Lồng ghép, tích hợp nội dung giáo dục BVMT vào bộ môn sinh hoc ở bậc THCS
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
I/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Môi trường là nơi con người sinh ra, lớn lên, tồn tại và phát triển. Môi
trường còn là nơi con người nghỉ ngơi, hưởng thụ vẻ đẹp của thiên nhiên ban
cho.
Môi trường gắn liền với con người, những yếu tố của môi trường có thể
ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khoẻ, sự phát triển của giống nòi
con người. Nhưng hiện nay môi trường ngày càng suy thoái và có những biến
động cực kì phức tạp như: hạn hán, lũ lụt, sạt lở đất, xâm thực của thuỷ triều,
sóng thần, động đất, Các thành phần của môi trường bị ô nhiễm nghiêm
trọng.
Nguyên nhân dẫn đến việc suy thoái môi trường là do sự thiếu hiểu
biết, thiếu ý thức của con người, giáo dục bảo vệ môi trường là một trong
những biện pháp hữu hiệu nhất, kinh tế nhất và có tính bền vững trong các
biện pháp để thực hiện mục tiêu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đất
nước.
Tuy nhiên qua giảng dạy nhiều năm thấy chương trình dạy học lồng
ghép, tích hợp giáo dục môi trường đã được Bộ, Sở và Phòng Giáo dục và
Đào tạo đưa vào khung phân phối chương trình từ năm 2008 -2009 đến nay
nhưng chưa ban hành nội dung giáo dục môi trường cụ thể cho từng bài.
Đồng thời qua tìm hiểu thăm dò ở đơn vị cũng như các trường trên địa
bàn huyện Ba Tơ, bản thân nhận thấy việc dạy học lồng ghép, tích hợp giáo
dục bảo vệ môi trường trong thời gian qua chưa được chú trọng, hiệu quả giáo
dục chưa cao.
Xuất phát từ nhu cầu và thực trạng việc dạy lồng ghép, tích hợp giáo
dục bảo vệ môi trường nêu trên, bản thân tôi nghiên cứu nội dung này nhằm
trang bị cho các em có những kiến thức về môi trường. Để từ đó các em có
thái độ, hành vi đúng đắn về môi trường như có ý thức bảo vệ môi trường, sử
Người thực hiện: Ngô Thanh Thảo Đơn vị: Trường THCS TT Ba Tơ
1
quy định về giáo dục bảo vệ môi trường và đào tạo nguồn nhân lực bảo vệ
môi trường “Công dân Việt Nam được giáo dục toàn diện về môi trường
nhằm nâng cao hiểu biết và có ý thức bảo vệ môi trường; giáo dục bảo vệ
môi trường là một nội dung của chương trình chính khóa của các cấp học
phổ thông”.
Dạy học tích hợp giáo dục môi trường ở một số môn học nói chung và
môn sinh học cấp trung học cơ sở nói riêng được Bộ Giáo dục và Đào tạo
hướng dẫn và qui định cụ thể trong khung phân phối chương trình bắt đầu
thực hiện từ năm học 2008-2009.
II/ CƠ SỞ THỰC TIỄN
Những hủy hoại suy thoái môi trường đang ngày càng đe dọa cuộc sống
của con người. Chính vì vậy, bảo vệ môi trường là một trong những mối quan
tâm của toàn cầu. Bảo vệ môi trường là một vấn đề sống còn của cả nhân loại
và của mỗi quốc gia.
Người thực hiện: Ngô Thanh Thảo Đơn vị: Trường THCS TT Ba Tơ
3
Lồng ghép, tích hợp nội dung giáo dục BVMT vào bộ môn sinh hoc ở bậc THCS
Ở Việt Nam bảo vệ môi trường nói chung và giáo dục về bảo vệ môi
trường nói riêng đã được Đảng, Nhà nước quan tâm từ nhiều năm nay. Cụ thể
Đảng và Nhà nước chủ trương coi phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ môi
trường và phát triển xã hôi, đảm bảo phát triển bền vững quốc gia.
Thông qua giáo dục, từng người và cộng đồng sẽ được trang bị kiến
thức về môi trường, ý thức bảo vệ môi trường, năng lực phát hiện và xử lí các
vấn đề về môi trường.
Mục tiêu giáo dục môi trường trong chương trình sinh học cấp THCS là
trang bị cho học sinh một hệ thống kiến thức tương đối đầy đủ về môi trường
và kỹ năng bảo vệ môi trường. Các em phải ý thức được rằng giữ gìn, bảo vệ
môi trường xuất phát từ các hoạt động bình thường ngay trong lớp học, giờ
chơi, lúc nghỉ ngơi, sinh hoạt gia đình, nơi công cộng.
III/ THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ
như gây xói mòn, rửa trôi, lũ lụt.
Phải hàng ngàn năm mới có thể hình thành vài centimet(cm) lớp đất
mặt, nhưng chỉ cần một vài năm mưa là có thể rửa trôi lớp đất này. Mỗi năm
thế giới mất đi 25 tỉ tấn đất mặt. Khoảng 2 tỉ ha đất canh tác và đồng cỏ trên
toàn thế giới đã bị suy thoái từ trung bình đến nghiêm trọng.
2. Tình hình môi trường ở Việt Nam:
Không thể tách khỏi tình trạng chung của toàn cầu, các thành phần môi
trường Việt Nam nhìn chung đã bị ô nhiễm hoặc suy thoái, có nơi hết sức
nghiêm trọng.
Việt Nam có diện tích tự nhiên 33.169.000 ha. Đất đồng bằng gồm 7
triệu ha, trong đó 3,8 triệu ha "đất có vấn đề". Đất dốc khoảng 25 triệu ha,
trong đó hơn 13 triệu ha đất thoái hóa nghiêm trọng. Như vậy diện tích đất có
vấn đề về độ phì và sức sản xuất kém chiếm trên 50 % diện tích tự nhiên cả
nước.
Việt Nam là quốc gia giàu tài nguyên nước trong khu vực, nhưng so
sánh chung toàn thế giới chưa phải quốc gia giàu tài nguyên nước.
Nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp xả trực tiếp vào hệ thống
sông đã làm cho các con sông này ô nhiễm cục bộ nghiêm trọng (như vụ Vê
đan làm ô nhiễm sông Thị Vải ).
Do nhiều nguyên nhân khác nhau, rừng bị tàn phá mạnh trong thời gian
qua. Rừng tự nhiên mất trung bình mỗi năm từ 120.000 ha đến 150.000 ha,
rừng trồng mỗi năm khoảng 200.000 ha.
Đa dạng sinh học bị suy giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau. Hiện
nay , 365 loài động vật và 356 loài thực vật quý hiếm có nguy cơ bị diệt
chủng ở mức độ khác nhau.
Người thực hiện: Ngô Thanh Thảo Đơn vị: Trường THCS TT Ba Tơ
5
Lồng ghép, tích hợp nội dung giáo dục BVMT vào bộ môn sinh hoc ở bậc THCS
3. Tình hình môi trường ở địa phương
36 30 Thụ phấn (liên hệ bảo vệ môi trường)
39 32 Các loại quả (liên hệ bảo vệ môi trường)
40 33 Hạt và các bộ phận của hạt (liên hệ bảo vệ môi trường)
41 34 Phát tán của quả và hạt (liên hệ bảo vệ môi trường)
42 35 Những điều kiện cần cho hạt nảy mầm (liên hệ BVMT)
46 38 Rêu - cây rêu (liên hệ bảo vệ môi trường)
47 39 Quyết - cây dương xỉ (liên hệ bảo vệ môi trường)
50 40 Hạt trần - Cây thông (liên hệ bảo vệ môi trường)
51 41
Hạt kín - đặc điểm chung của thực vật hạt kín (liên hệ bảo
vệ môi trường)
52 42 Lớp 2 lá mầm và lớp một lá mầm (liên hệ BVMT)
53 43 Khái niệm sơ lược về phân loại thực vật (liên hệ BVMT)
55 46
Thực vật góp phần điều hòa khí hậu (Lồng ghép giáo dục
môi trường 1 phần)
56 47
Thực vật bảo vệ đất và nguồn nước (Lồng ghép giáo dục
môi trường)
57 48
Vai trò của thực vật đối với động vật (Lồng ghép, liên hệ
bảo vệ môi trường)
58 48
Vai trò của thực vật đối với đời sống con người (Lồng ghép,
liên hệ bảo vệ môi trường)
Người thực hiện: Ngô Thanh Thảo Đơn vị: Trường THCS TT Ba Tơ
7
Lồng ghép, tích hợp nội dung giáo dục BVMT vào bộ môn sinh hoc ở bậc THCS
67,68,69 53 Tham quan thiên nhiên (Lồng ghép giáo dục môi trường)
2/ Môn sinh học 7
60 57 Đa dạng sinh học (Tích hợp bảo vệ môi trường)
61 58 Đa dạng sinh học (Tích hợp bảo vệ môi trường)
62 59 Biện pháp đấu tranh sinh học (Tích hợp BVMT)
63 60 Động vật quý hiếm (Tích hợp BVMT)
66,67
64,65,6
6
Tham quan thiên nhiên (Tích hợp BVMT)
.3/ Môn sinh học 8
Tiết Bài Tên bài
23 22 Vệ sinh hệ hô hấp (lồng ghép giáo dục môi trường 1 phần)
Người thực hiện: Ngô Thanh Thảo Đơn vị: Trường THCS TT Ba Tơ
8
Lồng ghép, tích hợp nội dung giáo dục BVMT vào bộ môn sinh hoc ở bậc THCS
29 29-30
Hấp thụ chất dinh dưỡng và thải phân. Vệ sinh hệ tiêu hóa (liên hệ
bảo vệ môi trường)
32 31 Trao đổi chất (liên hệ bảo vệ môi trường)
34 33 Thân nhiệt (lồng ghép giáo dục môi trường 1 phần)
38 36 Tiêu chuẩn ăn uống, nguyên tắc lập khẩu phần (liên hệ BVMT)
42 40 Vệ sinh hệ bài tiết nước tiểu (lồng ghép giáo dục MT 1 phần)
44 42 Vệ sinh da (lồng ghép giáo dục môi trường 1 phần)
52 50 Vệ sinh mắt (liên hệ bảo vệ môi trường)
53 51 Cơ quan phân tích thính giác (liên hệ bảo vệ môi trường)
65 63
Cơ sở khoa học của các biện pháp tránh thai (liên hệ bảo vệ môi
trường)
4/ Môn sinh học 9
Tiết Bài Tên bài
29 25 Thường biến( liên hệ về BVMT)
9
Lồng ghép, tích hợp nội dung giáo dục BVMT vào bộ môn sinh hoc ở bậc THCS
58 55 Ô nhiễm môi trường( lồng ghép GDMT toàn phần)
59 56
Thực hành: Tìm hiểu tình hình môi trường ở địa phương
( lồng ghép GDMT toàn phần)
60 57
Thực hành: Tìm hiểu tình hình môi trường ở địa phương ( lồng
ghép GDMT toàn phần)
61 58
Sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên ( lồng ghép GDMT toàn
phần)
62 59
Khôi phục môi trường, giữ gìn tài nguyên hoang dã( lồng ghép
GDMT toàn phần)
63
60 Bảo vệ đa dạng các hệ sinh thái( lồng ghép GDMT toàn phần)
Luật bảo vệ môi trường( lồng ghép GDMT toàn phần)
61
65 62
Thực hành: Vận dụng Luật bảo vệ môi trường vào việc bảo vệ
môi trường ở địa phương( lồng ghép GDMT toàn phần)
66 64 Tổng kết chương trình toàn cấp( lồng ghép GDMT toàn phần)
67 65 Tổng kết chương trình toàn cấp( lồng ghép GDMT toàn phần)
68 66 Tổng kết chương trình toàn cấp( lồng ghép GDMT toàn phần)
69 63 Ôn tập( lồng ghép GDMT toàn phần)
II/ NỘI DUNG KIẾN THỨC DẠY LỒNG GHÉP, TÍCH HỢP GIÁO
DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀO TỪNG BÀI
1/ Môn sinh học 6:
* Khi dạy bài 2: NHIỆM VỤ CỦA SINH HỌC
Ở mục 2: Khái niệm về quang hợp. Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm
hiểu sản phẩm của quá trình quang hợp, để học sinh thấy được vai trò của
thực vật trong tự nhiên và đời sống con người. Từ đó giáo dục học sinh ý thức
bảo vệ thực vật và ý thức bảo vệ môi trường.
* Khi dạy bài 22: ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC ĐIỀU KIỆN BÊN
NGOÀI TỚI QUÁ TRÌNH QUANG HỢP, Ý NGHĨA CỦA QUANG
HỢP.
Ở mục 2: Quang hợp của cây xanh có ý nghĩa gì? Giáo viên hướng dẫn
học sinh tìm hiểu vai trò của quang hợp: góp phần điều hòa khí hậu, làm trong
lành không khí như cân bằng hàm lượng khí cacbonic và ôxi, tạo độ ẩm cho
môi trường, là một mắc xích trong chu trình nước, có ý nghĩa quan trọng đối
với con người và tự nhiên. Từ đó giáo dục cho học sinh ý thức bảo vệ thực vật
và phát triển cây xanh ở khu dân cư, trường học, địa phương, và trồng cây tạo
bóng mát ở trường, lớp, khu dân cư cũng như trồng cây gây rừng, tuyên
Người thực hiện: Ngô Thanh Thảo Đơn vị: Trường THCS TT Ba Tơ
11
Lồng ghép, tích hợp nội dung giáo dục BVMT vào bộ môn sinh hoc ở bậc THCS
truyền cho mọi người trong gia đình không nên phá rừng, đốt rừng làm nương
rẫy.
* Khi dạy bài 26: SINH SẢN SINH DƯỠNG TỰ NHIÊN
Ở mục 2: Sinh sản sinh dưỡng của cây. Giáo viên phân tích cho học
sinh thấy được hình thức sinh sản sinh dưỡng là phương pháp bảo tồn các
nguồn gen quý hiếm, các nguồn gen này sẽ có thể bị mất đi trong sinh sản hữu
tính. Từ đó giáo dục ý thức học sinh tránh tác động vào giai đoạn sinh sản của
thực vật.
* Khi dạy bài 29: CÁC LOẠI HOA
Giáo viên phân tích cho học sinh thấy được hoa có ý nghĩa quan trọng
đối với tự nhiên, con người và môi trường. Từ đó giáo dục ý thức bảo vệ cảnh
quan môi trường , đặc biệt những cảnh đẹp ở nơi công cộng, không hái hoa,
phá hoại môi trường ở trường học, nơi công cộng, đồng thời giáo dục học sinh
tạo ra sự đa dạng và tiến hóa của thực vật. Tuy nhhiên nhiều loài thực vật hiện
nay đang bị khai thác qua mức và có nguy cơ tuyệt chủng. Từ đó giáo dục ý
thức bảo vệ sự đa dạng thực vật cho học sinh.
* Khi dạy bài 46:THỰC VẬT GÓP PHẦN ĐIỀU HÒA KHÍ HẬU
Giáo viên chỉ cho học sinh thấy được thực vật góp phần điều hòa khí
hậu và làm giảm ô nhiễm môi trường. Từ đó giáo dục ý thức bảo vệ thực vật,
trồng cây xanh ở trường lớp, ở vườn nhà và khu dân cư, phủ xanh đất trồng,
đồi trọc, tham gia tích cực vào việc sản xuất nông nghệp để tăng số lượng cây
trồng, sản phẩm nông nghiệp, góp phần làm giảm nhiệt độ, tăng độ ẩm không
khí, giữ ổn định hàm lượng khí cacbonic và ôxi trong không khí.
* Khi dạy bài 47: THỰC VẬT BẢO VỆ ĐẤT VÀ NGUỒN NƯỚC
Giáo viên giúp học sinh thấy được thực vật giúp giữ đất, chống xói
mòn, hạn chế ngập lụt, hạn hán, giữ và điều hòa nước. Từ đó giáo dục ý thức
bảo vệ thực vật, bảo vệ rừng, trồng cây gây rừng, phủ xanh đất trồng, đồi trọc.
* Khi dạy bài 48: VAI TRÒ CỦA THỰC VẬT ĐỐI VỚI ĐỘNG
VẬT VÀ ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI
Người thực hiện: Ngô Thanh Thảo Đơn vị: Trường THCS TT Ba Tơ
13
Lồng ghép, tích hợp nội dung giáo dục BVMT vào bộ môn sinh hoc ở bậc THCS
Giúp học sinh nhận thức được vai trò của thực vật đối với động vật và
đời sống con người. Từ đó giáo dục ý thức bảo vệ cây trồng, tham gia tích cực
vào sản xuất nông nghiệp để tăng số lượng cây trồng, sản phẩm nông nghiệp.
* Khi dạy bài 49: BẢO VỆ SỰ ĐA DẠNG CỦA THỰC VẬT
Giáo viên giới thiệu cho học sinh sự đa dạng của thực vật ở Việt Nam.
Tuy nhiên hiện nay có một số loài đang bị giảm sút do khai thác và môi
trường sống bị tàn phá, nhiều loài trở nên hiếm. Từ đó giáo dục ý thức bảo vệ
đa dạng thực vật nói chung và thực vật quý hiếm nói riêng.
* Khi dạy bài 53: THAM QUAN THIÊN NHIÊN
Ở bài này giáo viên cần mở rộng về tính đa dạng và thích nghi của thực
vật trong những điều kiện cụ thể của môi trường. Qua quan sát thực vật trong
Ở mục I: Một số giun dẹp khác. Giáo viên giáo dục cho học sinh cần ăn
chín, uống sôi, không ăn rau sống chưa rửa sạch để hạn chế con đường lây lan
của giun sán kí sinh qua gia súc và thức ăn của con người. Cần giữ vệ sinh
thân thể và môi trường sống.
* khi dạy bài 13: GIUN ĐŨA
Ở mục 2: Vòng đời của giun đũa. Sau khi dạy giun đũa khí sinh trong
ruột người và trứng giun đi vào cơ thể người qua con đường ăn uống, từ đó
giáo dục ý thức vệ sinh môi trường, vệ sinh cá nhân khi ăn uống để tránh các
bệnh về giun sán kí sinh.
* Khi dạy bài 14: MỘT SỐ GIUN TRÒN KHÁC.
Ở mục I: Một số giun tròn khác. Giáo viên giới thiệu một số giun tròn
quan tranh ảnh và khẳng định hầu hết giun tròn sống kí sinh và gây nhiều tác
hại ở người, động vật từ đó hình thành ý thức cho học sinh ý thức giữ gìn vệ
sinh môi trường và vệ sinh cá nhân.
* Khi dạy bài 15: GIUN ĐẤT
Ở mục “em có biết”. Từ nội dung mục này, giáo viên giáo dục học sinh
ý thức bảo vệ động vật có ích, đặc biệt là giun đất đã làm tăng độ phì nhiêu và
tơi xốp cho đất thông qua hoạt động sống của chúng, học sinh sẽ rút ra được ý
thức phải bảo vệ phòng chống ô nhiễm môi trường đất, tăng cường độ che
phủ môi trường đất bằng thực vật để giữ ẩm và tạo mùn cho giun đất làm thức
ăn.
Người thực hiện: Ngô Thanh Thảo Đơn vị: Trường THCS TT Ba Tơ
15
Lồng ghép, tích hợp nội dung giáo dục BVMT vào bộ môn sinh hoc ở bậc THCS
* Khi dạy bài 21: ĐẶC ĐIỂM CHUNG VÀ VAI TRÒ CỦA
NGÀNH THÂN MỀM.
Ở mục II: Vai trò của thân mềm. Sau khi học sinh tìm hiểu tên đại diện
của thân mềm, giáo viên giáo dục thân mềm có vai trò quan trọng đối với tự
nhiên (phân hủy thức ăn, là mắt xích trong chuỗi thức ăn), và đời sống con
người (làm thực phẩm, làm sạch môi trường nước) nên cần sử dụng hợp lí
Ở mục III: Vai trò của cá. Giáo viên cho học sinh kể các cách bắt cá ở
địa phương Ba Tơ (Dùng lưới, dùng câu, dùng nôm, dùng điện, dùng thuốc
nổ…) thông qua các cách bắt cá trên giáo viên phân tích giáo dục cho học
sinh cách bắt cá nào có lợi cho môi trường và mang lại hiệu quả lâu dài,
không gây hại cho môi trường nước, làm hại cho nguồn lợi thủy sản nói
chung (dùng lưới, dùng câu). Từ đó giáo dục cho học sinh ý thức bảo vệ
nguồn lợi thủy sản thông qua bảo vệ môi trường nước không bị ô nhiễm.
Khuyến cáo cho học sinh không được dùng điện, chất nổ, chất hóa học để
đánh bắt cá.
* Khi dạy bài 37: ĐA DẠNG VÀ ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA LỚP
LƯỠNG CƯ.
Ở mục IV: Vai trò của lớp lưỡng cư. Giáo dục cho học sinh, lưỡng cư
là loài có ích cho nông nghiệp, là nguồn thực phẩm có giá trị, là vật thí
nghiệm trong sinh lí học, nhưng hiện nay một số lượng lớn lưỡng cư đã bị suy
giảm do con người săn bắt, môi trường bị nhiễm bẩn do thuốc trừ sâu, thuốc
diệt cỏ, … Vì vậy việc bảo vệ môi trường, cấm săn bắt lưỡng cư bừa bãi là
việc làm cần thiết góp phần bảo tồn sự phát triển của lưỡng cư. Từ đó giáo
dục cho học sinh ý thức bảo vệ động vật có ích.
* Khi dạy bài 40: SỰ ĐA DẠNG VÀ ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA
LỚP BÒ SÁT.
Ở mục IV: Vai trò của lớp giáp xác. Giáo dục cho học sinh ý thức bảo
vệ các loài bò sát, vì đa số bò sát là có ích cho nông nghiệp, có giá trị thực
phẩm, dược phẩm, sản phẩm mỹ nghệ, … Vì vậy cần được bảo vệ, gây nuôi
những loài bò sát quý.
* Khi dạy bài 44: ĐA DẠNG VÀ ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA LỚP
CHIM.
Người thực hiện: Ngô Thanh Thảo Đơn vị: Trường THCS TT Ba Tơ
17
Lồng ghép, tích hợp nội dung giáo dục BVMT vào bộ môn sinh hoc ở bậc THCS
Ở mục III: Vai trò của lớp chim. Từ nguồn lợi do chim mang lại như
18
Lồng ghép, tích hợp nội dung giáo dục BVMT vào bộ môn sinh hoc ở bậc THCS
bắt buôn bán động vật hoang dã, thuần hóa, lai tạo để tăng độ đa dạng sinh
học.
* Khi dạy bài 59: BIỆN PHÁP ĐẤU TRANH SINH HỌC
Ở mục II: Biện pháp đấu tranh sinh học. Giáo viên hướng dẫn học sinh
tìm hiểu các biện pháp đấu tranh sinh học từ đó giúp học sinh thấy được biện
pháp đấu tranh sinh học có vai trò tiêu diệt các sinh vật gây hại nhưng tránh ô
nhiễm môi trường, không ảnh hưởng đến sinh vật có ích và sức khỏe con
người.
* Khi dạy bai 60: ĐỘNG VẬT QUÝ HIẾM
Yêu cầu học sinh tìm hiểu các cấp độ đe dọa tuyệt chủng một số loài
động vật quý hiếm ở Việt Nam có xu hướng ngày càng giảm sút, từ đó đề ra
các biện pháp bảo vệ môi trường sống, cấm săn bắt buôn bán bắt giữ động vật
trái phép, xây dựng các khu dự trữ thiên nhiên, tổ chức chăn nuôi những loài
có giá trị kinh tế.
* Khi dạy bài 64,65,66: THAM QUAN THIÊN NHIÊN
Giáo viên cần giáo dục cho học sinh lòng yêu thiên nhiên, có ý thức
bảo vệ thế giới động vật, đặc biệt là động vật có ích.
3/ Môn sinh học 8:
* Khi dạy bài 22: VỆ SINH HÔ HẤP
Ở mục I. Giáo viên phân tích cho học sinh thấy được thế nào là không
khí bị ô nhiễm và các tác nhân gây hại đến hệ hô hấp, từ đó yêu cầu học sinh
đề ra các biện pháp bảo vệ hệ hô hấp tránh các tác nhân có hại. Giáo viên tóm
lại và giáo dục ý thức bảo vệ môi trường chung, môi trường làm việc và học
tập. Cụ thể như giáo dục học sinh ý thức bảo vệ môi trường xanh, sạch, đẹp
của trường, lớp, khu dân cư và thông qua đó giáo dục học sinh có ý thức bảo
vệ cây xanh, trồng cây gây rừng, giảm thiểu chất độc vào không khí.
* Khi dạy bài 30: VỆ SINH TIÊU HÓA
Người thực hiện: Ngô Thanh Thảo Đơn vị: Trường THCS TT Ba Tơ
giới thiệu các nguyên nhân gây bệnh về mắt và cho học sinh tìm hiểu các biện
pháp để phòng tránh, từ đó giáo dục ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường, đặc
Người thực hiện: Ngô Thanh Thảo Đơn vị: Trường THCS TT Ba Tơ
20
Lồng ghép, tích hợp nội dung giáo dục BVMT vào bộ môn sinh hoc ở bậc THCS
biệt là giữ gìn vệ sinh nguồn nước, không khí và ý thức bảo vệ mắt khi đi
trong môi trường có nhiều bụi,
* Khi dạy bài 51: CƠ QUAN PHÂN TÍCH THÍNH GIÁC
Ở mục III: Vệ sinh tai. Giáo viên cho học sinh tìm hiểu các nguyên
nhân gây ảnh hưởng đến tai, từ đó giáo dục học sinh ý thức phòng tránh ô
nhiễm tiếng ồn, giữ cho môi trường yên tĩnh.
* Khi dạy bài 63: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CÁC BIỆN PHÁP
TRÁNH THAI.
Giáo viên phân tích cho học sinh thấy được ảnh hưởng của sự gia tăng
dân số và trình độ dân trí đối với việc khai thác, sử dụng tài nguyên động thực
vật và khả năng đáp ứng của chúng đối với con người, từ đó giáo dục học sinh
ý thức bảo vệ, khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên hợp lí.
4/Môn sinh học 9
* Khi dạy bài 25: THƯỜNG BIẾN
Giáo viên phân tích cho học sinh thấy được: Trong thực tiễn, người ta
thường gặp hiện tượng một kiểu gen có nhiều kiểu hình khác nhau khi sống ở
các điều kiện môi trường khác nhau. Sinh vật sống ở môi trường càng thuận
lợi thì sẽ biểu hiện hết giới hạn thường biến của một kiểu gen. Từ đó giáo dục
cho học sinh ý thức trong chăn nuôi, trồng trọt như các em phải tăng cường
khâu chăm sóc, bảo vệ vật nuôi, cây trồng, tránh những tác nhân gây hại của
môi trường đến cơ thể vật nuôi, cây trồng như thời tiết xấu, nguồn nước ô
nhiễm, vi sinh vật gây bệnh…Vì vậy phải vệ sinh chuồng trại, vệ sinh đồng
ruộng, bón phân hợp lí…
* Khi dạy bài 26: THỰC HÀNH: NHẬN DẠNG MỘT VÀI DẠNG
ĐỘT BIẾN:
Thông qua di truyền y học tư vấn giáo viên giáo dục cho học ý thức,
sau này trước khi kết hôn, các em có thể đến những trung tâm tư vấn về lĩnh
vực này để nhận được những lời khuyên. Dựa trên cơ sở những lời khuyên ấy,
các em có quyền quyết định có nên kết hôn hoặc không nên kết hôn với đối
tượng mà mình lựa chọn. Nếu đã kết hôn, các em có quyền quyết định có nên
hoặc không nên sinh con vì những bệnh mang gen lặn có khả năng xuất hiện.
Người thực hiện: Ngô Thanh Thảo Đơn vị: Trường THCS TT Ba Tơ
22
Lồng ghép, tích hợp nội dung giáo dục BVMT vào bộ môn sinh hoc ở bậc THCS
Một gia đình hạnh phúc chỉ khi được nuôi nấng, dạy dỗ, chăm sóc những đứa
con mạnh khoẻ, phát triển tốt về trí tuệ. Ngược lại, gia đình có những người
con không may bị dị tật bẩm sinh, thiểu năng về trí tuệ thì đó là điều bất hạnh
về bản thân, đau khổ cho gia đình và tăng thêm gánh nặng cho xã hội.
Để đảm bảo cho xã hội phồn vinh, gia đình hạnh phúc, mỗi cặp vợ
chồng chỉ có từ 1 – 2 con.
Các hoá độc hại đi vào cơ thể người qua không khí, nước uống, thực
phẩm…Các hóa chất, thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu đã làm tăng tần số đột biến
nhiễm sắc thể ở người sử dụng. Vì vậy cần phải xử lí tận gốc các chất thải do
hoạt động công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp hoá chất, việc sử dụng thuốc
bảo vệ thực vật phải đúng quy trình kĩ thuật, xử lí các loại chất thải trong sinh
hoạt để hạn chế ô nhiễm môi trường.
* Khi dạy bài 32: CÔNG NGHỆ GEN
Giáo viên liên hệ một số thành tựu ứng dụng Công nghệ gen trên thế
giới và ở Việt Nam cho học sinh như đã chuyển được gen kháng rầy nâu,
kháng sâu, kháng bệnh bạc lá, kháng một số loại nấm, gen tổng hợp vitamin
A, gen kháng virus, gen chín sớm…vào một số cây trồng như lúa, ngô, khoai
tây, cà chua, bắp cải, thuốc lá, đu đủ… Bên cạnh đó đã chuyển được gen tổng
hợp hoocmôn sinh trưởng ở người vào cá trạch làm cho cá có trọng lượng cao
hơn bình thường.
Chúng ta đang và sẽ sử dụng những loại lương thực-thực phẩm là sản
SỐNG SINH VẬT
Giáo viên giúp học sinh hiểu được, ánh sáng mặt trời là nguồn năng
lượng cơ bản cho mọi hoạt động sống của sinh vật. Cây xanh sử dụng năng
lượng ánh sáng mặt trời khi quang hợp để tổng hợp chất hữu cơ. Con người
và động vật sử dụng gián tiếp năng lượng ánh sáng mặt trời do cây tổng hợp.
Bên cạnh đó giúp học sinh thấy được có những cây ưu sáng và cũng có
những cây ưu bóng như ở rừng nhiệt đới, những cây thân gỗ vươn cao để tận
hưởng nguồn ánh sáng mạnh cung cấp cho quá trình quang hợp, những loài
Người thực hiện: Ngô Thanh Thảo Đơn vị: Trường THCS TT Ba Tơ
24
Lồng ghép, tích hợp nội dung giáo dục BVMT vào bộ môn sinh hoc ở bậc THCS
thực vật sống dưới tán những cây lớn nhận cường độ chiếu sáng yếu hơn. Do
nhu cầu gỗ để làm nhà và vật dụng trong gia đình mà việc khai thác, chặt hạ
những cây gỗ lớn, làm cho các loài thực vật ưa bóng sẽ bị rối loạn quá trình
sinh lí, kém sức sống. Từ đó giáo dục cho các ý thức bảo vệ rừng, không được
chặt phá cây bừa bãi, biết lợi dụng bóng râm của một số cây gỗ to để trồng
những cây ưa bóng như trầu không, hồ tiêu, phong lan…
*Khi dạy bài 43: ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỆT ĐỘ VÀ ĐỘ ẨM
LÊN ĐỜI SỐNG SINH VẬT
Ở mục ảnh hưởng của nhiệt độ lên đời sống sinh vật. Giáo viên phân
tích cho học sinh thấy được ảnh hưởng của nhiệt độ đến các loài sinh vật như
động vật biến nhiệt như ếch, nhái, các loài bò sát phụ thuộc trực tiếp vào nhiệt
độ môi trường. Nhiệt độ môi trường tăng hay giảm thì nhiệt độ cơ thể chúng
cũng tăng hay giảm theo. Động vật đẳng nhiệt có cơ thể không phụ thuộc vào
môi trường như chim, thú có thể phát tán và sinh sống ở khắp nơi.
Nhiệt độ môi trường tăng làm tăng tốc độ quá trình sinh lý trong cơ thể
sinh vật. Ở động vật biến nhiệt, nhiệt độ môi trường càng cao thì chu kì sống
của chúng càng ngắn. Chẳng hạn như ruồi giấm sống được 10 ngày ở 25
0
C,