Mục lục
Mở ĐầU...........................................................................................................................................2
Chơng 1.........................................................................................................................................7
MộT Số VấN Đề Lý LUậN Về CáN Bộ, CÔNG CHứC.........................................................7
ở VIệT NAM HIệN NAY...............................................................................................................7
1.1. quan niệm về công vụ..............................................................................7
1.2. quan niệm về cán bộ, công chức...........................................................13
1.3. yêu cầu và nội dung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức...................22
Chơng 2.......................................................................................................................................35
Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức...................................................................35
tỉnh phú thọ hiện nay........................................................................................................35
2.1. thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức tỉnh Phú Thọ hiện nay...............35
2.2. Thực trạng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức tại tỉnh Phú Thọ.......40
2.3. Đánh giá chung về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức tỉnh Phú Thọ51
Chơng 3.......................................................................................................................................57
Phơng hớng và giảI pháp xây dựng............................................................................57
đội ngũ cán bộ, công chức tại tỉnh phú thọ.........................................................57
3.1. phơng hớng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức tại tỉnh Phú Thọ......57
3.2. Một số giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức tại
tỉnh Phú Thọ.................................................................................................63
Kết luận.....................................................................................................................................87
Danh mục tài liệu tham khảo.......................................................................................94
Danh mục tài liệu tham khảo.......................................................................................99
Mở ĐầU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ XX đến nay, sự phát triển mạnh
mẽ của khoa học công nghệ đã làm biến đổi sâu sắc tất cả các lĩnh vực của đời
sống xã hội, mở ra một thời đại mới cùng sự phát triển của kinh tế tri thức. Đặc
trng cơ bản của kinh tế tri thức là nguồn nhân lực có trí tuệ, có kỹ năng, đợc đào
tạo cơ bản, do vậy vai trò của nguồn lực con ngời ngày càng tăng, hàm lợng trí
tuệ trong các sản phẩm lao động ngày càng cao, giá trị của tri thức ngày càng đợc
phát triển kinh tế tri thức có thể đợc coi là khâu đột phá trong chiến lợc phát triển
kinh tế - xã hội của đất nớc.
Phú Thọ là tỉnh thuộc khu vực miền núi trung du phía Bắc, nằm trong khu
vực giao lu giữa vùng Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và Tây Bắc (vị trí địa lý
mang ý nghĩa trung tâm của tiểu vùng Tây - Đông Bắc), là cầu nối giao lu
kinh tế văn hóa khoa học kỹ thuật giữa các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ với các
tỉnh miền núi Tây Bắc. Nền kinh tế của tỉnh những năm qua đã có bớc phát triển,
tuy nhiên cha ổn định vững chắc, cha tơng xứng với tiềm năng, lợi thế của vùng.
Kinh tế chủ yếu phát triển theo chiều rộng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và ứng
dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn chậm; tình hình an ninh, chính
trị và trật tự xã hội còn có nhiều yếu tố tiềm ẩn khó lờng. Vì vậy, công cuộc xây
dựng và phát triển kinh tế xã hội, củng cố và tăng cờng quốc phòng an ninh; xây
dựng hệ thống chính trị ở tỉnh Phú Thọ trong sạch vững mạnh là nhiệm vụ cấp
bách, đặc biệt là phải nhanh chóng xây dựng và nâng cao chất lợng đội ngũ cán
bộ, công chức vững mạnh, đồng bộ, đủ sức hoàn thành tốt nhiệm vụ trong thời kỳ
đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Trớc những yêu cầu
bức thiết và thực tế ở địa phơng nên tôi chọn đề tài: Xây dựng đội ngũ cán bộ,
công chức tại tỉnh Phú Thọ hiện nay làm đề tài Luận văn thạc sĩ chuyên ngành
Lý luận và lịch sử Nhà nớc và Pháp luật.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề xây dựng và nâng cao chất lợng đội ngũ cán bộ, công chức đã đợc
các nhà nghiên cứu khoa học xã hội, các nhà hoạt động chính trị trong nớc và
ngoài nớc quan tâm nh Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất l ợng đội ngũ
cán bộ, công chức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc
của PGS.TS. Nguyễn Phú Trọng và PGS.TS Trần Xuân Sầm, NXB Chính trị quốc
gia, 2003; Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng đòi hỏi của Nhà n ớc
3
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân của TS. Thang Văn Phúc và
TS. Nguyễn Minh Phơng, NXB Chính trị quốc gia, 2004; Công vụ, công chức
Những khía cạnh pháp lý và hành chính của GS.TS Phạm Hồng Thái, 2004; Hệ
ớng và giải pháp chủ yếu xây dựng và nâng cao chất lợng đội ngũ cán bộ, công
chức trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đáp ứng với yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại
hoá và hội nhập kinh tế quốc tế trong giai đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Để thực hiện đợc mục đích nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ cụ thể sau
đây:
+ Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức.
+ Phân tích thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức ở tỉnh Phú Thọ qua đó nêu
ra những vấn đề tồn tại cần khắc phục cũng nh phân tích các nguyên nhân, hạn
chế.
+ Đề xuất phơng hớng và giải pháp xây dựng và nâng cao chất lợng đội ngũ
cán bộ, công chức ở địa bàn tỉnh Phú Thọ đáp ứng với yêu cầu mới hiện nay và
những năm tiếp theo.
4. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn tập trung nghiên cứu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức tại tỉnh
Phú Thọ giai đoạn 2003-2008 và đề xuất giải pháp đến năm 2015, định hớng đến
năm 2020.
5. Phơng pháp nghiên cứu
- Dựa trên phơng pháp luận của Chủ nghĩa Mác- Lênin, t tởng Hồ Chí Minh
về công tác cán bộ, quá trình nghiên cứu sử dụng phơng pháp luận Duy vật biện
chứng và Duy vật lịch sử; phơng pháp thống kê, so sánh, phân tích, quy nạp, diễn
dịch và phơng pháp thực chứng để phân tích làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu.
- Kế thừa có chọn lọc và phát huy kết quả các công trình nghiên cứu của các
tác giả khác có liên quan đến vấn đề đang nghiên cứu nh: Luận án, luận văn, đề
tài nghiên cứu, bài viết đăng trên các tạp chí, báo,...
6. Đóng góp khoa học và ý nghĩa của luận văn
6.1. Đóng góp khoa học của luận văn
- Khái quát có hệ thống, phân tích và đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ,
công chức của tỉnh Phú Thọ trong những năm gần đây.
động hay lao động đặc biệt do cán bộ, công chức của bộ máy nhà nớc thực hiện.
Khi quan niệm về công vụ ra sao thì sẽ có một quan niệm nhất định về cán bộ,
công chức tơng ứng. Nói cách khác, quan niệm về cán bộ, công chức đợc xây
dựng trên cơ sở gắn liền với quan niệm về chế độ công vụ. Bản thân kết quả thực
thi công vụ lại là sản phẩm hoạt động của ngời cán bộ, công chức. Ngợc lại, hiệu
lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nớc tuỳ thuộc vào chất lợng thực thi
công vụ của cán bộ, công chức.
Từ góc độ lao động xã hội thì công vụ là một dạng lao động xã hội đặc biệt
khác với các loại lao động xã hội khác. Công vụ là hoạt động nhà nớc do cán bộ,
công chức nhà nớc thực hiện dựa trên cơ sở quyền lực nhà nớc và pháp luật, đợc
bảo đảm bằng quyền lực nhà nớc, pháp luật và sử dụng quyền lực đó để thực thi
các nhiệm vụ, chức năng quản lý nhà nớc.
Công vụ là một khái niệm, một phạm trù mang tính lịch sử. ở mỗi giai đoạn
lịch sử khác nhau và ở mỗi chế độ nhà nớc khác nhau, nền công vụ đợc quy định
khác nhau do có những cách hiểu, quan niệm khác nhau về phạm vi khái niệm
công vụ. Phạm vi công vụ luôn phụ thuộc vào quan điểm chính trị, chế độ chính
7
trị - xã hội và bản chất của nhà nớc. Từ những góc độ khác nhau, có những quan
niệm khác nhau về công vụ, mỗi một chế độ chính trị - xã hội nhà khoa học lại
có thể đa ra quan niệm của mình về công vụ, vì đây là vấn đề lý thuyết. Lý thuyết
là nhận thức, suy nghĩ của con ngời về thực tiễn. Hoạt động của cán bộ, công
chức là có thật trong thực tiễn, còn đó là hoạt động gì, khác với các hoạt động,
hay lao động xã hội khác nh thế nào là do con ngời suy nghĩ, phản ánh nó.
Dới chế độ phong kiến, cả phơng đông và phơng tây với chính thể quân chủ
tuyệt đối, công vụ đợc xem nh một sứ mạng thiêng liêng cao cả, đợc xã hội trọng
vọng, tôn vinh và cũng là nơi quy tụ các lợi ích vật chất, quyền thế về tinh thần
đối với nhân dân. Việc tuân thủ mệnh lệnh của nhà vua tức là thực thi bổn phận
công vụ. Do đó, công vụ xét cho cùng là chế độ phục vụ nhà vua. Nhiều tác giả
khi nghiên cứu về công vụ của nhà nớc phong kiến Việt Nam đều cho rằng:
Công vụ ngày xa là việc quan, là một công việc ai cũng xem là quan trọng, một
trí công chức theo yêu cầu công việc và theo công trạng, năng lực của bản thân
từng công chức. Chế độ công vụ này tạo ra sự cạnh tranh nội bộ giữa các công
chức, đồng thời có sự cạnh tranh giữa những ngời trong công vụ và ngoài công
vụ. Các nớc có nền công vụ theo chế độ việc làm là Mỹ, Hà Lan và các quốc gia
chịu ảnh hởng của Mỹ.
Do đặc điểm này mà nền công vụ việc làm (chức vụ) không tạo ra sự ổn
định cần thiết cho nền hành chính, đội ngũ công chức không có tính liên tục và
kế thừa. Tuy vậy, nền công vụ này rất năng động và có hiệu suất cao, do tận dụng
đợc hết mọi khả năng của ngời công chức [51].
- Đối với các nớc đang phát triển, mới giành đợc độc lập, nền công vụ ở các
nớc này thờng mang đặc trng hỗn hợp, chịu ảnh hởng từ nhiều nền công vụ khác,
công vụ phong kiến, công vụ chức nghiệp, công vụ việc làm, cũng nh bản sắc
riêng của quốc gia đó. Nền công vụ cha đợc định hình, thờng nghiêng về mô hình
công vụ nớc nào nó chịu ảnh hởng nhiều nhất, thông thờng là nớc cai trị trớc kia.
- Trong nhà nớc xã hội chủ nghĩa trớc đây, có ý kiến cho rằng tồn tại một
nền công vụ riêng, với đặc trng của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa trong đó
Đảng cộng sản giữ vai trò lãnh đạo. Đội ngũ nhân sự trong tổ chức Đảng cũng
nh trong Nhà nớc đều do Đảng bố trí sắp xếp, quản lý, cùng hởng quy chế pháp
lý chung với các đối tợng cán bộ Đảng, tổ chức xã hội. Việc luân chuyển nhân
lực từ ngành này sang ngành khác, từ trung ơng đến địa phơng, từ tổ chức Đảng,
tổ chức xã hội sang cơ quan nhà nớc và ngợc lại rất đơn giản, không cần thi
tuyển, kiểm tra, sát hạch và chuyển đổi chuyên môn nghề nghiệp do yêu cầu
9
của tổ chức, do tổ chức phân công. Do vậy, không tạo ra sự ổn định và tính
chuyên nghiệp của nền công vụ, ngời công chức không tích lũy đợc kinh nghiệm,
không thích nghi với công việc [51].
ở Việt Nam, hoạt động do các cán bộ, công chức, viên chức trong bộ máy
của Nhà nớc, Đảng, các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức xã hội khác thực
hiện đều là hoạt động phục vụ lợi ích công, lợi ích chung của xã hội, của cộng
đồng. Điều này bắt nguồn từ bản chất nhà nớc ta là nhà nớc của nhân dân, do
Ba là, hoạt động công vụ có thể không trực tiếp làm ra của cải vật chất cho
xã hội nhng bảo đảm các điều kiện, hỗ trợ, tổ chức quản lý hoạt động sản xuất
của cải vật chất. Nói cách khác, đó là hoạt động quản lý con ngời, nhằm tác động
lên con ngời hoặc phục vụ con ngời. Đây là hoạt động của những ngời làm quản
lý chuyên nghiệp - công chức, những ngời thực hiện hoạt động hành chính - nhà
nớc theo cách nói thông dụng hiện nay; và của cả những ngời có uy tín và năng
lực quản lý đợc bầu - cán bộ. Ngoài ra, công vụ còn bao gồm cả hoạt động của
các chuyên gia trong các lĩnh vực hoạt động khác của Nhà nớc nh: giáo dục (giáo
viên), khoa học - công nghệ (nghiên cứu viên, kỹ s, kiến trúc s...), y tế (bác sĩ...),
văn hóa nghệ thuật (họa sĩ, nhạc sĩ, nhà văn...). Đây lại không phải là hoạt động
quản lý con ngời, mà là hoạt động trực tiếp làm ra những sản phẩm tinh thần cho
xã hội, tuy không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất.
Bốn là, hoạt động công vụ nhà nớc đợc bảo đảm bằng ngân sách nhà nớc.
Đặc trng cơ bản của nhà nớc là nhà nớc đặt ra thuế và thu thuế để nuôi dỡng bộ
máy nhà nớc, đảm bảo sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Đây là một đặc
điểm rất quan trọng để phân biệt hoạt động công vụ với hoạt động sản xuất kinh
doanh hay thực hiện các dịch vụ xã hội. Vì vậy, mọi hoạt động công vụ của cán
bộ, công chức không vì mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận và đợc bảo đảm hoạt động
bằng ngân sách nhà nớc.
1.1.2. Các nguyên tắc của công vụ nhà nớc
Các nguyên tắc của công vụ nhà nớc là những t tởng chủ đạo, chi phối toàn
bộ nền công vụ nhà nớc. Bản chất công vụ khác nhau nên có những nguyên tắc
mang tính chính trị xã hội khác nhau. Các nguyên tắc của công vụ nhà nớc đ-
ợc xác định bởi nội dung hoạt động công vụ, nghĩa là suy cho cùng, đợc xác định
bởi tính chất của nhà nớc, bởi bản chất giai cấp và tính xã hội của nhà nớc. Khi
nghiên cứu vấn đề này cũng cần phải thấy đợc mối liên hệ giữa bản chất nhà nớc
với bản chất của nền công vụ nhà nớc.
11
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về công vụ nhà nớc nên cũng có sự không
thống nhất về các nguyên tắc của công vụ nhà nớc, nhng nhìn chung, từ quan
12
công vụ, không bị phân biệt đối xử trong hoạt động công vụ giữa những ngời
khác nhau về giới tính, dân tộc và tôn giáo
- Nguyên tắc hiến định trong hoạt động công vụ là đảm bảo tính pháp chế.
Điều 12 Hiến pháp 1992 quy định: Nhà nớc quản lý xã hội bằng pháp luật, không
ngừng tăng cờng pháp chế xã hội chủ nghĩa. Các cơ quan nhà nớc, tổ chức kinh
tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh
chấp hành Hiến pháp và pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm,
các vi phạm hiến pháp. Nguyên tắc này đòi hỏi mọi cơ quan nhà nớc, mọi cán bộ,
công chức khi thực thi công vụ đều phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và
pháp luật, tôn trọng pháp luật và đặt công vụ nhà nớc trong một trật tự pháp luật.
Tóm lại, công vụ nhà nớc là một dạng lao động của xã hội, nhằm thực hiện
chức năng, nhiệm vụ của nhà nớc, lợi ích của nhân dân, của tập thể, của cá nhân.
Hoạt động công vụ luôn gắn liền với quyền lực nhà nớc, đợc pháp luật điều
chỉnh, chủ yếu do cán bộ, công chức nhà nớc nhân danh quyền lực nhà nớc thực
hiện, nhng đồng thời hoạt động công vụ cũng mang tính phục vụ và có sự tham
gia, giám sát của nhân dân.
1.2. quan niệm về cán bộ, công chức
1.2.1. Quan niệm về cán bộ
Thuật ngữ cán bộ đợc sử dụng khá lâu tại các nớc xã hội chủ nghĩa và bao
hàm một diện rất rộng các loại nhân sự thuộc khu vực nhà nớc và các tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị xã hội. Thuật ngữ khi đó thờng dùng là cán bộ, công
nhân viên chức, bao quát tất cả những ngời làm công hởng lơng từ nhà nớc, kể
từ những ngời đứng đầu một cơ quan tới các nhân viên phục vụ nh lái xe, bảo vệ
hay lao công tạp vụ.
Do những điều kiện lịch sử nhất định, suốt một thời gian dài trong đời sống
chính trị - pháp lý ở Việt Nam tồn tại một tập hợp khái niệm cán bộ, công nhân,
viên chức không có sự phân biệt rạch ròi từng khái niệm cũng nh quy chế pháp
lý đối với từng nhóm. Pháp lệnh cán bộ công chức năm 1998 (sửa đổi bổ sung
năm 2003) đề cập tới ba đối tợng cán bộ, công chức, viên chức nhng không thể
Nh vậy, đến nay khái niệm cán bộ đã đợc quy định cụ thể, rõ ràng, xác định
rõ nội hàm, đó là những ngời giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong các cơ
quan nhà nớc thuộc hệ thống chính trị Việt nam, từ trung ơng đến cấp huyện,
quận và tơng đơng. Tùy góc độ và mục tiêu xem xét có thể phân biệt đội ngũ cán
bộ thành các nhóm khác nhau:
14
- Xét về loại hình có thể phân thành: cán bộ đảng, đoàn thể; cán bộ nhà nớc;
cán bộ kinh tế và quản lý kinh tế; cán bộ khoa học kỹ thuật.
- Xét theo tính chất và chức năng, nhiệm vụ có thể phân thành: nhóm chính
khách; nhóm lãnh đạo, quản lý; nhóm chuyên gia; nhóm công chức, viên chức.
+ Nhóm chính khách: Những cán bộ lãnh đạo ở tầm vĩ mô của đất nớc còn
đợc gọi là những nhà lãnh đạo chính trị cấp quốc gia hoặc là các chính khách.
Các nhà chính trị có thể đợc phân loại theo những căn cứ khác nhau nh: nhà
chính trị chuyên nghiệp và nhà chính trị không chuyên nghiệp; nhà chính trị
tham gia bộ máy nhà nớc và nhà chính trị không tham gia bộ máy nhà nớc. Họ
không thuộc đội ngũ công chức nhà nớc và ở mức độ nhất định, họ có vị trí độc
lập trong quan hệ với nền hành chính nhà nớc.
Do hoàn cảnh và điều kiện chính trị - xã hội đặc thù của Việt Nam nên
trong đời sống xã hội cũng nh trong các chế định pháp lý cha có sự phân định rõ
ràng chức danh và trách nhiệm của các nhà hoạt động chính trị. Vấn đề chất lợng
của đội ngũ cán bộ, công chức và đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo chính trị
cấp quốc gia có tầm quan trọng đặc biệt đối với công cuộc đổi mới. Do đó, bồi d -
ỡng, đào tạo và rèn luyện để hình thành rõ nét tâm lý, ý thức của các nhà lãnh
đạo chính trị để họ đạt tới tầm chính khách, đồng thời có quy chế hợp lý để các
chính khách thực hiện tốt vai trò, sứ mệnh của mình là việc làm hết sức cần thiết
nhằm góp phần nâng cao chất lợng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nớc.
+ Nhóm cán bộ lãnh đạo, quản lý: bao gồm những ngời giữ chức vụ và trách
nhiệm điều hành trong một cơ quan, tổ chức, đơn vị, có ảnh hởng lớn đến hoạt
động của tổ chức, có vai trò quyết định và định hớng, điều khiển hoạt động của
cả bộ máy.
cơ quan nhà nớc và hởng lơng từ ngân sách nhà nớc. Tuy nhiên, do tính đặc thù
của từng quốc gia nên quan niệm về công chức ở các nớc không hoàn toàn thống
nhất. Sự khác nhau này thể hiện trong các quan điểm dới đây:
- Quan điểm thứ nhất thờng xuất phát ở các nớc xã hội chủ nghĩa. Do đồng
nhất hoạt động công vụ với hoạt động quản lý của Đảng, đoàn thể dẫn đến quan
niệm về khái niệm công chức không chỉ bao gồm các đối tợng làm việc trong cơ
quan nhà nớc (cả lập pháp, hành pháp và t pháp) mà cả trong các tổ chức Đảng,
đoàn thể, thậm chí trong cả các đơn vị sản xuất.
- Quan điểm thứ hai cho rằng, công chức bao gồm những ngời làm việc
trong bộ máy nhà nớc nói chung, tơng ứng với quan niệm công vụ là hoạt động
16
của toàn bộ bộ máy nhà nớc (bao gồm hoạt động của công chức trong cơ quan
quyền lực, xét xử, kiểm sát và cơ bản nhất là trong các cơ quan quản lý nhà nớc).
- Quan điểm thứ ba cho rằng, công chức bao gồm những ngời hoạt động
trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp của Nhà nớc và bộ máy phục vụ của các
cơ quan nhà nớc khác, giữ một công vụ thờng xuyên, ổn định.
- Quan điểm thứ t thuần túy cho rằng, công chức chỉ bao gồm những đối t-
ợng phục vụ trong bộ máy hành chính, giữ một chức vụ thờng xuyên và ổn định,
quan niệm này xuất phát từ chỗ coi công vụ nhà nớc chỉ là hoạt động của các cơ
quan hành chính.
Từ những quan niệm trên về công chức, mà ở những nớc khác nhau cũng có
những quy định khác nhau về đối tợng này.
ở Pháp, khái niệm công chức rất rộng, ngời công chức đợc phân thành hai
loại. Loại thứ nhất là những nhân viên công chức làm việc thờng xuyên trong bộ
máy nhà nớc, bị chi phối bởi Luật công chức; loại thứ hai là những nhân viên
công chức bị chi phối bởi Luật lao động, bởi bản hợp đồng và luật t. Họ đợc nhà
nớc hoặc cộng đồng lãnh thổ bổ nhiệm vào một công việc thờng xuyên trong các
công sở hay công sở tự quản, kể cả các bệnh viện [42].
ở Trung Quốc, một nớc theo thể chế Cộng hòa dân chủ nhân dân, chế độ
một Đảng lãnh đạo, khái niệm công chức nhà nớc dùng để chỉ những ngời công
bổ sung nhân lực trong bộ máy nhà nớc ngày càng tăng, thực tiễn khi đó không
có đủ nguồn nhân lực phù hợp với những tiêu chuẩn quy định đối với công chức
theo Quy chế nên suốt một thời gian dài sau đó, chế độ công chức dần đợc thay
thế bằng chế độ cán bộ, công nhân viên chức bao gồm tất cả những ngời làm
việc trong các cơ quan nhà nớc, cơ quan Đảng, tổ chức xã hội, các đơn vị kinh tế
nhà nớc. Tất cả đều thuộc biên chế nhà nớc, đợc gọi là cán bộ, công nhân viên
chức nhà nớc chung chung, không phân biệt ai là cán bộ, công nhân, viên chức
theo cách quan niệm có tính truyền thống đã hình thành trớc đó. Do vậy, pháp luật
không tiếp tục đi theo hớng điều chỉnh có tính chuyên biệt đối với từng đối tợng
lao động phục vụ trong các cơ quan, tổ chức sự nghiệp của nhà nớc.
Thuật ngữ công chức đợc sử dụng trở lại tại Nghị định số 169/HĐBT ngày
25/5/1991 của Hội đồng Bộ trởng về công chức báo hiệu xu hớng mới trong sự
điều chỉnh của pháp luật đối với hoạt động công vụ và về công chức. Theo quy
định tại Nghị định số 95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 và Nghị định số
117/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ,
18
công chức trong các cơ quan nhà nớc nhằm cụ thể hóa Pháp lệnh cán bộ công
chức 1993 và sửa đổi bổ sung năm 2003, công chức nói tại nghị định này và các
văn bản hớng dẫn thi hành đã đề cập một cách rõ ràng hơn về khái niệm cán bộ,
công chức nhng vẫn cha có sự phân biệt giữa công chức hành chính với công
chức sự nghiệp.
Trớc yêu cầu khách quan của tiến trình cải cách nền hành chính nhà nớc và
đòi hỏi chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức nhà nớc, Luật Cán bộ, công chức
của nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã đợc Quốc hội thông qua ngày
13/11/2008, có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 đã quy định rõ: Công chức là công
dân Việt Nam, đợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ
quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nớc, tổ chức chính trị - xã hội ở trung -
ơng, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà
không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong
cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan
chính hoặc tơng đơng;
- Công chức loại C: gồm những ngời đợc bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên
hoặc tơng đơng;
- Công chức loại D: gồm những ngời đợc bổ nhiệm vào ngạch cán sự hoặc t-
ơng đơng và ngạch nhân viên.
* Theo vị trí công tác: Công chức đợc phân ra làm hai loại:
- Công chức lãnh đạo, chỉ huy;
- Công chức chuyên môn, nghiệp vụ.
Việc phân loại công chức nh trên là việc làm có ý nghĩa thiết thực về mặt lý
luận và thực tiễn đối với việc cơ cấu, quy hoạch, quản lý công chức trong hoạt
động công vụ. Trên cơ sở cách phân loại này để có những tiêu chí khác nhau
trong việc đánh giá, sử dụng, đề bạt, xử lý công chức vi phạm một cách thích
hợp, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới xây dựng nhà nớc pháp quyền xã
hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
1.2.3. Đặc trng của đội ngũ cán bộ, công chức
Hoạt động quản lý nhà nớc chủ yếu đợc vận hành thông qua nền công vụ và
đội ngũ cán bộ, công chức nhà nớc, do vậy, cán bộ, công chức có những đặc trng
sau đây:
20
1.2.3.1. Là chủ thể của nền công vụ, có trách nhiệm thực thi công vụ và
đợc Nhà nớc đảm bảo các điều kiện cần thiết, quyền lợi chính đáng để có khả
năng và yên tâm thực thi công vụ.
Đội ngũ cán bộ, công chức nhà nớc là hạt nhân cơ bản của nền công vụ, là
chủ thể thực sự tiến hành các công vụ cụ thể và là yếu tố đảm bảo cho nền công
vụ hoạt động, vận hành có hiệu quả mà không thể chuyển giao cho bất kỳ tổ
chức, cá nhân nào bên ngoài. Họ là những ngời trực tiếp thi hành quyền lực nhà
nớc, lao động của họ thực chất là lao động quyền lực, khác với lao động sản xuất,
kinh doanh và các dạng lao động xã hội khác; đợc trao quyền để thực thi công
vụ, đồng thời có bổn phận phục vụ xã hội, công dân và chịu những ràng buộc
nhất định do liên quan đến chức trách đang đảm nhiệm.
mức thấp nhất những sai lầm có thể xảy ra trong tuyển dụng cán bộ, công chức
nhà nớc.
1.2.3.4. Luôn trung thành với Đảng, Chính phủ, với Tổ quốc và nhân dân.
Đây là đặc điểm cơ bản của đội ngũ cán bộ, công chức xuất phát từ truyền
thống tốt đẹp của nhân dân ta và từ đặc điểm lịch sử, quá trình đấu tranh cách
mạng ở Việt Nam. Nhà nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời từ thắng
lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 do nhân dân thực hiện dới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Về phơng diện pháp lý, Nhà nớc ta là thiết
chế quyền lực do nhân dân bầu ra theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu nhằm
phục vụ lợi ích của nhân dân, bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân. Do
vậy, ngoài việc thực hiện các đờng lối, chính sách của Đảng và Nhà nớc, trong
hoạt động của mình, các cơ quan nhà nớc, cán bộ, công chức phải luôn tôn trọng
nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe và
chịu sự giám sát của nhân dân.
1.3. yêu cầu và nội dung xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức
1.3.1. Yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay
Tại hội nghị Ban Chấp hànhTrung ơng ng lần thứ ba (khoá VIII), Đảng ta
đã xác định mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức của thời kỳ cụng
nghip hoỏ, hin i hoỏ là: Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức các cấp từ
Trung ơng đến cơ sở, đặc biệt là cán bộ đứng đầu, có phẩm chất và năng lực, có
bản lĩnh chính trị vững vàng trên cơ sở lập trờng giai cấp công nhân, đủ về số l-
ợng, đồng bộ về cơ cấu, bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục và vững vàng giữa các
22
thế hệ cán bộ nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ công nghiệp hóa hiện đại
hóa đất nớc, giữ vững độc lập tự chủ, đi lên chủ nghĩa xã hội; bảo đảm có đủ
nguồn cán bộ để mỗi nhiệm kỳ có thể đổi mới khoảng 30%- 40% số cán bộ lãnh
đạo Đảng, Nhà nớc, đoàn thể các cấp, cán bộ lãnh đạo lực lợng vũ trang; phấn
đấu đến năm 2020 số cán bộ có trình độ đại học, cao đẳng trở lên bằng khoảng
4% dân số cả nớc nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới của nền công vụ chuyên
độ chân thành, đồng thời hớng cho cấp dới tác phong cộng tác, giúp đỡ lẫn nhau;
Biết sử dụng đúng ngời, đánh giá đúng ngời, biết xử lý tốt các mối quan hệ trong
và ngoài hệ thống, quan hệ tốt, đúng mực với ngời dới quyền và với cấp trên.
+ Về phẩm chất chính trị, đạo đức:
Trong mọi giai đoạn cách mạng, phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị là
yêu cầu quan trọng cơ bản nhất đối với đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là trong
bối cảnh hiện nay, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế kèm theo những mặt trái
của cơ chế kinh tế thị trờng cùng các tác động tiêu cực nảy sinh hàng ngày đặt ra
yêu cầu đội ngũ cán bộ, công chức phải tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Mác-
Lê nin, t tởng Hồ Chí Minh, quan điểm đờng lối của Đảng, chính sách và pháp
luật của Nhà nớc, tích cực trong công cuộc đổi mới đất nớc; Có bản lĩnh và kiên
định trong công việc đợc giao; Biết biến nhận thức chính trị của mình thành nhận
thức của mọi ngời, tạo đợc lòng tin và lôi cuốn mọi ngời tham gia. Tùy từng vị
trí, thẩm quyền của mỗi cán bộ, công chức khác nhau mà yêu cầu về phẩm chất
chính trị cũng khác nhau. Cán bộ, công chức giữ cơng vị càng cao, phạm vi ảnh
hởng càng rộng thì bản lĩnh chính trị càng phải vững vàng, nhất là các cán bộ,
công chức có nhiệm vụ đề ra chủ trơng, đờng lối, các chính sách của Nhà nớc.
Đạo đức công vụ của ngời cán bộ, công chức gồm: đạo đức cách mạng, đạo
đức cá nhân và đạo đức nghề nghiệp; trong đó đạo đức cách mạng là nền tảng, là
gốc, là sức mạnh của ngời cán bộ, công chức. Đạo đức cách mạng thể hiện ở:
tinh thần yêu nớc nồng nàn, tận tụy phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấn đấu thực hiện có hiệu quả đờng lối của Đảng,
chính sách và pháp luật của Nhà nớc; Cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô t. Đạo
đức cá nhân của ngời cán bộ, công chức trớc hết thể hiện ở ý thức, niềm tin vào
định hớng xã hội chủ nghĩa, quyết tâm thực hiện mục tiêu dân giàu, nớc mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; tôn trọng, giữ gìn kỷ luật, kỷ cơng, sống và
làm việc theo pháp luật, có lối sống lành mạnh, không tham ô, lãng phí, có trách
nhiệm cao trong thi hành công vụ, có lòng nhân ái, vị tha, ứng xử đúng đắn trong
quan hệ gia đình, bè bạn và trong xã hội, có tinh thần hớng thiện, hiếu học. Đạo
24
bộ, công chức cần phải làm sao tuyển dụng đợc những ngời có khả năng đảm
trách đợc các công việc của cơ quan, tổ chức trong hiện tại và tơng lai, chứ không
25