ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ THỊ HOÀI CHÂU
NGHIÊN CỨU DU LỊCH LỄ HỘI CHÙA HƯƠNG
Ở HUYỆN MỸ ĐỨC, HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
Hà Nội-2014
1
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 7
Chương 1 14
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH LỄ HỘI 14
1.1 Văn hóa và du lịch văn hóa 14
1.1.1 Khái niệm văn hóa 14
1.1.2 Du lịch văn hóa 14
1.2.1 Lễ hội 16
1.2.2 Du lịch lễ hội 17
1.3.2An ninh chính trị và an toàn xã hội 20
1.3.3 Kinh tế, giao thông vận tải, khoa học kỹ thuật 22
1.3.4Trình độ dân trí, đặc điểm văn hóa 23
1.5 Những bài học kinh nghiệm về phát triển du lịch lễ hội 28
1.6 Những nhiệm vụ đặt ra trong việc nghiên cứu du lịch lễ hội chùa
Hương 32
CHƯƠNG 2 33
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH LỄ HỘI CHÙA HƯƠNG 33
2.1 Tổng quan về lễ hội chùa Hương 33
2.1.1. Lịch sử hình thành, phát triển chùa Hương 35
2.1.2 Hệ thống các di tích, danh thắng tại chùa Hương 36
2.1.2.2.Di tích khảo cổ, cổ vật 48
2.1.3. Lễ hội chùa Hương 50
68
3
2.2.3.5 Cơ sở vật chất của các di tích, chùa chiền, hang động, danh thắng 68
2.2.3.6 Cơ sở vật chất của dịch vụ vui chơi giải trí 69
2.2.4 Nhân lực du lịch lễ hội chùa Hương 70
2.2.5 Tổ chức, quản lý du lịch lễ hội chùa Hương 72
Bảng 2.11 Mô hình quản lý lễ hội chùa Hương 73
2.2.6. Tuyên truyền quảng bá du lịch lễ hội chùa Hương 75
2.2.7 Bảo tồn di sản văn hóa truyền thống lễ hội chùa Hương 76
CHƯƠNG 3 79
MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN 79
DU LỊCH LỄ HỘI CHÙA HƯƠNG 79
3.1. Căn cứ đề xuất giải pháp 79
3.1.1. Mục tiêu, chiến lược phát triển du lịch Hà Nội 79
3.1.2. Quy hoạch du lịch Hà Nội 81
3.1.3. Những hạn chế cần khắc phục của du lịch lễ hội chùa Hương 83
3.2. Các nhóm giải pháp 89
3.2.1 Giải pháp về mặt chính sách, quy hoạch, tổ chức, quản lý lễ hội chùa Hương 89
3.2.1.1 Chính sách, quy hoạch lễ hội chùa Hương 89
3.2.1.2 Hoàn thiện tổ chức, quản lý du lịch lễ hội chùa Hương 91
Giải pháp về đầu tư, phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch lễ hội chùa Hương 95
3.2.3 Giải pháp về phát triển sản phẩm, thị trường du lịch lễ hội Chùa Hương 97
Giải pháp phát triển nguồn nhân lực du lịch lễ hội Chùa Hương 101
3.2.5 Giải pháp về tuyên truyền, quảng bá du lịch lễ hội Chùa Hương 102
3.2.6 Giải pháp bảo vệ môi trường và bảo tồn các di sản văn hóa trong hoạt động du
lịch lễ hội Chùa Hương 103
3.3. Một số kiến nghị 105
3.3.1 Đối với các cơ quan quản lý nhà nước 105
4
3.3.2. Đối với các doanh nghiệp du lịch 106
Hiệp hội khoa học quốc tế về du lịch văn hóa
OECD
The Organisation for Economic Co-operation and
Development
Tổ chức phát triển và hợp tác kinh tế
NGO
Non – Government Organization
Tổ chức phi chính phủ
UBND Uỷ ban nhân dân
UNESCO
United Nations Educational Scientific and Cultural
Organization
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp
Quốc
7
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Danh thắng chùa Hương từ xa xưa đã nức tiếng thiên hạ, nơi đây được mệnh
danh là “kỳ sơn tú thủy” của Việt Nam. Những ai đã đến thăm chùa Hương cũng
đều bị cuốn hút bởi vẻ đẹp diễm lệ của phong cảnh và đắm chìm trong không gian
thanh tịnh, thoát tục của bầu không khí Phật Giáo. Bà Huyện Thanh Quan trong một
lần đến thăm chùa, trước cảnh sắc nơi đây đã viết bài thơ vịnh cảnh Hương Sơn:
Đệ nhất Nam thiên ấy cảnh này
Hai bên quả núi lồng gương suối
Cửa Phật lần theo tầng đá dãi
Nam – mô tiếng dậy thưa trần tục
Thuyền lan đón khách mái chèo lay
Bốn mặt hoa ngàn rủ bóng mây
Chùa tiên bát ngát khói hương bay
Non nước bồng lai mới thấy đây.
tình trạng chặt chém khách hàng chưa được giải quyết dứt điểm, việc kinh doanh ăn
uống động vật hoang dã hay tệ cờ bạc, bói toán, trật tự trị an… có nhiều hạn chế. Vì
vậy để đánh giá đúng thực trạng du lịch lễ hội chùa Hương từ đó vạch ra chiến lược
đúng đắn phù hợp nhằm cải thiện và phát triển môi trường du lịch lễ hội, đáp ứng
được nhu cầu của du khách đồng thời vẫn bảo tồn và gìn giữ được cảnh quan thiên
nhiên và giá trị bản sắc văn hóa đặc trưng của Hương Sơn cần có một công trình
nghiên cứu nghiêm túc.
Xuất phát từ mong ước trên, tác giả xin chọn vấn đề “Nghiên cứu du lịch lễ
hội chùa Hương ở Huyện Mỹ Đức, Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu luận văn.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Theo chính sách phát triển của Nhà nước, việc tập trung phát triển du lịch
thành một ngành công nghiệp mũi nhọn, trong đó có du lịch lễ hội là một trong
những vấn đề được đặc biệt quan tâm, bởi lễ hội mang nhiều nét văn hóa, bản sắc
của từng vùng miền cũng như tâm hồn của người dân bản địa. Do đó, những năm
gần đây, nghiên cứu lễ hội phát triển du lịch là đề tài rất được các nhà khoa học
quan tâm, trăn trở.
Ở đồng bằng châu thổ Sông Hồng, Lễ hội chùa Hương được coi là một trong
những lễ hội lớn nhất vùng, thu hút sự quan tâm của nhiều du khách cũng như các
nhà nghiên cứu, hoạch định kinh tế. Số lượng sách báo viết về lễ hội chùa Hương
9
vô cùng phong phú, đa dạng từ những sách du ký, sách lịch sử, sách giới thiệu du
lịch cho đến những công trình nghiên cứu khoa học.
Những sách viết về lịch sử và thắng cảnh chùa Hương như:
Di tích lịch sử chùa Hương của Thành Nhân: đây là cuốn sách giới thiệu
những nét đặc sắc về non nước, suối rừng, hang động và hệ thống đền chùa trong
khu Di tích lịch sử văn hoá Hương Sơn qua các thời kỳ xây dựng và phát triển.
Chùa Hương Tích của Dương Thư Pháp: chủ yếu là hình ảnh được thực hiện
từ những năm 30 của thế kỷ trước. Chùa Hương Tích là tài liệu khảo cứu về thuyền
phả của chùa Hương, có các chỉ dẫn về phong cảnh, đường xá, các điển tích về các
động và chùa trong quần thể di tích chùa Hương.
chính của những tài liệu này chủ yếu tập trung giới thiệu truyền thuyết khu Phật
tích, giới thiệu các thắng cảnh, lễ hội và các nghi lễ trong lễ hội chùa Hương.
Bên cạnh những tài liệu viết về khu thắng cảnh chùa Hương nói trên còn có
những công trình khoa học nghiên cứu về du lịch chùa Hương. Đầu tiên phải kể đến
đề tài khoa học cấp ngành do Kỹ sư Nguyễn Thăng Long chủ nhiệm mang tên
Nghiên cứu ảnh hưởng của tính mùa vụ du lịch đến hoạt động du lịch ở Việt Nam.
Đề tài phân tích những ảnh hưởng tiêu cực của tính mùa vụ đến phát triển du lịch,
trong đó có phân tích những ảnh hưởng của mùa vụ đến việc phát triển du lịch ở
chùa Hương. Ngoài đề tài nói trên, đáng chú ý hơn cả là công trình khoa học cấp bộ
do PGS.TS Võ Quế chủ nhiệm mang tên Nghiên cứu xây dựng mô hình phát triển
du lịch dựa vào cộng đồng tại chùa Hương- Hà Tây. Công trình nghiên cứu lý luận
về du lịch cộng đồng, tập trung phân tích hiện trạng du lịch chùa Hương, đánh giá
phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại chùa Hương để từ đó xây dựng mô hình
phát triển du lịch dựa vào cộng đồng phù hợp. Bên cạnh đó là nhiều khóa luận tốt
nghiệp đại học ngành du lịch văn hóa cũng bước đầu đề cập đến vấn đề này.
Tóm lại các sách viết về chùa Hương đa phần là nghiên cứu, giới thiệu về
thắng cảnh, lịch sử khu di tích Hương Sơn, còn những sách viết riêng về lễ hội chùa
Hương lại chủ yếu tập trung ở phần giá trị văn hóa của lễ hội, miêu tả, giới thiệu lễ
hội. Còn các công trình nghiên cứu về du lịch chủ yếu tập trung đến vấn đề phát
triển du lịch cả quần thể chùa Hương, chứ không nghiên cứu riêng về du lịch lễ hội.
11
Do đó cần có một công trình nghiên cứu chuyên sâu, đầy đủ về lễ hội chùa Hương,
phân tích vai trò của lễ hội đối với phát triển du lịch đồng thời xây dựng chiến lược
phát triển du lịch lễ hội chùa Hương, nâng du lịch lễ hội chùa Hương lên một tầm
cao mới đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch đồng thời vẫn lưu giữ bảo tồn
được những nét văn hóa đặc thù của riêng lễ hội nơi đây.
3. Mục đích nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm đưa ra những luận cứ khoa học cho việc phát triển du
lịch lễ hội ở chùa Hương nói riêng, phát triển du lịch lễ hội nói chung, cũng như
Sau khi thu thập và phân loại các loại tài liệu, các nguồn thông tin, người
nghiên cứu sẽ sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để hoàn thiện
công trình nghiên cứu.
6. Bố cục luận văn
Luận văn ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, được
chia làm ba chương, bao gồm:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về du lịch lễ hội
Chương 2: Thực trạng hoạt động du lịch lễ hội chùa Hương
Chương 3: Một số giải pháp phát triển du lịch lễ hội chùa Hương.
7. Đóng góp của luận văn
- Tổng quan một số vấn đề lý luận về du lịch lễ hội
- Đánh giá thực trạng hoạt động du lịch lễ hội chùa Hương
- Đề ra một số giải pháp nhằm phát triển du lịch lễ hội chùa Hương.
13
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH LỄ HỘI
1.1 Văn hóa và du lịch văn hóa
1.1.1 Khái niệm văn hóa
Trước khi bàn về du lịch văn hóa ta cần định nghĩa văn hóa. Bởi hiểu được
văn hóa sẽ giúp ta hiểu về du lịch văn hóa.
Văn hóa là gì? Văn hóa là khái niệm phức tạp, đa nghĩa được nhiều nhà khoa
học nghiên cứu và giải thích.
Theo các nhà nhân chủng học, văn hóa là các kiểu hành vi, suy nghĩ mà con
người sống trong các nhóm xã hội tạo ra, học tập và chia sẻ với nhau. Văn hóa giúp
phân biệt nhóm người này với nhóm người khác và nó cũng là điểm khác biệt giữa
con người và động vật. Văn hóa bao gồm niềm tin, các quy tắc ứng xử, ngôn ngữ,
nghi lễ, nghệ thuật, kỹ thuật, trang phục, phương thức sản xuất, nấu ăn, tôn giáo, hệ
thống chính trị kinh tế. [ 41, 2008 ]
Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa
nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất,
mới không chỉ Việt Nam mà còn của nhiều quốc gia trên thế giới.
Vậy du lịch văn hóa là gì? Một trong những định nghĩa chuyên ngành nhất là
định nghĩa của ICOMOS. Theo hiến chương của ICOMOS về du lịch năm 1976 cho
rằng: “Du lịch văn hóa có thể được định nghĩa như một loại hình hoạt động giúp
con người trải nghiệm cách sống của người khác, nhờ đó được tiếp cận trực tiếp và
thấu đáo những công trình kiến trúc, lịch sử, khảo cổ, những phong tục tập quán,
truyền thống, môi trường tự nhiên, tri thức, và những giá trị văn hóa khác mà còn
được lưu giữ”. [49]
Ở Việt Nam “Du lịch văn hóa được hiểu là hình thức du lịch dựa vào bản sắc
dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa
truyền thống”. [18, tr.4]
15
Như vậy dù tiếp cận dưới bất cứ góc độ nào thì du lịch văn hóa vẫn là sản
phẩm do con người tạo ra. Nó là một tập hợp con của du lịch, mục đích của du lịch
văn hóa là dùng việc khai thác tài nguyên nhân văn để tạo ra các sản phẩm du lịch
nhằm thỏa mãn và đáp ứng nhu cầu thưởng thức giá trị văn hóa của khách du lịch.
1.2 Lễ hội và du lịch lễ hội
1.2.1 Lễ hội
Cư dân Việt xưa vốn là những nông dân làm nghề nuôi trồng lúa nước, hàng
năm cứ mỗi khi được việc đồng áng hoàn tất, công việc nhà nông cũng bớt vất vả,
bận rộn người dân lại tổ chức những nghi lễ để cảm ơn thần linh phù hộ trong cho
một mùa màng tươi tốt vừa qua, đồng thời cầu xin các ngài phù hộ cho một vụ mùa
bội thu sắp tới. Dần dần những nghi thức đơn sơ ban đầu này trở thành một sinh
hoạt cộng đồng chung, được xây dựng và tổ chức định kỳ hàng năm, gọi chung là lễ
hội. [39a, tr.102]
Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa “lễ hội là một hệ thống các hành vi,
động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phản ánh
những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có
khả năng thực hiện”. [15, tr.674]
Về căn bản, lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hoá đặc sắc phản ánh đời
Nghi lễ là một phần tất yếu quan trọng trong các lễ hội truyền thống, nó tạo
một khúc dạo đầu cần thiết, một yếu tố văn hóa thiêng liêng, một giá trị thẩm mỹ
đối với toàn thể cộng đồng trước khi bước vào phần hội sôi động, náo nhiệt.
Đối với các lễ hội dân gian, phần hội mang nhiều nét văn hóa truyền thống.
Trò chơi dân gian là một phần không thể thiếu trong những lễ hội này. Nguồn gốc
những trò chơi đều xuất phát từ ước vọng thiêng liêng của người làm nông nghiệp
như trò chơi ném pháo, đánh pháo đất đều là những trò chơi bày tỏ ước vọng cầu
mưa của người nông dân. [33b, tr275]
Du khách khi đến tham quan lễ hội cũng có thể cùng tham gia vào các trò
chơi ở lễ hội. Do đó phần hội rất sôi động và hấp dẫn.
1.2.2 Du lịch lễ hội
Các nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam như Giáo sư Trần Quốc Vượng, Giáo
sư Trần Ngọc Thêm, khi nhắc đến văn hóa Việt Nam đều nhắc đến làng quê Việt.
Đó là những xã hội thu nhỏ của người Việt, là nơi sinh trưởng, phát triển, lưu giữ và
trao truyền những nét văn hóa đặc trưng của dân tộc đến từng cá thể trong cộng
17
đồng và tới thế hệ tương lai. Trong các xã hội làng xã Việt Nam ấy, lễ hội luôn có
một vai trò vô cùng quan trọng. Bởi trong các lễ hội, lịch sử, nguồn gốc, khát vọng,
ước mơ – những nét tinh túy hồn Việt, của nền văn hóa lúa nước được phác họa một
cách chân thực nhất, cô đọng nhất. Việt Nam có rất nhiều lễ hội, quy mô các lễ hội
tùy thuộc vào từng vùng và của từng tính chất lễ hội.
Du khách khi tham gia lễ hội có thể hiểu về văn hóa con người của nơi tổ
chức lễ hội, hiểu về đời sống tinh thần phong phú của họ. Như vậy lễ hội là một
dạng tài nguyên du lịch nhân văn độc đáo. Và theo một cuộc điều tra được tiến hành
vào năm 2005 trên internet đã chỉ ra 88% khách du lịch bằng lòng đến thăm quan
một nơi nào đó do ở đó có lễ hội đang diễn ra. Vì vậy các lễ hội đóng vai trò quan
trọng trong việc củng cố vị thế của du lịch văn hóa trong ngành công nghiệp không
khói. [42, tr.44]
Dựa vào các lý luận về văn hóa, du lịch văn hóa và lễ hội, ta có thể khẳng
định du lịch lễ hội thuộc về du lịch văn hóa. Du lịch lễ hội được hiểu là hoạt động
thuộc vào địa hình. Ví dụ địa hình sinh sống của một cộng đồng là sông nước thì
phương tiện đi lại chủ yếu của họ là thuyền, bè, các sản phẩm của họ phần lớn cũng
liên quan nhiều đến địa hình sông nước.
Tương tự như vậy, đối với du lịch lễ hội, địa hình cũng có những ảnh hưởng
nhất định giúp định hình và phát triển các hoạt động của ngành du lịch này. Ta có
thể lấy lễ hội chùa Hương làm ví dụ cho sự ảnh hưởng của địa hình tới hoạt động du
lịch. Địa hình chùa Hương có rừng, có sông suối, có núi. Khi tham gia lễ hội du
khách sẽ được trải nghiệm đầy đủ các kiểu địa hình ở đây. Để vào được động
Hương Tích, khách sẽ phải lội suối, sau đó sẽ đi bộ leo núi, băng rừng để đến
Hương Tích nơi bà Chúa Ba tu hành đắc đạo. Như vậy đối với địa hình sông nước ở
đây, một trong những dịch vụ phát triển để đáp ứng nhu cầu đi lại của du khách
chính là dịch vụ chèo thuyền, đò đưa khách.
Ngoài yếu tố địa hình, các yếu tố như khí hậu, tài nguyên nước và hệ động
thực vật cũng có những ảnh hưởng nhất định đến du lịch lễ hội. Những yếu tố này
giống như những tiểu cảnh tô điểm thêm lễ hội, góp phần tạo nên nét hấp dẫn, đặc
sắc của lễ hội cũng như những dịch vụ của lễ hội. Vì vậy tài nguyên du lịch tự nhiên
chính là một trong những yếu tố bổ trợ cho du lịch lễ hội.
19
1.3.1.2 Tài nguyên du lịch văn hóa
Tài nguyên du lịch nhân văn được hiểu là những truyền thống văn hóa, các
yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc,
các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi
vật thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch.
Bản thân lễ hội với những nghi lễ đặc trưng ở phần lễ và các hoạt động văn
hóa trong phần hội cũng chính là một nguồn tài nguyên nhân văn quý giá, là món ăn
tinh thần đặc trưng của mỗi địa phương, mỗi dân tộc. Đây là hoạt động sinh hoạt
văn hóa cộng đồng, diễn ra trên một địa bàn dân cư trong thời gian, không gian nhất
định. Lễ hội chính là văn kiện lịch sử, văn hóa sống của một dân tộc.
Thực tế đã chứng minh, lễ hội nào càng có bề dày lịch sử, còn giữ được
những nét văn hóa nguyên sơ, lễ hội đó càng hấp dẫn du khách. Đối với những lễ
tai, bệnh dịch đối với sự phát triển du lịch:
Năm 2003 được coi là năm tồi tệ đối với ngành du lịch. Không những cuộc
chiến tranh chống Iraq do Mỹ khởi xướng đã khai ngòi mà thế giới còn phải hứng
chịu sự hoành hành của dịch bệnh SARS.
Theo thống kê của Tổ chức lao động quốc tế, đại dịch SARS đã cắt giảm
tám triệu việc làm ở Châu Á. Còn theo báo cáo của Tổ chức du lịch quốc tế, hành
khách đến Châu Á qua đường hàng không giảm 70%, trong đó Hong Kong giảm
60%, Singapore 40%, Bangkok 37% và Kuala Lumpur 36%.
Theo thống kê của Phòng Du Lịch Đài Loan vào tháng 7 năm 2003, lượng
khách du lịch đến Đài Loan chỉ còn 110.000 khách giảm một nửa so với cùng kỳ
năm 2002.
Ngành Du lịch Thái Lan năm 2003 cũng bị thiệt hại lớn khi lượng khách
quốc tế đến Thái Lan giảm mạnh, trong khoảng thời gian từ ngày mùng 1 đến 21
tháng 4 năm 2003, khách từ Trung Quốc giảm 58%, từ Singapore giảm 72%, từ
Nhật Bản giảm 36%, từ Hồng Kông giảm 58%. Lễ hội té nước Songkran nổi tiếng
của Thái Lan cũng bị ảnh hưởng vì dịch bệnh này khi nhiều thiết bị an ninh y tế
được dựng lên và hàng nghìn khách du lịch và người dân Thái về nước trong dịp
này bị yêu cầu kiểm tra.
21
Ở Việt Nam tháng 4 năm 2003, Bộ trưởng Bộ Y Tế, Trưởng Ban chỉ đạo
phòng chống Dịch cũng có công văn gửi Thành phố Quảng Ninh và Hải Phòng đề
nghị tăng cường phòng chống dịch bệnh và yêu cầu giảm đông vui ở các lễ hội
vùng ven biển phía Bắc để tránh sự lây lan của bệnh SARS.
Từ những ví dụ trên ta có thể thấy được tầm quan trọng, sự tác động của ổn
định chính trị, an toàn xã hội đối với ngành du lịch nói chung và du lịch lễ hội nói
riêng.
1.3.3 Kinh tế, giao thông vận tải, khoa học kỹ thuật
Đối với du lịch lễ hội thì điều kiện kinh tế cũng là một trong những nhân tố
quan trọng. Một quốc gia có nền kinh tế phát triển sẽ giúp cho ngành du lịch phát
triển trong đó có du lịch lễ hội.
dư, nhu cầu của con người sẽ không chỉ dừng lại ở vấn đề ăn, ở, mặc. Lúc này nhu
cầu nghỉ ngơi, thư giãn, giao lưu, tìm hiểu văn hóa sẽ xuất hiện. Từ đó du lịch lễ hội
sẽ được hưởng lợi từ nhu cầu này.
Đối với ngành du lịch nói chung và du lịch lễ hội nói riêng, khách hàng là
nhân tố quan trọng. Sự phát triển du lịch lễ hội một phần phụ thuộc vào khách tham
dự lễ hội. Khách chính là người chi trả cho các dịch vụ, hoạt động của lễ hội. Điều
kiện để du khách tham gia lễ hội bao gồm thời gian rảnh rỗi, nhu cầu đi du lịch, tìm
hiểu văn hóa và khả năng tài chính. Trong những nhân tố trên, khả năng tài chính
quyết định mức chi trả các dịch vụ của du khách khi tham gia lễ hội như dịch vụ cư
trú, ăn uống, … Khả năng tài chính càng lớn thì nhu cầu càng lớn, mức chi trả càng
cao. Như vậy điều kiện kinh tế phát triển là cơ sở để du lịch lễ hội khai thác kinh
doanh các nguồn khách khác nhau, đáp ứng được nhu cầu của du khách.
Ngoài ra, kinh tế còn tạo tiền đề cho việc mở rộng và quảng bá lễ hội ra khỏi
một vùng lãnh thổ, đất nước khiến nhiều người biết đến và tham gia lễ hội, giúp lễ
hội được tổ chức ngày một chuyên nghiệp hơn, quy củ hơn và “hoành tráng hơn”.
1.3.4 Trình độ dân trí, đặc điểm văn hóa
Trình độ dân trí, văn hoá cao tạo điều kiện cho việc phát triển du lịch lễ hội.
Nó ảnh hưởng đến hai nhóm người tham gia lễ hội: du khách và người phục vụ lễ
hội.
Đối với du khách, trình độ dân trí, văn hóa ảnh hưởng đến nhu cầu đi du lịch.
Ở đất nước có trình độ dân trí cao, nhu cầu tìm hiểu các giá trị bản sắc văn hóa, lịch
sử dân tộc trở thành một thói quen, sở thích. Để đáp ứng nhu cầu của mình, du lịch
là một trong những hình thức được nhiều người lựa chọn. Trong đó, tham gia các lễ
23
hội để tìm hiểu về văn hóa, thỏa mãn tính hiếu kỳ cũng là một trong những hình
thức lựa chọn. Ngoài ra, du khách có văn hóa cao luôn biết cách cư xử và có những
hành động phù hợp với văn hóa nơi diễn ra lễ hội. Họ sẽ không có thái độ coi
thường, miệt thị và hành động thiếu tôn trọng với nơi tổ chức lễ hội mà sẽ biết cách
dung hòa, tôn trọng nó. Thực tế đã chứng minh, du khách đến tham dự các lễ hội,
đặc biệt là các lễ hội truyền thống thường là những người có trình độ học vấn, văn
thu hút lượng lớn khách đến địa phương có lễ hội.
1.3.7 Nguồn lực bên ngoài
Nguồn lực bên ngoài mà ta nhắc đến ở đây chính là nguồn vốn, công nghệ và
năng lực tổ chức, quản lý, bảo tồn và phát huy lễ hội. Đối với du lịch lễ hội, nó góp
phần hình thành, thúc đẩy và phát triển du lịch lễ hội.
Du lịch lễ hội địa phương muốn phát triển vững mạnh, đáp ứng được nhu cầu
du khách thì cơ sở hạ tầng, kỹ thuật cần được đầu tư bài bản, đồng bộ. Để làm được
điều đó cần có nguồn vốn dồi dào, công nghệ tiên tiến và đội ngũ quản lý có năng
lực, kinh nghiệm. Không có nguồn vốn đầu tư thì không thể xây dựng cơ sở hạ tầng
phục vụ lễ hội, không có đội ngũ lãnh đạo có năng lực, kinh nghiệm thì việc hoạch
định, xây dựng sản phẩm, quản lý và vận hành hệ thống du lịch lễ hội sẽ không
hoàn hảo, dễ rơi vào tình trạng bị động, không thuận tiện cho du khách khi đến lễ
hội. Như vậy khả năng thỏa mãn nhu cầu khách hàng sẽ thấp, khiến du khách không
sẵn sàng chi trả cho các dịch vụ, hoặc có thể dẫn đến tình trạng dù khách hàng
muốn chi trả cũng không biết chi trả cho cái gì và ở đâu.
Do đó để du lịch lễ hội phát triển, những yếu tố về vốn đầu tư, kinh nghiệm
tổ chức, quản lý là những yếu tố không thể bỏ qua mà cần phải xem xét kỹ lưỡng,
cẩn trọng.
1.3.8 Tính thời vụ
Bên cạnh những yếu tố có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của du lịch lễ
hội thì tính thời vụ có thể coi là yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến du lịch lễ hội. “Tính
thời vụ trong du lịch là những biến động lặp đi lặp lại hàng năm của cung và cầu du
lịch xảy ra dưới tác động của một số nhân tố xác định.”[29, tr.121]
Đối với du lịch lễ hội, tính thời vụ được thể hiện rõ nét. Trong thời điểm diễn
ra lễ hội, các hoạt động của lễ hội diễn ra rất sôi nổi thu hút một lượng lớn du khách
25