trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001- 2010 khái quát
hóa mục tiêu phân cấp quản lý trung ương- địa phương. Điều 16 của Luật Tổ
chức Chính phủ năm 2001 giao Chính phủ nhiệm vụ “quyết định và chỉ đạo
thực hiện phân công, phân cấp quản lý ngành và lĩnh vực trong hệ thống
hành chính nhà nước” [2]. Trong khi Luật chưa lường hết các tình huống
phân cấp thì việc giao Chính phủ quy định về phân cấp cho từng ngành, lĩnh
chất lượng và hiệu quả của các dự án đầu tư xây dựng chưa đạt yêu cầu, tình
hình xây dựng vẫn diễn ra lộn xộn, vi phạm trật xây dựng như xây nhà không
có giấy phép xây dựng hoặc sai giấy phép xây dựng diễn ra phổ biến trên các
thành phố lớn mà không được giải quyết triệt để, đùn đẩy trách nhiệm giữa
các cơ quan quản lý nhà nước.
Thực hiện Nghị quyết số 08/2004/NQ-CP ngày 30/6/2004 của Chính
phủ về việc tiếp tục đẩy mạnh phân cấp quản lý nhà nước giữa Chính phủ và
chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Nghị
quyết 08/2004/NQ-CP), ngành xây dựng đã thực hiện việc phân cấp cho cấp
dưới trong các lĩnh vực thuộc chức năng quản lý của ngành, góp phần vào
công cuộc cải cách hành chính chung của quốc gia, tạo điều kiện thuận lợi
cho việc hội nhập với thế giới. Nếu phân cấp mạnh hơn nữa, đổi mới, cải
cách hành chính hơn nữa sẽ góp phần thúc đẩy công tác đầu tư trong nước,
thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài, đưa trật tự xây dựng vào nề nếp,
cải thiện cơ bản kiến trúc đô thị. Việc phân cấp trong xây dựng sẽ tạo điều
kiện cho môi trường đầu tư phát triển, tạo quyền chủ động cũng như tăng
cường thẩm quyền, vai trò và trách nhiệm cho cấp dưới, góp phần vào công
tác quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn, tạo thuận lợi cho các chủ đầu tư
nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư và chất lượng các công trình xây dựng, tăng
cường quản lý trật tự xây dựng ở từng địa phương.
Phân cấp quản lý nhà nước tuy không phải là vấn đề hoàn toàn mới về
lý luận và thực tiễn nhưng vẫn còn là vấn đề bức thiết của nhà nước và xã
hội mà chúng ta phải tiếp tục thực hiện. Trong xây dựng, phân cấp cũng trở
thành một vấn đề có tính thời sự, bức xúc, cần được nghiên cứu một cách cơ
bản, có hệ thống. Do vậy, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “Phân cấp
quản lý nhà nước về xây dựng”.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Từ năm 1985, nước ta đã thực hiện đổi mới về phân cấp quản lý trung
ương - địa phương. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đều bị chi phối bởi
cơ chế cũ, tuy có các nghiên cứu đề xuất thực hiện phân cấp nhưng thực chất
chủ và tự chịu trách nhiệm của mỗi cấp chính quyền, nâng cao chất lượng
giải quyết công việc quản lý nhà nước về xây dựng, phục vụ tốt hơn nhu cầu
và lợi ích của các tổ chức, cá nhân trong xã hội.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về phân cấp quản lý nhà nước.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng phân cấp quản lý nhà nước trong 5 lĩnh
vực: đầu tư xây dựng; vật liệu xây dựng; nhà ở và công sở; kiến trúc, quy
hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng nông thôn; hạ tầng kỹ thuật đô thị.
- Kiến nghị một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả quản lý
nhà nước về xây dựng.
3.3. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ luận văn, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu phân cấp
quản lý nhà nước về xây dựng giữa Bộ Xây dựng với Uỷ ban nhân dân các
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Sở Xây dựng, Sở Kiến trúc Quy
hoạch, Bộ Xây dựng với một số Bộ ngành liên quan theo chức năng, nhiệm vụ
được giao.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Thu thập các tài liệu văn bản có liên quan đến nội dung nghiên cứu phân cấp.
- Khảo sát, thu thập các thông tin, dữ liệu liên quan để phân tích, đánh
giá thực trạng vấn đề cần nghiên cứu.
- Sử dụng phương pháp phân tích, so sánh và đánh giá một cách
nghiêm túc đầy đủ về thực trạng phân cấp và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
của các cấp quản lý nhà nước về xây dựng.
- Phương pháp nghiên cứu bổ trợ như dự báo, thống kê để tổng hợp
và phân tích các kết quả nghiên cứu.
5. Đóng góp mới của Luận văn
- Làm rõ một số khái niệm liên quan như: phân cấp, trao quyền, tản
quyền, uỷ quyền trong quản lý hành chính.
- Luận chứng được sự cần thiết phải tăng cường và đẩy mạnh việc
thực hiện phân cấp quản lý nhà nước về xây dựng ở nước ta.
đảm thực hiện bởi hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước.
Xây dựng là một ngành kinh tế- kỹ thuật có vai trò quan trọng trong
nền kinh tế quốc dân, có những đặc điểm khác biệt so với các ngành, lĩnh
vực khác bởi nó luôn gắn liền với đất đai, vốn đầu tư chiếm tỷ trọng lớn, có
ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của Nhà nước, quyền, nghĩa vụ của mọi
người dân trong xã hội. Các chính sách về phát triển đô thị, quản lý quy
hoạch xây dựng, kiến trúc đô thị, đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng kỹ
thuật, khu đô thị mới, cấp giấy phép xây dựng… được triển khai sâu rộng
trong cuộc sống góp phần thay đổi diện mạo đô thị và nông thôn Việt Nam.
Nhiều lĩnh vực hoạt động xây dựng như khảo sát, thiết kế công trình, thi
công xây dựng đã có bước trưởng thành lớn, có thể thiết kế được những công
trình có quy lớn, hiện đại, nhanh chóng tham gia vào quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế.
Hoạt động xây dựng là hoạt động lập quy hoạch xây dựng, lập và quản
lý dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng
công trình, thi công xây dựng công trình, giám sát thi công xây dựng công
trình, lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng và các hoạt động khác có
liên quan đến xây dựng công trình nhằm tạo lập môi trường sống thích hợp
cho người dân sống tại các vùng lãnh thổ, bảo đảm kết hợp hài hòa giữa lợi
ích quốc gia với lợi ích cộng đồng, đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế-
xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường.
Xây dựng có liên quan đến lợi ích Nhà nước và lợi ích công cộng nên
bất cứ một quốc gia nào từ các nước đang phát triển đến các nước phát triển
cũng phải chú trọng, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước. Qua đó mới phân
định rõ được quản lý nhà nước và quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh,
bảo đảm công trình được xây dựng có chất lượng, an toàn, phù hợp với quy
hoạch, kiến trúc và tiết kiệm, góp phần thúc đẩy cải cách hành chính trong
quản lý xây dựng. Luật Xây dựng và những cơ chế, chính sách về hoạt động
xây dựng đã được ban hành, tách bạch chức năng quản lý của Nhà nước và
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như: phân cấp mạnh và quy định rõ
hoạt động xây dựng của tất cả các tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá
nhân nước ngoài thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam.
1.1.2. Nội dung cơ bản của quản lý nhà nước về xây dựng
Theo Điều 111 của Luật Xây dựng, nội dung quản lý nhà nước về xây
dựng bao gồm:
1. Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, kế hoạch phát triển các
hoạt động xây dựng.
2. Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về hoạt
động xây dựng.
3. Ban hành quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng.
4. Quản lý chất lượng, lưu trữ hồ sơ công trình xây dựng.
5. Cấp, thu hồi các loại giấy phép trong hoạt động xây dựng theo quy
định của pháp luật.
6. Hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý
vi phạm trong hoạt động xây dựng.
7. Tổ chức chỉ đạo nghiên cứu khoa học và công nghệ trong hoạt động xây
dựng.
8. Đào tạo nguồn nhân lực cho hoạt động xây dựng.
9. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực hoạt động xây dựng [6, tr.104].
Theo Điều 134 của Luật Nhà ở thì nội dung quản lý nhà nước về nhà ở bao
gồm:
1. Xây dựng và chỉ đạo thực hiện định hướng, chương trình, quy
hoạch và kế hoạch phát triển nhà ở.
2. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về nhà ở và tổ chức thực
hiện các văn bản đó.
3. Ban hành tiêu chuẩn nhà ở và quản lý chất lượng nhà ở theo tiêu chuẩn
nhà ở.
4. Công nhận quyền sở hữu nhà ở.
5. Cho phép hoặc đình chỉ việc xây dựng, cải tạo nhà ở.
6. Quản lý hồ sơ nhà ở.
năm, các chương trình, dự án, công trình xây dựng quan trọng thuộc các lĩnh
vực quản lý của Sở phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã
hội của địa phương, quy hoạch vùng và quy hoạch phát triển ngành, chuyên
ngành cả nước;
- Trình Ủy ban nhân dân tỉnh quy định việc phân công, phân cấp và ủy
quyền quản lý đầu tư xây dựng, phân cấp quản lý chất lượng công trình,
quản lý quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông
thôn thuộc thẩm quyền quản lý của tỉnh.
- Cấp, thu hồi các loại chứng chỉ, giấy phép xây dựng theo ủy quyền;
hướng dẫn Ủy ban nhân dân cấp huyện, xã trong việc cấp, thu hồi giấy phép
xây dựng thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện, xã.
- Thực hiện kiểm tra, thanh tra xây dựng.
Riêng Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh có Sở Quy hoạch–
Kiến trúc thì cần tập trung vào các nội dung quản lý nhà nước chủ yếu sau:
- Soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật pháp luật về quy hoạch xây
dựng và kiến trúc, cảnh quan.
- Xây dựng kế hoạch phân cấp quản lý, tổ chức thực hiện quy hoạch
xây dựng và phát triển đô thị.
- Lập, thẩm định các đồ án quy hoạch xây dựng theo thẩm quyền.
- Cung cấp thông tin quy hoạch, bồi dưỡng kiến thức về quy hoạch
xây dựng và quản lý đô thị cho tổ chức, cá nhân có liên quan.
- Theo dõi, kiểm tra việc xây dựng tuân thủ theo quy hoạch được duyệt.
Các Sở trên chịu sự quản lý toàn diện và trực tiếp của Uỷ ban nhân
dân thành phố, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra về chuyên
môn, kỹ thuật nghiệp vụ của Bộ Xây dựng. Nếu như ở cấp độ Trung ương,
cần chú trọng đến việc xây dựng cơ chế, chính sách, kế hoạch phát triển
ngành thì ở cấp độ địa phương, nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ được
uỷ quyền cần chú trọng việc triển khai tổ chức thực hiện những quy định của
cơ quan quản lý nhà nước cấp trên.
1.2. Phân cấp quản lý nhà nước và phân cấp quản lý nhà nước về
Nhà nước đơn nhất cũng có nhiều mô hình về phân cấp, phân quyền :
- Nhà nước đơn nhất tập quyền: Mô hình này được áp dụng ở các nước
xã hội chủ nghĩa và một số nước khác. Với mô hình này chính quyền địa
phương vừa phải chấp hành Hiến pháp, luật, các quyết định, văn bản của
chính quyền cấp trên, mặt khác khi thực hiện những vấn đề thuộc thẩm quyền của
mình do pháp luật quy định nhưng vẫn phải xin ý kiến chỉ đạo của cấp trên.
- Nhà nước đơn nhất tản quyền: Theo mô hình này mối quan hệ giữa
chính quyền trung ương với chính quyền địa phương được xây dựng trên cơ
sở nguyên tắc tản quyền. Theo nguyên tắc này chính quyền nhà nước trung
ương chuyển giao cho chính quyền địa phương cấp cao nhất (tỉnh, vùng) độc
lập thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn nhất định, chẳng hạn như việc: ban
hành văn bản quy phạm pháp luật quy định về tổ chức bộ máy hành chính
quyền địa phương mình, điều chỉnh địa giới các đơn vị hành chính thuộc
tỉnh, phát triển giáo dục, y tế, thành lập các đơn vị cảnh sát địa phương
Chính quyền cấp tỉnh lại tiến hành phân cấp cho chính quyền cấp dưới.
- Nhà nước đơn nhất phân quyền: Đây là mô hình nhà nươc đơn nhất
tản quyền tương đối. Theo mô hình này chính quyền trung ương giao cho
chính quyền địa phương quyền tự quản ở một mức độ nhất định. Chính
quyền địa phương do nhân dân địa phương bầu ra có nhiệm vụ, quyền hạn
quản lý các vấn đề thuộc phạm vi địa phương. Chính quyền địa phương có tư
cách pháp nhân, có ngân sách và đội ngũ công chức địa phương riêng- không
gọi là công chức nhà nước, mà là công chức địa phương.
Như vậy cấu trúc của nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp đến phân cấp,
phân quyền trong một quốc gia.
Việt Nam áp dụng theo mô hình nhà nước đơn nhất tập quyền, đặc
trưng của mô hình này là quyền lực nhà nước được tập trung, thống nhất.
Nhà nước là chủ thể duy nhất mang chủ quyền quốc gia và các cơ quan nhà
nước được tổ chức theo thứ bậc và hoạt động trật tự hiến định, luật định, tập
trung hóa quyền lực nhà nước để bảo đảm chủ quyền quốc gia và dân chủ
vốn là đặc trưng của chế độ nhà nước xã hội chủ nghĩa, tập trung quyền lực
Ngoài ra, theo một số tác giả thì phân cấp có thể theo hai hướng: một
hướng nằm ngang là sự phân chia căn cứ vào sự khác nhau của các công việc
của một cấp; hướng nằm dọc (thẳng đứng) là sự phân chia theo cơ cấu thứ
bậc công việc giữa các cấp khác nhau [62, tr.744] hoặc phân cấp chính là
phân quyền giữa trung ương và địa phương, là việc quy định nhiệm vụ cho
từng cấp chính quyền Như vậy, cho đến nay mặc dù được sử dụng một
cách rộng rãi trong khá nhiều văn bản pháp luật, song cách hiểu về phân cấp
vẫn còn chưa hoàn toàn thống nhất. Dưới góc độ ngôn ngữ, “cấp” là loại
hạng trong một hệ thống xếp theo trình độ cao thấp, trên dưới [61, tr. 119].
Từ đó, phân cấp quản lý được hiểu là giao bớt một phần quyền quản lý cho
cấp dưới, quy định nhiệm vụ và quyền hạn cho mỗi cấp. Như vậy, có hai nội
dung cần lưu ý là việc chuyển giao thẩm quyền cho cấp dưới và xác định
thẩm quyền của mỗi cấp đó.
Phân cấp quản lý hành chính được sử dụng là một thuật ngữ để chỉ sự
phân định các quyền, nhiệm vụ, trách nhiệm của các cơ quan quản lý hành
chính nhà nước theo các cấp chính quyền tương ứng với các cấp hành chính.
Sự phân định này hoàn toàn phụ thuộc vào thứ bậc của hệ thống các cơ quan
hành chính nhà nước (trung ương; tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; xã, phường, thị trấn). Tính phụ
thuộc trên dưới của hệ thống các cấp chính quyền hành chính (theo quy định
của pháp luật) là yếu tố chủ đạo và chi phối nghĩa sử dụng của từ phân cấp,
do đó, trong lĩnh vực pháp luật, phân cấp là thuật ngữ chỉ sự phân định
quyền, nhiệm vụ, trách nhiệm "bằng cách quy định chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn của mỗi cấp theo nguyên tắc tập trung dân chủ để vừa đảm bảo
việc điều hành tập trung, thống nhất của Chính phủ đồng thời phát huy dân
chủ, nâng cao tính năng động của mỗi địa phương, cơ sở" như đã được giải
thích trong Từ điển Luật học, hoặc “ là việc giao bớt một phần quyền quản
lý cho cấp dưới trong hệ thống quản lý chung” như đã giải thích trong Đại
Từ điển tiếng Việt.
Thuật ngữ phân cấp là một từ đa nghĩa, không có một từ điển nào đưa
bởi các cộng đồng dân cư và chính quyền cấp trên chỉ có thể tham gia thành
lập các đơn vị hành chính tại địa phương bằng cách phê chuẩn. Nếu không
có các đơn vị này và thiếu hệ thống pháp luật hoàn chỉnh xác định rõ chức
năng, nhiệm vụ của các cấp chính quyền địa phương thì việc phân cấp trong
quản lý hành chính nhà nước sẽ bị hạn chế. Phân cấp gắn liền với dân chủ để
thành lập ra chính quyền địa phương.
Thứ ba, phân cấp là cách thức tổ chức lại hệ thống các cơ quan hành
chính nhà nước bao gồm Chính phủ, các cơ quan hành chính nhà nước ở địa
phương nhằm đáp ứng tốt nhất đòi hỏi và sự mong muốn hợp pháp của công
dân. Cách tổ chức này nhằm làm cho quá trình ra quyết định phải gắn liền
với điều kiện cụ thể của từng cấp, từng đơn vị lãnh thổ. Cách thức tổ chức
này nhằm mục tiêu trao quyền quyết định thực hiện các hoạt động quản lý
hành chính nhà nước nói chung và các quyết định liên quan đến cung cấp
dịch vụ công cho tất cả những người liên quan để tạo cơ hội cho họ có thể sử
dụng hết lợi thế của địa phương, cộng đồng và của từng cá nhân nhằm giải
quyết tốt nhất các hoạt động quản lý và cung cấp dịch vụ công. Để làm được
điều đó, cần mở rộng sự tham gia của nhân dân trong quá trình quyết định
nhằm làm cho mọi yêu cầu, đòi hỏi của công dân, cộng đồng được đưa vào
trong các quyết định quản lý hành chính nhà nước như lấy ý kiến của nhân
dân tham gia vào các dự án luật, các vấn đề quan trọng ảnh hưởng đến đời
sống của nhân dân. Đồng thời, tăng cường tính dân chủ cơ sở và sự tham gia
của nhân dân trong quá trình làm quyết định và ủng hộ quá trình phát triển
liên quan đến đòi hỏi của nhân dân.
Thứ tư, để hiểu về phân cấp trong quản lý cũng cần phân biệt sự khác
nhau giữa một số khái niệm: tập quyền, tản quyền, uỷ quyền, trao quyền.
- Tập quyền là phương thức quản lý đòi hỏi sự tập trung cao độ, việc
giải quyết mọi vấn đề nhà nước tập trung vào chính quyền Trung ương, ở đó
không có sự phân quyền, phân cấp. Mọi hoạt động của các thiết chế cộng
đồng địa phương đều căn cứ vào những quyết định, chỉ thị của chính quyền
trung ương, của cơ quan cấp trên. Chế độ quản lý này tạo thành một nền