Nghiên cứu điều kiện nuôi cấy, chuyển hóa sinh học và thu nhận γ-decalactone từ dầu thầu dầu bằng nấm men Yarrowia lipolytica - Pdf 26


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
NGUYỄN XUÂN VIỆT

NGHIÊN CỨU ĐIỀU KIỆN NUÔI CẤY, CHUYỂN HÓA
SINH HỌC VÀ THU NHẬN - DECALACTONE TỪ
DẦU THẦU DẦU BẰNG NẤM MEN Yarrowia lipolytica
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN NGUYỄN XUÂN VIỆT

NGHIÊN CỨU ĐIỀU KIỆN NUÔI CẤY, CHUYỂN HÓA
SINH HỌC VÀ THU NHẬN - DECALACTONE TỪ

Protein, Viện Công nghiệp Thực phẩm-Bộ Công thương đã nhiệt tình giúp đỡ, chỉ
bảo và chia sẻ với tôi trong thời gian thực tập.
Nhân dịp này, tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn tới
Ban Giám hiệu Trường
Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐHQGHN, Ban Chủ nhiệm khoa Sinh học, và các
thầy giáo, cô giáo Bộ môn Vi sinh vật học đã động viên, chỉ dẫn, đóng góp ý kiến và
tạo những điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè đã động viên, giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài.

Hà Nội tháng 6-2014.

Học viên: Nguyễn Xuân Việt
Luận văn thạc sĩ khoa học Nguyễn Xuân Việt
Chuyên ngành Vi sinh vật học Khóa 2011-2013

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1

Chuyên ngành Vi sinh vật học Khóa 2011-2013

2.2. Phƣơng pháp 23
2.2.1. Nhân giống và lên men trên máy lắc 23
2.2.2. Lên men theo mẻ trên nồi 5L 24
2.2.3. Lên men theo mẻ - có tiếp dần cơ chất, trên nồi 5L 24
2.2.4. Lên men theo mẻ trên nồi 50L 25
2.2.5. Lên men theo mẻ có - tiếp dần cơ chất, trên nồi 50L 25
2.2.6. Đếm số lƣợng tế bào bằng buồng đếm hồng cầu 25
2.2.7. Lactone hóa dịch sau lên men 26
2.2.8. Chƣng cất dịch lên men đã đƣợc lactone hóa 26
2.2.9. Tách chiết -decalactone bằng dung môi 26
2.2.10. Loại bỏ dung môi khỏi dịch chiết 26
2.2.11 Làm sạch dịch chiết cô đặc 27
2.2.11.1 Làm sạch dịch chiết cô đặc bằng cách rửa kiềm 27
2.2.11.2 Làm sạch dịch chiết cô đặc bằng Na
2
SO
4
khan 27
2.2.12. Đánh giá cảm quan 27
2.2.13. Phân tích định lƣợng -decalactone bằng sắc ký khí 27
CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 30
3.1. Lựa chọn điều kiện lên men trên máy lắc 30
3.1.1. Lựa chọn tốc độ lắc 30
3.1.2. Lựa chọn pH môi trƣờng lên men 30
3.1.3. Lựa chọn thời gian nhân giống 31

Hình 1.1 Tế bào Yarrowia lipolytica sinh trưởng trong môi trường chứa methy
ricinoleate 6
Hình 1.2: Sơ đồ cơ chế chuyển hóa axit ricinoleic thành chất thơm -decalactone 11
Hình 1.3: Một số hình ảnh về thầu dầu (Ricinus communis) 12
Hình 1.4 Công thức cấu tạo của axit ricinoleic (12 hydroxy-9-octadecenoic acid)
13
Hình 3.1. Động học quá trình lên men theo phương thức batch culture, không
khống chế pH và DO trên nồi lên men dung tích 5L 36
Hình 3.2. Động học quá trình lên men theo phương thức batch culture, không
khống chế pH có khống chế DO (A), có khống chế pH và DO (B) quy mô 5L 38
Hình 3.3. Động học quá trình lên men theo phương thức Fed-batch culture, có
khống chế pH và DO, ở quy mô 5L 39
Hình 3.4. Động học quá trình lên men ở quy mô 50L, theo phương thức Batch
culture (A) và Fed-batch culture (B) 42
Hình 3.5. Sắc ký đồ γ-decalactone thu nhận từ dịch lên men chủng Y. lipolytica
VTP 5 (A), sau khi làm sạch bằng phương pháp “Chiết rút-làm sạch” (B), bằng
phương pháp “Chưng cất-chiết rút-làm sạch” (C), γ-decalactone cô đặc (D). 53
Luận văn thạc sĩ khoa học Nguyễn Xuân Việt
Chuyên ngành Vi sinh vật học Khóa 2011-2013

DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Thành phần axít hữu cơ trong dầu thầu dầu 13
Bảng 1.2. Một số vi sinh vật có khả năng chuyển hóa dầu thầu dầu thành chất thơm
- decalactone 14

Luận văn thạc sĩ khoa học Nguyễn Xuân Việt
Chuyên ngành Vi sinh vật học Khóa 2011-2013

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Aox
Acyl-coA oxydase
ATP
Adenosin triphosphat
CoA
Coenzyme A
Cs
Cộng sự
FDA
Food and drug administration
GC
Gas chromatography (Sắc ký khí)
Mb
Megabase
POX
Peroxisomal acyl-CoA oxidase
v/p
Vòng/phút
Y- VTP5
Yarrowia lipolytica-VTP5
YM
Yeast Maltose

Hiện nay, ngành công nghiệp chế biến thực phẩm có nhu cầu rất lớn về các chất
phụ gia tạo hương. Hương tạo nên giá trị cảm quan và hương vi đặc trưng cho thực
phẩm. Trong quá trình chế biến thực phẩm, cấu tử hương trong nguyên liệu ban đầu
sẽ dần mất đi, điều đó bắt buộc các nhà công nghệ phải nghĩ tới phương án thêm
chất phụ gia tạo hương. Mặt khác, trong các sản phẩm thực phẩm pha chế (nước
ngọt, rượu mùi, sữa chua ) luôn cần sự có mặt của các chất tạo hương. Ngoài công
nghiệp thực phẩm ra, những ngành khác cũng có nhu cầu sử dụng các chất phụ gia
tạo hương, đó là: công nghiệp mỹ phẩm, chất phụ gia để sản xuất nước hoa, phấn
son, kem xoa; công nghiệp dược cần thêm các chất tạo hương vào thuốc, đặc biệt là
các loại thuốc cho trẻ em để làm át đi hương vị khó chịu của thuốc và làm cho thuốc
dễ uống hơn; việc sản xuất các hàng tiêu dùng như kem đánh răng, xà phòng thơm,
nước gội đầu, vv cũng cần bổ xung chất phụ gia tạo hương.
Trong số các cấu tử tạo hương như este, andehyde, lactone, alcohol thì
lactone là hợp chất khá phổ biến và là cấu tử hương thơm chính trong một số loại
hoa quả, thảo mộc như đào, mận, dừa, dâu tây Trong các lactone thì γ-decalactone
(C
10
H
18
O
2
) là có giá trị nhất, được nghiên cứu nhiều nhất. Chất này tồn tại trong tự
nhiên ở mức độ vi lượng, song là thành phần chủ đạo tạo nên hương thơm cho nhiều
loại quả. γ- decalacton có thể được tổng hợp bằng con đường sinh tổng hợp từ dầu
thực vật nhờ quá trình chuyển hoá của vi sinh vật.
Trong các loại dầu thực vật, dầu thầu dầu (castor oil), là một loại nguyên liệu
phù hợp cho quá trình tổng hợp γ-decalactone. Quá trình thuỷ phân dầu thầu dầu sẽ
tạo ra axit ricinoleic, đây là “cơ chất” để một số nấm men chuyển hóa thành chất
thơm, nhờ quá trình β-oxi hóa.
Luận văn thạc sĩ khoa học Nguyễn Xuân Việt
Chuyên ngành Vi sinh vật học Khóa 2011-2013
3
Mục tiêu của đề tài

Chứng minh dầu thầu dầu Việt Nam như một nguyên liệu tiềm năng trong việc
sản xuất chất thơm –decalactone nhờ nấm men, cũng như nấm men Yarrowia
lipolytica VTP5 như một chủng tiềm năng cho việc sản xuất này.

Nội dung nghiên cứu

1. Lựa chọn điều kiện thích hợp để lên men chuyển hóa sinh học dầu thầu dầu
thành chất thơm –decalactone bằng nấm men Yarrowia lipolytica VTP5, quy mô
trên máy lắc.
2. Lựa chọn điều kiện thích hợp cho quá trình lên men đó trong các nồi lên
men dung tích 5L và 50L.
3. Tìm các điều kiện tách chiết và thu nhận chất thơm –decalactone từ dịch
lên men.
[16][18].
Đặc điểm hình thái, di truyền
Yarrowia lipolytica là loại nấm men lưỡng hình chuyển hóa chất béo, thường
được phân lập từ nhiều loại thực phẩm khác nhau, từ môi trường tự nhiên như nước
thải của nhà máy ép dầu, xưởng sản xuất thực phẩm có dầu, hay từ môi trường ô
nhiễm dầu. Hầu hết các tế bào phân lập được ở trạng thái đơn bội, nhưng một số ít ở
trạng thái lưỡng bội để hình thành bào tử túi chứa bốn bào tử. Các tế bào có thể biệt
hóa thành dạng đơn bào, dạng hệ sợi giả, hay dạng sợi, tùy thuộc vào điều kiện sinh
trưởng. Bộ gen trong nhân của Y. lipolytica có sáu nhiễm sắc thể, với kích thước
khoảng 20Mb. Nhiều trong số các gen xuất hiện tương tự như gen của nấm sợi hơn
là của nấm men truyền thống Saccharomyces cerevisiae. Việc giải mã trình tự bộ
gen của Y. lipolytica gần đây đã cho biết nhiều thông tin quan trọng về tích lũy và Luận văn thạc sĩ khoa học Nguyễn Xuân Việt
Chuyên ngành Vi sinh vật học Khóa 2011-2013
5
phân giải lipit, về sự tương tác của cơ chất kỵ nước với các tế bào nấm men, sự hấp
phụ và vận chuyển của chúng, các quá trình oxy hóa các cơ chất này và các enzyme
khác nhau tham gia vào những quá trình đó. Một số enzyme liên quan đến sử dụng
cơ chất kỵ nước thuộc các loại multigene (đa gen). Ví dụ: lipases/esterase (LIP
genes), cytochromes P450 (ALK genes) và peroxisomal acyl-CoA oxidases (POX
genes) được mã hóa bởi một họ 5 gen có tên POX1, POX2, POX3, POX4, POX5,
những gen này mã hóa tổng hợp năm enzyme acyl-coenzyme A oxidases (Aox) là
Aox1, Aox2, Aox3, Aox4, Aox5. Các enzyme ở thể peroxi có vai trò quan trọng
trong sản xuất - decalactone từ methyl ricinoleate, một phần chuỗi ngắn riêng Aox
(Aox3) có liên quan đến quá trình tái tiêu thụ - decalactone. Khi những gen này bị
đột biến, tế bào không chết nhưng sự phân giải, sử dụng các cơ chất kỵ nước của
Yarrowia lipolytica bị ức chế [21][25][27].
Đặc điểm sinh lý học
Hình 1.1 Tế bào Yarrowia lipolytica sinh trưởng trong môi trường chứa methy
ricinoleate [16].
Sau khi được vận chuyển vào trong tế bào, nếu là chất béo, trước hết chúng sẽ
chịu tác động của enzyme lipotic (lipase) để bị thủy phân thành glycerol và axít béo;
tiếp đó các cơ chất kỵ nước này sẽ được hydroxy hóa nhờ hệ ezyme có tên là
cytochrome P450 monoxidase khu trú trong lưới nội chất, rồi tiếp tục chịu tác động
của hệ enzyme oxidase chuyển thành andehyde béo; tiếp đó là quá trình oxi hóa
andehyde béo được xúc tác bởi aldehyde dehydrogenase [10].
Ngoài nguồn cacbon kể trên, Yarrowia lipolytica cũng có thể sử dụng ancol
(ankan, glycerin…), axit hữu cơ (axit axetic, axit xitric, axit succinic…) hay các
muối của các axit hữu cơ đó như những nguồn cacbon duy nhất để sinh trưởng, và
chuyển hóa các chất theo những hướng khác nhau [16].
Nhu cầu oxy
Nấm men Yarrowia lipolytica sống hiếu khí bắt buộc, sự sinh trưởng và trao
đổi chất của nó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, đặc biệt là lượng oxy trong môi
trường nuôi cấy. Trong quá trình nuôi cấy, nhu cầu oxy cho sự sinh trưởng và trao
đổi chất của nấm men này phụ thuộc vào nồng độ ion sắt có trong môi trường [12].
Ngoài việc khuấy lắc, có nhiều phương pháp được áp dụng nhằm tăng hàm lượng Luận văn thạc sĩ khoa học Nguyễn Xuân Việt
Chuyên ngành Vi sinh vật học Khóa 2011-2013
7
oxy trong môi trường nuôi cấy như sục khí nén, đặc biệt là bổ sung chất mang
perfluorocarbons (PFC) đã hòa tan oxy vào bình lên men trong giai đoạn sau của

8
Để sản xuất các chất thơm từ cơ chất tự nhiên người ta sử dụng enzyme hoặc
vi sinh vật. Các chất thơm được tạo thành theo cách này được gọi là “hợp chất tự
nhiên” bởi chúng được tạo ra từ các sản phẩm nông nghiệp thông qua hoạt tính sinh
học tự nhiên (enzyme và vi sinh vật) và nhờ đó, tỷ lệ các đồng phân (isomers) và
đồng vị (isotops) của các chất thơm này có thể so sánh được với sản phẩm chiết
xuất từ tự nhiên, không như các chất được tổng hợp bằng quá trình hóa học.
Trong thực phẩm, lipit được khử hoặc biến đổi nhờ các enzyme có sẵn trong
nguyên liệu thô hoặc enzyme được tạo ra do quá trình sinh trưởng trong môi trường
thực phẩm của vi sinh vật .
Mặc dù có nhiều nghiên cứu về chất thơm trong thực phẩm nhưng chỉ có một
số ít chất thơm được nghiên cứu để sản xuất bằng con đường sinh học. Trong số đó
được quan tâm nhiều nhất là các chất thơm họ lactone như -decalactone và các chất
thơm từ carotenoit.
Các chất thơm có sức hấp dẫn đặc biệt bởi nó liên quan đến hương vị và tạo
nên giá trị cảm quan cho thực phẩm. Trong đa số trường hợp, chất thơm đem lại cho
người sử dụng thực phẩm cảm giác ngon miệng. Chất thơm trong thực phẩm có thể
có sẵn từ nguyên liệu ban đầu, hay có thể được hình thành trong quá trình chế biến,
hoặc được thêm vào thực phẩm như chất phụ gia với mục đích tăng giá trị cảm quan
trong thực phẩm. Hiện nay ngành công nghiệp chế biến thực phẩm có nhu cầu rất
lớn về các chất phụ gia tạo hương. Trong quá trình chế biến thực phẩm và đồ uống,
các chất thơm có trong nguyên liệu ban đầu thường xuyên bị mất đi, khiến các nhà
công nghệ phải nghĩ tới phương án thêm chất phụ gia. Mặt khác các sản phẩm như
nước ngọt, rượu mùi, sữa chua,… luôn cần sự có mặt của các chất thơm. Ngoài
công nghiệp chế biến thực phẩm và đồ uống thì công nghiệp mỹ phẩm, chất tẩy rửa
và công nghiệp dược là các ngành có nhu cầu lớn sử dụng các chất phụ gia tạo
hương [2].
1.2.2. Chất thơm -decalactone
Trong số các cấu tử thơm như andehit, este, lactone,…thì lactone là hợp chất
khá phổ biến. Các lactone là cấu tử tạo hương thơm chính của của nhiều loại quả

O
2
(M =170).
- Công thức cấu tạo

- Nhiệt độ sôi: 218
o
C
- Tỷ trọng : 0,952
- Mùi : Hoa quả và bơ sữa.
-decalactone không có độc tính và có thể sử dụng trực tiếp trong thực phẩm.
Năm 1974, Ủy ban hợp tác Châu Âu đã đưa -decalactone vào danh sách những hợp
chất thơm tổng hợp được sử dụng trong thực phẩm ở mức độ cao nhất (từ 5-20
ppm). Tuy nhiên trong thực tế, nồng độ lactone này được sử dụng trong thực phẩm
cũng không quá 3 ppm và trong nước hoa từ 20-400 ppm [23]. Trên thế giới, -
decalactone được sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp khác nhau, làm chất tạo Luận văn thạc sĩ khoa học Nguyễn Xuân Việt
Chuyên ngành Vi sinh vật học Khóa 2011-2013
10
hương cho thực phẩm, kẹo cao su, kem đánh răng, đồ uống, nước hoa, sản phẩm
làm mềm vải, các chế phẩm dùng cho tóc…
1.2.3. Các con đƣờng tạo thành chất thơm γ-decalactone ở vi sinh vật
γ-decalactone có mặt trong một số loại quả nhưng với hàm lượng rất ít. Bởi vậy
người ta đã tìm cách sản xuất chất thơm này với một lượng dồi dào nhờ vi sinh vật.
Tùy loại vi sinh vật mà chất này được tạo thành theo một trong hai con đường, đó là
tổng hợp sinh học (biosynthetic) và chuyển hoá sinh học (biotranformation). Con
đường chuyển hóa sinh học là con đường chính được ứng dụng trong công nghiệp sản
xuất chất thơm vì có khả năng cho năng xuất cao hơn tổng hợp sinh học [12].

hydroxyacyl-CoA, được xúc tác bởi enzyme enoyl-CoA hydratase.
3. Phản ứng khử hydro đối với -hydroxy acyl-CoA, do enzyme -hydroxy
acyl-CoA dehydrogenase xúc tác, tạo ra -keto acyl-CoA và biến đổi NAD
+

thành NADH.
4. Phản ứng tách acetyl-CoA và tạo acyl-CoA mới ngắn hơn 2 nguyên tử C
được xúc tác bởi enzyme acyl-CoA acetyl transferase (còn gọi là thiolase).
Quá trình trên được lặp lại, axít béo bị cắt ngắn dần thành các acetyl CoA. Sau
một chu kỳ, tế bào thu được 2 cặp H
+
: 1 cặp cho FAD và 1 cặp cho NAD
+
và 1 phân
tử acetyl-CoA. Như vậy qua 4 giai đoạn thì phân tử axit béo lại ngắn đi 2 nguyên tử
cacbon để tạo thành acetyl CoA (hình 1.2).

Hình 1.2. Sơ đồ cơ chế chuyển hóa axit ricinoleic thành chất thơm -decalactone [24] Luận văn thạc sĩ khoa học Nguyễn Xuân Việt
Chuyên ngành Vi sinh vật học Khóa 2011-2013
12
Trên sơ đồ, axít ricinoleic bị cắt dần thành từng mạch 2 cacbon, tạo ra acetyl
CoA, chất này sau đó sẽ biến đổi qua chu trình axit citric và chuỗi hô hấp tế bào, tạo
năng lượng ATP cung cấp cho hoạt động sống của vi sinh vật. Quá trình này tạo ra
sản phẩm trung gian là axit 4 - hydroxy decanoic, axít này sẽ đóng vòng để tạo ra -
decalactone, β- oxy hóa là con đường chính trong công nghiệp để tổng hợp -
decalactone và các lactone khác vì cho năng suất cao [24][36][39].
1.3. Chuyển hóa sinh học axit ricinoleic thành chất thơm γ- decalactone

và danh pháp IUPAC [R,Z]-12 hydroxy-9-
octadecenoic acid (hình 1.4 )}.
O
OH
OH

Hình 1.4 Công thức cấu tạo của axit ricinoleic (12 hydroxy-9-octadecenoic
acid) [18].
Axit này cấu tạo từ bộ khung 18 nguyên tử cacbon với một liên kết đôi ở giữa
nguyên tử cacbon số 9 và số 10, một nhóm hydroxyl gắn với nguyên tử cacbon số
12. Cấu trúc hóa học này khá tương đồng với 4- hydroxy decanoic mà dạng lactone
của nó là - decalactone. Đặc điểm này cho phép ta có ý tưởng về việc sinh chuyển
hóa dầu thầu dầu thành chất thơm [4].
Thành phần hóa học của dầu thầu dầu ở các nước như Việt Nam, Ấn Độ,
Braxin (bảng 1.1),…có sự khác biệt, tuy nhiên thành phần chính vẫn là axit
ricinoleic chiếm tới 83-90,4%. Hiện nay dầu thầu dầu là một trong những dầu công
nghiệp quan trọng nhất được sử dụng trực tiếp (ở dạng liên kết glyxerit) hoặc gián
tiếp (qua các biến đổi hóa học) trong rất nhiều lĩnh vực công nghiệp và đời sống.
Đặc biệt, dầu thầu dầu là nguồn nguyên liệu cho việc tổng hợp các hợp chất thơm
dạng lactone .
Bảng 1.1. Thành phần axít hữu cơ trong dầu thầu dầu [17].
Axit
Dầu Việt Nam (%)
Dầu Braxin (%)
Dầu Ấn Độ (%)
Ricinoleic
86,36
83- 90
87,4- 90,4
Linoleic

nghiên cứu ứng dụng chủ yếu tập trung vào nhóm nấm men chuyển hóa chất béo.
Một số vi sinh vật có khả năng chuyển hóa chất béo được nêu trong bảng 1.2.
Bảng 1.2. Một số vi sinh vật có khả năng chuyển hóa dầu thầu dầu thành chất
thơm - decalactone
Vi sinh vật
Sản lƣợng
γ-decalactone
(g/L)
Hiệu suất tổng hợp
γ-decalactone/ castor
oil (g/g)
Tài liệu tham
khảo
Yarrowia lipolytica
0,61
0,0061
[17].
Sporidiobolus
odorus
1
0,10
[15].
Saccharomyces
cerevisiae
3,7
0,13
[13].
Yarrowia lipolitica
HR 145
(DSM 12397)

Candida 107 tỷ lệ này là 28% [11][21][27].
Sản xuất carotenoids
Một số chủng nấm men chuyển hóa chất béo có khả năng tích lũy carotenoids
trong tế bào (tiền vitamin A, cơ chất tổng hợp chất thơm…). Về mặt sinh lý và sinh
thái vi sinh vật, việc tích lũy carotenoid giúp tế bào vi sinh vật tăng cường sức đề
kháng trước tác nhân bất lợi từ môi trường như tia tử ngoại. Một vài chủng trong số
đó đã được nghiên cứu và triển khai ứng dụng trong việc sản xuất carotennoid, như
Rhodotorula glutinis TISTR 5159, Rhodotorula glutinis CCY 20-2-26, Rhodototula
gracillis… Khả năng tích lũy carotenoid của chúng tăng lên khi nuôi cấy trong điều
kiện bất lợi như môi trường có H
2
O
2
đồng thời bị hạn chế nguồn nitơ, oxy. Khi đó
sản lượng carotenoid có thể đạt 26,30mg/L dịch nuôi cấy. Các chủng nấm men này
đã được ứng dụng để lên men trong đó sử dụng nguồn cacbon của nước thải từ các
nhà máy sản xuất dầu cọ, dầu đậu nành, mà chỉ cần bổ sung thêm nguồn nitơ là
(NH
4
)
2
SO
4
và chất hoạt động bề mặt như Tween 20 [14][26].
Sản xuất enzyme
Một trong những enzyme ngoại bào quan trọng nhất của vi sinh vật là lipase;
enzyme này được ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp sản xuất chất tẩy rửa, thực
phẩm, dược phẩm, xử lý chất thải. Nhiều nhóm nấm men chuyển hóa chất béo có khả
năng tổng hợp lipase với sản lượng cao. Những cơ chất tốt nhất cho những chủng
nấm men này sử dụng để tổng hợp lipase là dầu cọ, dầu oliu, dầu hạt cải, dầu đậu

Ngoài những ứng dụng chủ yếu trên đây, nấm men chuyển hóa chất béo còn có
thể được sử dụng cho nhiều mục đích khác như sản xuất biodiesel, sản xuất axit
citric, làm vi nang sinh học, xử lý ô nhiễm môi trường (nhất là môi trường bị ô nhiễm
bởi chất thải chứa dầu như chất thải từ nhà máy chế biến dầu thực vật, từ các nhà máy
sữa, môi trường đất ô nhiễm bởi dầu, bởi hạt có dầu và thực phẩm phân hủy) [16].

Trích đoạn Làm sạch dịch chiết cô đặc bằng cách rửa kiềm Ứng dụng phƣơng pháp lên men tiếp dần cơ chất (fed-culture) Lựa chọn điều kiện chiết rút và thu nhận γ-decalactone từ dịch lên men
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status