ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHẢN VĂN
Tén đề tài:
PHÂN TÍCH TÁC PHẨM BÁO CHÍ VIỆT NAM TRÊN c ơ SỞ
VÃN HOÁ HỌC VÀ VÃN BẢN HỌC
Mã sô: CB. 01. 05
Họ và tên chủ trì đề tài: TS. Nguvẻn Thị M inh Thái
Cán bộ phối hợp nghiên cứu: Vũ Mạnh Cưòng - Báo Lao Động
Dương Trọng Dặt - Báo Sài (tòn Cỉiái Phúng
Hữu Ước - Tạp chí Vãn hoá Văn nghệ Cóng an
Bùi Ngọc Hãi - Tạp chí Thế thao Văn hoá
ĐAI HOC QUỐC GIA HA í\Oi
T-[/
~HO\'G TIM THƯ VIÊN
P T /
■ 3 F 4 -
Hà Nội, tháng 12 năm 2004
MỤC LỤC
Lời mở đầu
Chương một
Báo chí Việt Nam trong bối cảnh giao lưu văn hoá Đông Tây
Chương hai
Phân tích tác phẩm báo chí (văn bản tác phẩm phê bình
văn học nghệ thuật) từ góc nhìn thể loại
Kết luận:
Hiện đại hoá ngôn ngữ văn bản tác phầm phê bình
văn liọc Iighệ thuật là một quá trình văn ìioá
Danh mục tài liệu tham khảo
Trang
4
7
cũng chỉ chú ý nghiên cứu những tác phẩm báo chí thể loại phê bình văn học nghệ
thuật trong một thập niên trở lại đây, nằm trong giai đoạn báo chí đổi mới, với sự
đặc biệt chú ý ( nhằm mục đích so sánh, khi đưa ra những tác phẩm báo chí thể loại
phê bình, từ năm 1930 đến 1945): giai đoạn báo chí đầu TKXXI ( giai đoạn báo chí
đương đại).
Phương pháp nghiên cứu : Liên ngành.
Chuyên đề này gồm 2 chương , ngoài phần mở đầu và kết luận
Mở đầu: Nêu lịch sử vấn đề và lí do chọn đề tài.
Chương một: Báo chí Việt Nam trong bối cảnh giao lưu văn hoá Đông Tây
Chương hai: Phân tích tác phẩm báo chí (văn bản tác phẩm phê bình văn học
nghệ thuật) từ góc nhìn thể loại.
Phần kết luân:
'Hiện đại hoá ngôn ngữ văn bản tác phẩm phê bình văn học nghệ thuật là
một quá trình văn hoá.
3
hiện của báo chí và vai trò báo chí Việt Nam như một công cụ thông tin của xã hội
Việt Nam hiện đại. Vì thế, nhũng yếu tố văn hoá dùng để phân tích tác phẩm báo
chí trong chuyên luận này, trước hết được hiểu như những tiền đề cho sự ra đời của
nền báo chí Việt Nam, với hàm nghĩa lịch sử và sau đó, trở thành phương tiện: chữ
quốc ngữ, và cuối cùng, là yếu tố văn hoá được xem xét trong chính tác phấm báo
chí về về thể loại và về ngôn ngữ báo chí.
Mục tiêu nghiên cứu : Các tác phẩm báo chí, xét trên phương diện lý luận, là
đơn vị chứa đựng thông tin của nhà báo, nhằm để truyền tin, và, do đó, trở thành đối
tượng tiếp nhận thông tin của người đọc báo, lại chính là chỉnh thể trung tâm của
hoạt động báo chí,( được hiểu như một chuỗi hoạt động tiếp nối đặc thù: Nguồn
thông tin : Cuộc sống. Chã thể thông tin : Nhà báo. Phương tiện thông tin: tác phẩm
báo chí. Người tiếp nliận thông till : Công chúng.)
Vì thế, bản chất của tác phẩm báo chí được thể hiện đặc thù ở tính thông tin
cập nhật hàng ngày hàng giờ, hàng giây, hàng phút của nó Tác phẩm báo chí viết,
đương nhiên hiện diện trên vãn bản, vối tư cách là văn bản truyền thông, nên
Cuộc giao lưu văn hoá Đông Tây diễn ra ở Việt Nam, bắt đầu bằng nhũng
tiền đề giao lưu tôn giáo và giao lưu thương mại xảy ra ở Việt Nam vào mấy thế kỉ
trước, và thực sự diễn ra, trong tư thế Việt Nam bị cưỡng bức về văn hoá, bằng cuộc
xâm lược của thực dân Pháp năm 1858. v ề mặt tiến trình, cuộc giao lưu này Đông
Tây này đã ghi một dấu ấn đậm nét, sau cuộc giao lưu văn hoá với Trung Hoa trước
đó, vốn đã là dấu ấn hết sức đậm, trong tiến trình văn hoá Việt Nam, đã trải qua
bốn nghìn năm lịch sử.
Mặc dù cuộc giao lưu văn hoá Đông Tây xảy ra ở Việt Nam không phải do
sự tự nguyện muốn giao lưu văn hoá của người Việt Nam, song, người Việt đã có
đầy đủ kinh nghiệm lịch sử từ cuộc giao lưu trước đó với Trung Hoa, đó là kinh
nghiệm "không chối từ "( chữ dùng của giáo sư Trần Quốc Vượng), những ảnh
hưởng văn hoá từ những nền văn hoá khác mình, và không phải là mình. Hai xu
hướng văn hoá trở thành đặc trưng chung của lớp văn hoá diễn ra trước Lớp văn
hoá giao lưu với Phương Tây, là Lóp văn hoá giao lưu với Tritiìg Hoa vờ klut vực,
đó là "sự song song tồn tại của hai xu hướng trái ngược nhau: Hán hoá và chống
Hán hoá về mặt văn hoá" của người Việt trong thời kì lịch sử đó. Trong tiến trình
văn hoá Việt Nam, những xu hướng ấy đã mang trong lòng chúng những quy luật
lịch sử, và đã được lặp lại, cũng về mặt lịch sử , khi diễn ra nối tiếp sau đó, ở Việt
Nam, một cuộc giao lưu khác, trong lớp văn hoá tiếp theo : Lớp giao lưu với văn
lìfíá phương Tây. Và "tại lớp vãn hoá này cũng cố hai xu hướng trái Iigược song
song tồn tại - Ăn hoá và chông All hoá - song biểu hiện của chúng không còn vạch
ròi theo từng giai đoạn như ở lớp văn hoá thứ hai mà đan cài trong thời gian và
klìông gian " 1
' Trần Ngọc Thêm, Tìm về bàn sắc vãn hoá Việt Nam. NXB TP HCM. 2001.tr 87-91
4
Cũng trong tiến trình phong phú và phức tạp của văn hoá Việt Nam, xu
hướng chống "Hán hoá" và "Tây hoá" trong hai lớp vãn hoá trên, còn bao hàm luôn
một xu hướng lịch sử nữa, đó là xu hướng "Việt Nam hoá" những ảnh hưởng của
Trung Hoa và phương Tây, (thông qua vãn hoá Pháp). Xu hướng này, trong lớp văn
hoá hoá giao lưu với Trung Hoa, đặc biệt trở nên tích cực, khi Kỉ nguyên Đại Việt
tin văn hoá của tiến trình văn hoá Việt Nam, ngay từ khi nó ra đời, trong giai đoạn
văn hoá hiện đại, mặt khác tác phẩm báo chí không thể chỉ tồn tại bằng nội dung
thông tin, nó phải được hiển hiện trong những hình thức thể loại tương ứng. Nói một
cách khác, tác phẩm báo chí phải được " phát ngôn" bằng ngôn ngữ thể loại. Vì thế
nhiệm vụ của chương thứ hai là phải giải quyết vấn đề thể loại báo chí và phân tích
tính thể loại của một loại tác phẩm báo chí: phê bình văn nghệ, và chủ yêus là phê
bình vãn học. Chương H ai, do đó , mang tên:
Phân tích tác phẩm báo chí
( văn bản tác phẩm báo chí phê bình văn học) từ góc nhìn thể loại
Trong quá trình vận động và phát triển của báo chí Việt Nam, báo viết đóng
vai trò nền tảng. Ngôn ngữ của báo viết cũng phát triển vận động không ngừng để
đáp ứng yêu cầu" hiện đại hoá", là một nhu cầu văn hoá của sự phát triển báo chí.
Do đó, chúng tôi viết phần kết luận, nhằm gợi ra vấn đề : khi nghiên cứu về sự vận
động và phát triển của ngôn ngữ báo viết( văn bản truyền thông), nhất là tác phẩm
báo chí phê bình văn học trong tiến trình hiện đại chung của văn học nghệ thuật
Việt Nam thế kỉ XX, chúng tôi thấy đó cũng là một quá trình văn hoá.Vì thế, phần
kết luận mang tên:
"Hiện đại hoá" ngôn ngữ văn bản truyền thông ỉ à một quá trình văn ìioá
Và cuối cùng là những kết luận rút ra từ toàn bộ nội dung khảo sát của
chuyên đề, với những đánh giá và đề xuất những giải pháp nghiên cứu sâu rộng hơn
về sự phát triển thể loại và ngôn ngữ báo chí, nhất là trong các tác phẩm báo chí viết
bằng ngôn ngữ bình luận.( Trong đó đặc biệt chú ý đến những tác phẩm phê bình
văn học nghệ thuật).
6
CHƯƠNG MỘT
BÁO CHÍ VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH GIAO L ư u VÃN HOÁ ĐÔNG TÂY
Về mặt văn hoá, xét theo tiến trình văn hoá Việt Nam, dựa theo cách chia
thành 3 lớp văn hoá2 và 6 giai đoạn văn hoá tương ứng, kể từ lớp văn hoá Bản địa là
lớp văn hoá đầu tiên của 4000 năm văn hoá Việt Nam, kế sau đó là lớp văn hoá giao
lưu với Trung Hoa, thì lớp văn hoá giao lưu với văn hoá phương Tây là lớp thứ ba,
của thế kỉ XX trở lại đây, chưa đầy một thế kỉ, nên được coi là giai đoạn văn hoá
chưa định hình. Tuy nhiên, Trần Ngọc Thêm vẫn phác thảo một vài đặc điểm mới
của giai đoạn văn hoá này như sau:
a - Óc phàn tích, khoa học thâm nhập từ cuối giai đoạn Đại Nam cùng với
các tư tưởng của triết học duy vật biện chứng mácxít đã bổ sung tương đối nhuần
nhuyễn cho lối tư duy tổng hợp truyền thống ( mà điển hình của sự tích hợp vãn hoá
Đông - Tây với lí tưởng xã hội chủ nghĩa trên cơ sở của truyền thống văn hoá dân
tộc chính là : Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, người đã được UNESCO công nhận
nãm 1990 là Anil hùng giải phóng dân tộc và Danh nhân văn hoá).
b - Ý thức về vai trò con người cá nhân đang được nâng cao bổ sung cho ý
thức cộng đồng truyền thống.
c - Đô thị ngày càng có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, quá trình đô
thị hoá diễn ra ngày một nhanh hơn; cùng với nó là sự lớn mạnh của công cuộc
công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhu cầu về một cuộc sống văn minh tiện nghi.
Về cuộc giao lưu văn hoá Đông Tây, các nhà nghiên cứu văn hoá Việt Nam
từng có nhiều cách phân tích từ các góc độ khác nhau, v ề góc độ văn hoá, với
8
nhũng thao tác luận hợp lý, nhà nghiên cứu văn hoá Phan Ngọc,4 trong cuốn sách
"Bản sắc Văn hoá Việt Nam", đã có một cách nhìn văn hoá học riêng để nhìn nhận,
lý giải cuộc giao lưu văn hoá Đông Tây rất quan trọng này, trong chương XIV,
mang tên " Tiếp xúc văn hoá Việt - Pháp"5, mà theo ông " để giới thiệu cách nhìn
vãn hoá học đối với vãn học" Việt Nam hiện đại, vốn dĩ có cùng một bối cảnh ra đời
với báo chí Việt Nam. Không dùng khái niệm "giao lưu", Phan Ngọc dùng khái
niệm "tiếp xúc văn hoá". Trong chương viết này, Phan Ngọc cho rằng, muốn hiểu
thực chất văn hoá của cuộc tiếp xúc văn hoá Việt - Pháp và cao hơn nữa, muốn hiểu
rõ ràng về bản sắc văn hoá Việt Nam, không có cách gì tốt hơn là xem xét nó trong
sự tiếp xúc với một văn hoá khác hẳn. Phan Ngọc nhấn mạnh:" Qua sự tiếp xúc này,
ta sẽ thấy bản sắc văn hoá dân tộc bộc lộ một sự hoán cải khá đặc biệt. Trong khi
chịu những thay đổi hết sức quan trọng, đến mức một cách nhìn hời hợt sẽ tưởng
đâu rằng bản sắc trước đây đã mất, thì một cách nhìn theo nhận thức luận sẽ cho
(1). Tiếp xúc văn hoá giữa Việt Nam và Trung Quốc là tiếp xúc giữa hai nước
cùng một nền kinh tế tự túc tự cấp. Vì có những sự giống nhau như vậy, cho nên dù
Việt Nam có chấp nhận nhiều thể văn Trung Hoa, các thay đổi vẫn biểu lộ về mặt
hình thức hơn là về mặt nội dung. Điều này chúng ta đã thấy một phần trong
chương nói về sự khúc xạ của Nho giáo ở Việt Nam . Còn sự tiếp xúc với Pháp là
thuộc loại khác hẳn. Một nền văn minh nông nghiệp tiếp xúc với một nền văn minh
công nghiệp. Văn hoá Pháp khấc xa văn hoá Việt Nam, các thể chế của Pháp chẳng
có gì chung với các thể chế Việt Nam. Nhưng tiếp xúc này đòi hỏi những thay đổi
không chỉ về hình thức mà cả về nội dung.
2. Những tiếp xúc văn học giữa Trung Quốc và Việt Nam là những tiếp xúc
giữa hai nước, nhưng những tiếp xúc giữa văn học Việt Nam với văn học Pháp lại là
một bộ phận của những tiếp xúc quốc tế có tính chất thế giới. Để đáp ứng tình hình
mới, Việt Nam phải Tây phương hoá văn hoá của mình về hình thức và nội dung,
phải chấp nhận những cái lí giải trái ngược với kinh nghiệm trước đây, phải giải
quyết những cái mới xuất phát từ một hệ tư tưởng mới, phải tiến hành một sự xét lại
triệt để cách làm trước đây bởi vì tiếp xúc văn hoá trước mắt cũng là tiếp xúc với
văn hoá phương Tây. Và Việt Nam cần phải nhận thức rõ bản sắc văn hoá của mình,
để cho việc tiép xúc này có lợi, tránh được những mò mẫm kéo dài.
3. Sự tiếp xúc văn học giữa Việt Nam và Trung Quốc là được tiến hành có ý
thức bởi bộ máy chính quyền để đảm bảo " Một cliủ quyền thực sự dưới cái ve' lệ
thuộc giả tạo" . Nhưng những đổi mới của văn học Việt Nam đưới thời Pháp thuộc
10
lại được tiến hành bởi một nhân dân đấu tranh chống lại chế độ thuộc địa của Pháp,
vì chính phủ Việt Nam lúc này đã là công cụ của chế độ thuộc địa. v ề bản chất, nó
thuộc phong trào chống thực dân của thế kỉ này và khác các phong trào văn học của
thời kì độc lập trước đây.
Đặt vấn đề liên quan giữa hai tâm thức đối lập nhau, trong một phạm vi lớn
như vậy, Phan Ngọc đã buộc phải tự mình "bó hẹp vào việc giới thiệu những nét
chính của một bên là tâm thức Việt Nam và một bên là tâm thức Pháp, để nêu lên
những ảnh hưởng của một sự Tây phương hoá rất thành công ở cái góc xa xôi này
của nó. Phan Ngọc còn nhắc thêm: " Tính hai mặt này mà các công trình nghiên
cứu văn hoá theo châu Âu luận đều bỏ qua chính là cơ sở của hiện tượng hai văn
hoá tồn tại song song trong văn học, nghi lễ, tín ngưỡng, chính trị, tổ chức xã hội,
kinh tế và cả quân sự . Cả làng đánh giặc, và người dân rất chủ dộng, giàu sáng kiến
trong chiến đấu cũng là xuất phát từ tính hai mặt này".
Luận điểm này của Phan Ngọc có thể giúp nhũng người nghiên cứu, có thêm
một góc nhìn mới, khi đi tìm cốt lõi riêng biệt về văn hoá của con người Việt Nam,
trong cuộc tiếp xúc với văn hoá Phương Tây và trong sự phản ánh của văn học Việt
Nam hiện đại, với tư cách là nhân vật trung tâm. Và đương nhiên, trong cả cái cách
người Việt Nam lần đầu sử dụng báo chí như một phương tiện thông tin hiện đại,
mà từ trước đó, người Việt Nam đã chưa hề được sử dụng trong gần 10 thập kỉ kể từ
mốc lịch sử 938, Ngô Quyền đại thắng quân Nam Hán trên sóng Bạch Đằng.
Trong luận điểm thứ ba của chương viết này, Phan Ngọc nêu lên sự khác
nhau về tâm thức, giữa văn học phương Tây và văn học châu Á. Ông "thừa nhận
rằng vãn học phương Tây đã ảnh hưởng rất lớn đến văn học châu Á nhưng ảnh
hưởng của văn học châu Á tới phương Tây lại không sâu". Phân tích rõ hơn, Phan
Ngọc viết:" những tác phẩm lớn nhất của văn học châu Á không được quần chúng
rộng rãi phương Tây ham thích, lí do không phải ở tài năng của các nhà văn nhà thơ
châu Á trước đây, mà ở sự khác nhau về tâm thức". Cụ thể hơn, ông đã đưa ra sự đối
lập giữa hai tâm thức: "tâm thức Việt Nam và tâm thức Pháp", và đi đến kết luận
12
khá là độc đáo (sau khi đã tự thừa nhận, trong cách nhìn của mình" có cái gì giản
đơn", v ì" văn hoá của một dân tộc là cực kì đa đạng và phức tạp”. Có thể nói đây
không phải vãn hoá Pháp ở bản thân nó, mà văn hoá Pháp qua sự cảm nhận của một
người Việt Nam theo cách mạng và chủ nghĩa xã hội), là ông, rằng: " Bốn nguyên lý
chủ đạo của văn học Pháp ( tính toàn nhân loại, chủ nghĩa duy lí, cá nhân luận và tự
do cá nhân) là đối lập lại bốn nguyên lý của văn hoá Việt Nam trước đây ( Tổ quốc,
gia đình-làng mạc, thân phận và diện mạo). Sau khi đã kết luận như vậy, ông dùng
luận điểm thứ tư để phân tích những nguyên lí chủ đạo này trong văn học Pháp, và
so sánh với văn học Việt Nam. Theo ông," tính toàn nhân loại của văn học Pháp là
cũng hết sức giúp giùm. Người Pháp lại vui tính dễ làm quen, nói dăm ba câu
chuyện mà ỷ hợp tâm đẩu, thì liền trở nên bạn tốt. Tóm lại, người Pháp rất dễ
thương dễ mến".
Ớ luận điểm thứ năm, điều đáng chú ý về thao tác văn hoá của Phan Ngọc,
và đây có lẽ là một cách nhìn văn hoá thích hợp, là khi Phan Ngọc phân chia quá
trình tiếp xúc văn hoá Việt- Pháp thành ba giai đoạn, với nhận xét chung: " Mỗi giai
đoạn như vậy đều diễn ra với sự thay đổi của cả hai bên, bên nhân dân Việt Nam và
bên chính sách của Pháp.
(1). Giai đoạn từ 1858 đến hết TK XIX.
Theo Phan Ngọc, ở giai đoạn này, người Pháp không hề chú ý tới vãn hoá, và
người Việt nam, mà đại biểu là các nhà Nho chỉ nhìn thấy người Pháp là đại biểu
cho chế độ dã man dựa trên sức mạnh của võ khí. Đạo Thiên Chúa dạy người Việt
nam bỏ Tổ quốc, phục vụ địch. Người Pháp chỉ lo đào tạo những thông ngôn giúp
họ dàn áp người Việt( ). về phía Việt Nam, những đề nghị cải cách của Nguyễn
Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch đều xuất phát từ yêu cầu độc lập dân tộc của người
Việt trước nguy cơ mất nước vào tay người Pháp, v ề văn hoá, những người am hiểu
tiếng Pháp lúc bấy giờ chủ yếu là công giáo, trong khi chấp nhận một tình trạng
không đảo ngược được vẫn tìm cách bảo vệ nền văn hoá dân tộc, chống sự đồng
hoá về văn hoá bằng cách dùng chữ quốc ngữ như một công cụ để dịch các sách
kinh điển Hán, phiên âm các tác phẩm xưa của người Việt, hay làm từ điển( Trương
14
Vĩnh Ký, Trương Minh Ký, Trương Duy Toàn, Huỳnh Tịnh Của).Năm 1866,
Nguyễn Trọng Quản viết Truyện thầy Lazaro Phiền, tiểu thuyết đầu tiên theo xu
hướng tiểu thuyết Pháp. Sự tiếp xúc này vẫn chưa rộng lớn, vẫn còn theo xu hướng
yêu nước quân chủ, do các nhà Nho yêu nước( Phan Văn Trị, Nguyễn Đình
Chiểu ) lãnh đạo.
Từ góc nhìn văn hoá này soi chiếu vào báo chí, sẽ thấy đây là giai đoạn
chứng kiến buổi bình minh của báo chí Việt Nam, với những tờ báo đầu tiên xuất
hiện vào khoảng giữa thế kỉ XIX, chính xác là vào những năm sáu mươi. So với các
nước châu Âu, báo chí Việt Nam đã sinh sau đẻ muộn hàng vài trăm năm, và không
khác, mầm mông của báo chí đã có từ lâu" và cho rằng xa nhất là " Từ những truyền
thống xa như những câu vè lưu truyền trong dân gian, tiếng mõ làng ( Mẹ Đốp-Xã
Trưởng), những cuộc " giảng thập điều" trong sinh hoạt đình làng
Nhưng nếu hiểu một cách rộng rãi nhất trên tinh thần báo chí là thông tin, thì
có thể cho rằng, từ khi Việt Nam có chữ viết, có thể đã có nhu cầu thông tin ( viết
một cái gì đó cần thông báo ) cho những ai đó có nhu cầu nhận thông báo đó, bằng
cách ghi thành những kí hiệu, thì những thông báo đó, đã có thể có từ rất lâu, mặc
dù, cho đến bây giờ, vẫn chưa thể giải mã được.
Vẫn xét về mặt tiến trình văn hoá, nếu coi chữ viết là nhũng thành tựu văn
hoá đặc trưng cho từng lớp văn hoá, thì trong lớp văn hoá Bản địa, có từ trước Công
Nguyên hàng vài ngàn năm, việc có hay không một giai đoạn văn tự tương ứng, vẫn
còn là nghi vấn. Theo Trần ngọc Thêm, sở dĩ trước đây, vấn đề chữ viết của lớp văn
hoá bản địa hầu như chưa được đặt ra, đơn giản ìà vì, trong một thời gian dài, dưới
áp lực của định kiến" lấy Trung Hoa làm trung tâm", người ta không thể hình clung
được rằng phương Nam có thể có một nền văn hoá riêng chứ đừng nói gì đến chữ
Tuy nhiên, theo tác giả, dưới ánh sáng của những nhận định mới về quy mô,
tầm cỡ và vai trò của văn hoá phương Nam trong lịch sử văn hoá khu vực; nhũng cứ
liệu khảo cổ học về dấu vết chữ viết đã phát hiện được trên đá ở thung lũng Sapa,
trên qua đồng Thanh Hoá, trên lưỡi cày Đông Sơn( Theo Hà Văn Tấn 1982,1983),
7 sdd, tr.7.
16
trên trống đồng Lũng Cú ( Phan Hữu Dật 1974); và cuối cùng là ghi chép của sử
sách Trung Hoa về một thứ chữ "khoa đẩu"( hình con nòng nọc bơi ) của người
phương Nam; thì ta có thể nghĩ đến giả thuyết về sự tồn tại của một nền văn tự
phương Nam" trước Hán và khác Hán"( chữ dùng của GS. Hà Văn Tấn 1982)8.
Như vậy, có thể đã có chữ viết trong lớp văn hoá bản địa, ngay từ thời các
vua Hùng, nhưng rõ ràng, chưa thể chứng minh rằng nó đã được sử dụng như nó
phải được sử dụng để ghi lại tiếng nói của người Lạc Việt thời bấy giờ. Vì vậy cho
đến nay, vấn đề này mới chỉ tồn tại như một giả thuyết.
Khác hẳn với vấn đề này trong lớp văn hoá văn hoá Bản địa, vẫn theo Trần
Đình thời Nguyễn Gia Long. Giải thích về nguồn gốc báo chí nước ta, học giả
Nguyễn Văn Tố có một cách thức độc đáo, khi viết:
Khâm định Việt sử ( quyển 14 tờ 15a) chép lại rằng" Nguyên trước, nhũng
chiếu, lệnh của nhà vua, lâm thời bộ đem yết bảng, đến năm Tân Hợi(1491) vua Lê
Thánh Tông cho dựng một cái đình ở ngoài cửa Đại Hưng( tức Cửa Nam thành
Thăng Long) để làm nơi niêm yết những phép tắc tri dân, đặt tên là Quảng Văn
Đình " Ba chữ Quảng Văn Đình nghĩa là một cơ sở để thu nhặt giấy tờ ở các nơi.
Đến đời Gia Long ( 1802- 1819), làm đình ở phường Nam Hưng (tức cửa Nam bây
giờ), trên có đặt tên là Quảng Minh Đình cũng để dán những huấn lệnh của nhà
vua. Cạnh đó có hai toà nhà ngói ở cửa đông nam gọi là Hiệp Nghị Đường ( nhà để
họp bàn) phàm dân gian có việc gì uất ức cho đến để bày tỏ, cho nên các đình ở mé
ngoài miếu thờ thành hoàng vừa là để tụ họp khi tế lễ, lúc hương ẩm vừa để dán
những huấn lệnh của nhà vua, cứ ngày một và rằm các huynh thứ trong làng ra đọc
những huấn lệnh và giảng nghĩa cho dân gian nghe thường gọi là giảng thập điều.
Như vậy cái đình tức là báo chí, có định lệ mồng một và rằm tức là nhật báo
hoặc tuần báo Báo chí tức là nhũng tờ huấn lệnh dán ở đình làng tựa như tờ Acta
diurna của người La Mã đời xưa.9
Song dù có giải thích cách nào, thì cũng không thể phủ nhận rằng báo chí
Việt Nam chỉ có thể thực sự ra đời theo đúng nghĩa hiện đại của nó, khi có cuộc
xâm lãng của thực dân Pháp và sự áp đật vãn hoá Pháp với một môi trường văn
minh cưỡng chế ở Việt Nam như đã phân tích ở trên. Cũng cần phải nói thêm rằng,
trong triều đại của các vị vua nhà Nguyễn, với tư cách là triều đại cuối cùng của các
* Nguyễn Văn Tố. Nước ta xưa cỏ dược lự do Iigôn luận không? Báo Tri Tán, sỏ'206ị4.I0A 945). Dẫn theo Lịch sir bán
chi Việt nam.sdd, tr.9.
18
triều đại phong kiến Việt Nam, có một vài sĩ phu yêu nuớc và thức thời, có cái nhìn
vượt khỏi chính sách bế quan toả cảng phi lí của triều Nguyễn, đã thấy cẩn thiết
phải có báo chí. Trong bản điều trần Tám điều cấp cứu ( Tế cấp bát điều) Nguyễn
Trường Tộ đã lên tiếng đề nghị" ấn hành một tờ nhật báo, đăng những chiếu, sớ,
dụ và những hành sự của các vị danh thần, công cụ của quốc gia hiện thời cho học
nghiên cứu Nông công thương Bắckì, hoặc do những người Pháp nhận trợ cấp của
chính quyền thức dân bỏ vốn nhận thầu, nên đối tượng phục vụ chỉ bó hẹp trong
một số người đọc. Đó là những người Pháp ở Việt Nam và một số không nhiều
những người Việt nam làm nhân viên bản xứ cho bộ máy cai trị của Pháp. Có thể
nói, có một dòng báo chí chữ Pháp đã ra đời, đặc biệt là" ngay sau khi toàn quyền
Đông Dương ban bố sắc luật đầu tiên về báo chí ở thuộc địa (1881), cho phép người
Pháp sống ở thuộc địa được tự do ra báo chí, thì hàng loạt báo tư nhân bằng tiếng
Pháp đã được khai sinh.
Ngoài báo chí Pháp ngữ, chính quyền thực dân Pháp cũng không muốn bỏ
qua đội ngũ quan lại nguời Việt, nên đã cho xuất bản báo chí bằng chữ Hán. Tại
Nam kì, những tờ báo như Nam kì viễn chinh công báo hay Xã thôn công báo đều
có bản chữ Hán. Các tác giả Lịchsử báo clú Việt nam còn cho biết một sự việc thú
vị như sau " Trên mặt báo sau này, có lẽ tờ báo đầu tiên đề cập một cách nghiêm túc
về nghề làm báo là tờ Đại Nam Đồng Văn Nhật Báo, một tờ báo bằng chữ Hán, tờ
báo đầu tiên ở Hà Nội.
Trong số 213( 24-11-18950), tức năm Thành Thái thứ ba, một tác giả khuyết
danh đã viết một bài dài (4 trang) gọi là "Nhật báo thuyết lược", kể về lịch sử báo
chí Âu- Mỹ, trong đó đưa ra những con số về báo chí các nước dẫn đầu như nước
Pháp, kể cả báo ở thủ đô Paris"12.
Tuy nhiên, những tờ báo Pháp ngữ mới là chủ yếu, chứ không phải là Hán
ngữ, bởi chiến lược vãn hoá chung của người Pháp là đẩy lùi đến mức thấp nhất,
ảnh hưởng của Hán ngữ. Muốn vậy, cần phải triển khai báo chí bằng chữ Quốc ngữ.
12 Sdd. Tr.10.
20
Bởi vì, như đã phân tích, những tờ báo Pháp ngữ đầu tiên chủ yếu dành cho người
đọc là người Pháp, và rất ít người Việt đọc được tiếng Pháp.
Do đã thấy đến lúc phải mở mang giáo dục, truyền bá công cuộc Âu hoá,
chính thức đưa chữ Quốc ngữ vào vị trí chính thống, đánh bạt chữ Hán, Soái phủ
Nam kì quyết định cho xuất bản tờ báo tiếng Việt đầu tiên: Gia Định báo, mỗi
tháng một số, số đầu tiên ra ngày 15-4-1865, 4 trang, khổ 25x32cm.
với Đông Kinh Nghĩa Thuc là trường học nổi tiếng nhất ở Hà Nội, nãm 1907-1908.
Xu hướng này lôi cuốn hầu hết các nhà Nho học Việt Nam và tạo nên một nền vãn
học mới mang tinh thần yêu nước mạnh mẽ. Kết hợp với phong trào cắt tóc, chống
thuế năm 1908, xu hướng này đã đẻ ra một hiện tượng văn hoá mới, theo Phan
Ngọc là: " lần đầu tiên văn hoá gắn liền với đấu tranh vì quyền sống của quần chúng
lao động". Dù hai xu hướng này đã bị thất bại, nhưng một sự đổi mới văn hoá đã
thực sự diễn ra: trong đó, ảnh hưởng của văn hoá Pháp đến đây là khá rỗ.
Khá rõ ở chỗ nào? Thứ nhất, theo Phan Ngọc là tính toàn nhân loại.
Khi Việt Nam nhận ra rằng, mọi đế quốc đều cấu kết với nhau để đàn áp
bóc lột các nước thuộc địa, thì Việt Nam cũng phải dựa vào một tổ chức toàn nhân
loại để chống lại chủ nghĩa đế quốc trên toàn cầu. Tổ chức ấy chỉ có thể là chú
nghĩa Quốc tế cộng sản. Phong trào Tân thư thất bại vì không nhận thức được điều
đó, chỉ bởi đặt hết hi vọng vào một nước Pháp theo cách mạng Pháp, để rồi hi vọng
này đã lụi tàn trong thực tế lịch sử. Mặc dầu vậy, Tân thư cũng giúp cho trí thức
Việt tỉnh ngộ khỏi những giấc mơ giáo điều, là trông chờ ở sự giúp đỡ của Nhật bản
chống lại Pháp chẳng hạn
Thứ hai là chủ nghĩa duy lí của các nhà Nho tức thời, biểu hiện bằng thái ctộ
triệt để chống Tống Nho, đòi huỷ bỏ chế độ khoa cử, chống chế độ quân chủ, yêu
cầu cải cách theo phương Tây. Lần đầu tiên các nhà Nho xuất thân từ khoa cử và là
những nhà giáo dục lỗi lạc nhất của nền giáo dục xưa, yêu cầu bỏ chữ Hán, học chữ
Quốc ngữ, tự họ làm thương nghiệp, tham gia các phong trào quần chúng. Tuy
nhiên, Phan Ngọc nhận xét: " Duy lí luận của nó thiếu một sự phân tích khoa học
mà chủ yếu vãn dựa trên tình cảm ( ) . Tuy nhiên, ưu điểm của phong trào là nó
thay đổi rất nhanh và kịp thời, chuyển từ Cần vương kiểu cũ sang quân chủ lập hiến
năm 1904 khi Phan Bội Châu thành lập Duy tân hội, rồi sang dân chủ trong Việt
22