CHƯƠNG I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ lâu rừng đã gắn liền với đời sống con người và nó có vai trò
quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Ngoài ra rừng
còn có vai trò quan trọng trong việc giữ gìn môi trường và cân bằng sinh
thái, tạo cảnh quan, điều tiết nguồn nước, hạn chế lũ lụt, hạn hán phục vụ
cho đời sống xã hội…
Đứng trước thực trạng hiện nay, rừng tự nhiên đang bị suy thoái
nghiêm trọng, diện tích cây rừng vốn rất quý đang bị thu hẹp và mất dần đi
tính năng tác dụng của rừng. Năm 1943 độ che phủ là 43%, đến năm 1990
độ che phủ là 21,3%. Tài nguyên rừng bị suy thoái do nhiều nguyên nhân:
Chiến tranh, khôi phục kinh tế sau chiến tranh, đốt rừng làm nương rẫy,
khai thác lâm sản trái phép, công tác tổ chức quản lý khai thác rừng chưa
hợp lý….
Tài nguyên rừng bị huỷ hoại đồng nghĩa với việc cuộc sống con người
bị đe doạ. Hậu quả của việc khai thác rừng không hợp lý gây ra lũ lụt, hạn
hán, xói mòn đất làm cho đời sống, sản xuất của con người bị đe doạ nghiêm
trọng. Hiện tượng thủng tầng Ozon là mối hiểm họa đối với sức khoẻ của
con người và toàn bộ sinh vật sống trên trái đất. Trước tình hình đó phải có
những biện pháp để ngăn chặn bền vững, chúng ta phải đẩy mạnh tốc độ
trồng rừng đạt hiệu quả cao. Trong đó công tác quản lý bảo vệ rừng là nhiệm
vụ hết sức quan trọng.
Trong những năm qua, Nhà nước ta đã có những chủ trương nhằm
từng bước thực hiện việc Xã hội hoá nghề rừng với chủ trương “giao đất,
giao rừng” (Nghị định 02/NĐ-CP; Nghị định 163/NĐ-CP về việc giao đất,
cho thuê đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, sử dụng ổn định và lâu dài
vào mục đích Lâm nghiệp). Để thực hiện kế hoạch trồng rừng, khoanh nuôi
xúc tiến tái sinh rừng theo các chương trình 4301, chương trình 327, chương
trình trồng mới 5 triệu ha rừng (dự án 661), các dự án có sự đầu tư của các tổ
chức Quốc tế như JBIC, WB 3, KFW 6, đã từng bước làm cho độ che phủ
tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tìm
hiểu hiện trạng tài nguyên rừng và đề xuất giải pháp quản lý rừng bền vững
tại địa bàn xã Quế Long, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam”.
2CHƯƠNG II. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Khái quát chung về lâm nghiệp Việt Nam hiện nay.
Như chúng ta đã biết, rừng không những cung cấp những sản phẩm
lâm sản cần thiết cho con người mà còn có vai trò quan trọng trong bảo vệ
môi trường như phòng hộ đầu nguồn, giữ đất, giữ nước, điều hoà khí hậu…,
góp phần bảo vệ An ninh Quốc gia, đặc biệt đối với việc bảo vệ biên giới hải
đảo. Tuy nhiên phải nhìn nhận một thực tế là rừng Việt Nam đã và đang suy
giảm mạnh trong vài thập niên gần đây. Trong những năm qua Đảng và Nhà
nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm hạn chế tình hình
chặt phá rừng, đốt rừng làm nương rẫy, thu hút mọi tầng lớp nhân dân vào
công tác gây trồng, quản lý, bảo vệ và phát triển vốn rừng. Nhiều biện pháp
mạnh đã được áp dụng trong thời gian gần đây, đặc biệt là các chương trình
4304, 327 và dự án 661…cụ thể: giao đất giao rừng tới hộ gia đình, đầu tư
ngân sách và tín dụng ưu đãi.
Theo số liệu thống kê cho thấy trong vòng hơn 20 năm trở lại đây,
trên thế giới đã có hơn 200 triệu ha rừng tự nhiên bị tàn phá. Những diện
tích rừng còn lại phần lớn cũng bị huỷ hoại và thoái hoá nghiêm trọng về trữ
lượng, sản lượng, đa dạng sinh học và những chức năng sinh thái khác. Một
số nguồn gen quý hiếm của tài nguyên rừng bị biến mất trên Thế giới.
Tuy có nhiều biện pháp quản lý, bảo vệ rừng được đề ra và triển khai
thực hiện, nhưng cho đến nay tình trạng mất và suy thoái rừng, nhất là rừng
nhiệt đới hàng năm vẫn còn cao. Theo FAO, trong giai đoạn những năm
1980-1990, mỗi năm trên toàn Thế giới mất khoảng 15,5 triệu ha rừng tự
nghề rừng. Chính Phủ đã ban hành nhiều văn bản, chính sách để bảo vệ và
phát triển rừng như: Chiến lược bảo tồn Quốc gia (năm 1984); quy chế quản
lý 3 loại rừng: rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất (Quyết định
của Bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp và Quyết định 08 năm 2001 của Thủ tướng
Chính Phủ); thành lập hệ thống các khu rừng đặc dụng , vườn quốc gia, khu
bảo tồn thiên nhiên, bảo tồn văn hoá lịch sử (năm 1986); luật bảo vệ và phát
triển rừng (năm 1991 và 2004); kế hoạch quốc gia về môi trường và phát
triển bền vững (năm 1991); chương trình 327 (1992), 661 (1998 và 1999);
các hội thảo cấp quốc gia về quản lý rừng bền vững đã được tổ chức tại Hà
Nội, Huế và Thành Phố Hồ Chí Minh trong những năm qua.
Tất cả những nổ lực, những nghiên cứu đó là cơ sở và tiền đề cho việc
nghiên cứu triển khai các biện pháp quản lý, bảo vệ và sử dụng rừng hợp lý.
42.2. Cơ sở lý luận.
Rừng là cái nôi hình thành sự sống và gắn liền với lịch sử phát triển
loài người. Từ bao đời nay con người đã sống và phát triển cùng với rừng.
Như vậy, rừng không chỉ là nguồn cung cấp vật chất sống cho con người mà
còn là môi sinh, môi trường để con người có đủ điều kiện tồn tại và phát
triển. Con người đã tàn phá rừng vô ý thức và như vậy không chỉ làm cạn
kiệt nguồn vật chất nuôi sống con người mà còn huỷ hoại môi trường sống
nghiêm trọng.
Vậy chúng ta có thể khẳng định rằng: Lâm nghiệp là ngành bảo vệ
cho các ngành khác, bảo vệ môi trường, đảm bảo cho các ngành khác hoạt
động. Vì vậy đa phần các quốc gia trên Thế giới đã và đang đặt ra vấn đề
bảo vệ rừng như là một sách lược cho phát triển Kinh tế-Xã hội của đất
nước.
Để có một phương pháp đúng cho cho sự nhìn nhận về giá trị bảo vệ
Rừng không chỉ là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá và có thể tái tạo
được mà rừng còn nhiều chức năng sinh thái quan trọng không thể thay thế
được. Rừng có mối quan hệ mật thiết và trực tiếp đến sự sống còn và phát
triển của cả dân tộc cũng như tương lai cả cộng đồng, chỉ có bảo vệ và phát
triển để tăng vốn rừng hiện có mới đảm bảo được cân bằng sinh thái, bảo vệ
môi trường cho sự sống trong điều kiện công nghiệp ngày càng phát triển,
nguy cơ gây ô nhiễm không khí và nguồn nước ngày càng cao. Chỉ có như
vậy mới đáp ứng được nhu cầu lâm đặc sản cho xã hội.
Trên thực tế, vấn đề quản lý rừng có sự tham gia của người dân địa
phương còn dựa trên cơ sở của luật pháp và hàng loạt văn bản, chính sách
của Đảng, Nhà nước chứ chưa có sự tham gia tự giác của người dân. Hay nói
cách khác, ý thức quản lý bảo vệ rừng của người dân vẫn còn hạn chế.
Những văn bản pháp lý liên quan đến sự tham gia của người dân trong quản
lý bảo vệ rừng là:
Luật Bảo vệ môi trường năm 1993
Luật Đất đai năm 1993 và luật Đất đai sửa đổi năm 1998 và 2003
Luật bảo vệ và phát triển rừng đã được Quốc Hội thông qua ngày
19/8/1991 và luật bảo vệ phát triển rừng sửa đổi, đã được Quốc Hội thông
qua tháng 12/2004 (có hiệu lực 01/4/2005)
Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03 tháng 3 năm 2006 của Chính
phủ về thi hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng.
Nghị định 163/1999/QĐ-CP ngày 16.11.1999 về việc giao đất, cho
thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình cá nhân sử dụng ổn định, lâu
dài vào mục đích lâm nghiệp.
6Nghị định 139/2004/ NĐ-CP ngày 25.6.2004 về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.
7càng bị thu hẹp, loại cây có giá trị tốt bị giảm mạnh, một số nguồn gen quý
hiếm bị biến mất.
Việt Nam là một trong những nước nghèo trên Thế giới, có khoảng
70% dân số sản xuất nông nghiệp, đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn.
Theo thống kê năm 2001, tỷ lệ đói nghèo chiếm 17% dân số, số hộ này sống
chủ yếu ở nông thôn, vùng núi, biên giới, hải đảo và có khoảng 22 triệu
người sống gần rừng, đời sống của họ chủ yếu phụ thuộc vào rừng. Do người
dân sống vùng sâu, vùng xa nên chưa hiểu biết đầy đủ và sâu sắc về rừng,
nghề rừng nên họ quen sử dụng bừa bãi, lãng phí, bóc lột tài nguyên rừng
làm cho rừng ngày càng cạn kiệt. Từ đây cho thấy việc quản lý rừng ở nước
ta là một vấn đề sinh thái, kinh tế và xã hội quan trọng. Hằng năm diện tích
rừng ở nước ta mất đi khoảng 100.000 ha (tạp chí Lâm nghiệp 1,2 năm
2000). Một số lượng lớn hơn rất nhiều so với diện tích rừng trồng thêm hằng
năm của cả nước. Hiện nay diện tích đất trống đồi núi trọc ở nước ta khoảng
14,2 triệu ha chiếm 53% diện tích tự nhiên đã và đang suy thoái mạnh, đòi
hỏi có sự quan tâm thích đáng hơn nữa. Qua công trình nghiên cứu của
PGS.TS Nguyễn Xuân Quát đã chứng minh rằng “ Rừng tự nhiên bị chặt phá
và thu hẹp nhanh chóng ở nước ta hằng năm mất đi khoảng 150.000 ha rừng
tự nhiên, nhưng tốc độ tăng trưởng của rừng tự nhiên lại chậm và thấp. Mức
độ tăng trưởng hằng năm chỉ đạt 3-4m
3
/ha/năm, phổ biến 2-3m
3
/ha/năm. Rất
nhiều chủng loại khó đáp ứng được nhu cầu rừng công nghiệp. Dân số tăng
càng nhanh thì rừng mất đi càng nhiều, mức tăng trưởng của rừng chậm, nhu
cầu con người ngày càng cao gây nên thiếu gỗ và lâm sản nghiêm trọng cũng
nhảy vọt từ khi có các Quyết định như 245/1998/QĐ-TTg, 105/2000/QĐ-B
NN&PTNT, thông tư 56/1999/TT/BNN&PTNT
Mối quan hệ gắn bó giữa người dân miền núi với rừng luôn tồn tại từ
buổi sơ khai đến thời đại công nghiệp phát triển. Không thể tách rời họ ra
khỏi mối quan hệ này mà phải giúp họ bám đất, bám rừng, chuyển đổi những
người kai thác rừng trái phép, phá rừng trở thành lực lượng nòng cốt giữ
rừng ở cơ sở.
Từ những cơ sở thực tiễn ở trên, quản lý bảo vệ rừng được hiểu là hệ
thống các biện pháp quản lý và sử dụng các loại rừng nhằm giữ mối quan hệ
hợp lý giữa con người với rừng, bảo vệ và phục hồi tài nguyên rừng, hạn chế
những ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của những hậu quả hoạt động xã hội
nghề rừng. Công tác quản lý bảo vệ rừng phải gắn liền với việc bảo vệ thiên
nhiên và môi trường, với pháp luật, chính sách chế độ và biện pháp của các
ngành liên quan.
9CHƯƠNG III. MỤC TIÊU- ĐỐI TƯỢNG- NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Mục tiêu nghiên cứu.
Tìm hiểu hiện trạng tài nguyên rừng và công tác quản lý bảo vệ rừng
nhằm đề xuất giải pháp quản lý rừng bền vững tại địa bàn xã Quế Long,
huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.
3.2. Đối tượng nghiên cứu.
Rừng tự nhiên và rừng trồng ở xã Quế Long, huyện Quế Sơn, tỉnh
Quảng Nam.
3.3. Nội dung nghiên cứu.
- Tìm hiểu đặc điểm chung của khu vực nghiên cứu.
- Các hoạt động sản xuất chủ yếu của người dân.
căn cứ cách mạng qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp - Mỹ, nơi đây có
dãy“Trường Sơn” ngăn cách giữa vùng địch chiếm đóng và vùng giải phóng,
nên rừng Quế Long đã bị bom đạn và chất độc hoá học huỷ diệt rất nhiều.
Tổng diện tích tự nhiên của toàn xã là 1.957,00 ha, trong đó đất lâm nghiệp
chiếm 860,00 ha.
4.1.1. Điều kiện tự nhiên của khu vực nghiên cứu.
4.1.1.1. Vị trí địa lý.
Xã Quế Long nằm cách trung tâm huyện 3 km về phía Tây, có tuyến
đường DT 611A chạy ngang qua nên giao thông cũng được thuận lợi.
Phía Đông giáp thị trấn Đông Phú, huyện Quế Sơn
Phía Tây giáp với xã Quế Lộc, huyện Nông Sơn
Phía Nam giáp với xã Quế Phong, huyện Quế Sơn
Phía Bắc giáp xã Quế Hiệp, huyện Quế Sơn
* Toạ độ địa lý:
Từ 108
o
10
’
20
’’
đến 108
0
11
’
05
’’
kinh độ đông.
Từ 15
o
41
- Địa hình đồng bằng: Do kết quả bồi tụ của sông, suối trên địa bàn xã. Loại
địa hình này đang được sử dụng để trồng lúa nước, hoa màu và đất thổ cư.
- Địa hình đồi núi thấp: Là phần diện tích có độ dốc trung bình < 20
o
được
sử dụng trồng cây hàng năm và cây lâu năm khác.
11- Địa hình đồi núi cao dốc: Nằm trên phần địa hình có độ dốc > 25
o
phân bố
chủ yếu ở phía Tây Bắc và Đông Bắc của xã.
4.1.1.3. Khí hậu-thuỷ văn
* Khí hậu:
Nằm trong khu vực Duyên Hải miền Trung nên khí hậu ở Quế Long
mang tính chất đặc trưng của khu vực Nam Hải Vân. Khí hậu nhiệt đới ẩm
gió mùa có hai mùa rõ rệt: mùa khô bắt đầu từ tháng 3 đến tháng 8, mùa mưa
bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau.
+ Chế độ nhiệt:
Nhiệt độ bình quân/ năm là 25
o
C.
Nhiệt độ tối cao: 40,1
o
C.
Nhiệt độ tối thấp: 10,8
o
C.
4.1.1.4. Đất đai- thổ nhưỡng- tài nguyên thiên nhiên của xã Quế Long
* Các loại đất chính:
- Đất phù sa bồi đắp: do trong mùa mưa lũ một lượng lớn phù sa đổ về
từ các con suối trong xã và bồi đắp chủ yếu cho các thôn Xuân Quê 1, Xuân
Quê 2 nên rất thích hợp cho cây nông nghiệp ngắn ngày phát triển.
- Đất Feralít vàng nhạt: phát triển trên đá Granit, được phân bố ở các
thôn Lộc Thượng 2 và thôn Lộc Sơn thích hợp cho các loài cây Sao đen,
Dầu rái phát triển.
- Đất Feralít vàng đỏ phát triển trên đá Granít, được phân bố ở các thôn
Lộc Sơn, Lộc Thượng 1 và Lộc Thượng 2 thích hợp cho các loài cây lâm
nghiệp phát triển như Keo, Bạch đàn, và các loài cây bản địa như Dó bầu,
Cẩm thị, Chò, Huỷnh
* Tài nguyên rừng ở xã Quế Long:
- Theo thống kê đất đai trên địa bàn xã Quế Long hiện nay diện tích
rừng còn 674,00 ha chiếm 34,44% diện tích tự nhiên. Hầu hết là rừng phòng
hộ đầu nguồn với 528,80 ha chiếm 27% diện tích tự nhiên, rừng sản xuất
chỉ chiếm một lượng nhỏ 145,20 ha. Xu thế phát triển rừng của xã Quế Long
trong những năm tới sẽ tăng mạnh.
- Quản lý và bảo vệ diện tích rừng trồng hiện có, các khu vực rừng có
tính chất trọng yếu cần được bảo vệ nghiêm ngặt. Tận dụng triệt để khả năng
tái sinh và diễn thế rừng tự nhiên để phục hồi rừng bằng cách ngăn chặn lửa
rừng, sâu bệnh hại, sự phá hoại của gia súc và chặt phá của con người…
- Nuôi dưỡng diện tích rừng non phục hồi sau nương rẫy, diện tích
rừng trồng, tạo điều kiện cho cây sinh trưởng và phát triển.
- Tuy nhiên, tài nguyên rừng ở đây đang có nguy cơ cạn kiệt do hoạt
động chặt phá rừng trái phép, hoạt động khai thác lâm sản ngoài gỗ quá mức
mà không có hướng tái tạo.
13
* Tài nguyên nước:
Nguồn nước mặt khá dồi dào được dự trữ từ đập Hồ Giang, cộng với
hệ thống các khe suối nhỏ và một số hồ chứa nước nhỏ, đây là điều kiện rất
thuận lợi để sản xuất nông nghiệp phát triển.
Nước ngầm được phân bố ở độ sâu từ 10 – 25m.
4.1.1.5. Thực trạng môi trường.
- Môi trường đất: Diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thoái hoá
nặng, diện tích đất trống, đồi núi trọc thì đang ở mức độ thoái hoá nghiêm
14trọng. Nguyên nhân chủ yếu là do tình trạng chặt phá rừng, đốt nương làm
rẫy, kỹ thuật canh tác theo lối tự do không tuân thủ các quy trình kỹ thuật.
- Môi trường nước vẫn còn ở mức độ ô nhiễm nhẹ, nhưng trong
những năm gần đây mức độ ô nhiễm có chiều hướng tăng lên. Nguyên nhân
chủ yếu do canh tác bất hợp lý trên đất dốc, thuộc lưu vực các con suối với
quy mô lớn.
4.1.2. Tình hình dân sinh sinh, kinh tế-xã hội ở xã Quế Long.
4.1.2.1. Tổ chức hành chính.
Xã Quế Long được chia làm 7 thôn. Bao gồm: Lãnh An, Lộc Sơn, Lộc
Thượng 1, Lộc Thượng 2, Xuân Quê 1, Xuân Quê 2, và Trung Thượng.
4.1.2.2. Dân số, lao động, việc làm và thu nhập.
- Dân số: Trong những năm qua công tác tuyên truyền và vận động có nhiều
chuyển biến tốt. Theo thống kê của Phòng Nông nghiệp và phát triển nông
thôn huyện Quế Sơn, tính đến ngày 31/12/2008 toàn xã có diện tích tự nhiên
là 1.957,00 ha, với tổng nhân khẩu là 4.489 người, mật độ 249 người/km
2
.
Tổng số hộ là 1.305 hộ.
nhân dân cũng dần dần được cải thiện. Tốc độ tăng trưởng kinh tế dịch vụ
kinh doanh ở các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
cũng có sự tăng trưởng đáng kể, sản xuất nông nghiệp đang dần dần ổn định.
- Tổng giá trị sản xuất năm 2008 đạt 21.957,640 triệu đồng đạt
105,6% KH năm, tăng 14,6% so với năm 2007.
Trong đó:
+ Giá trị nông-lâm nghiệp đạt 11.237,140 triệu đồng đạt 107,4% KH
năm, tăng 15,9% so với năm 2007. Bao gồm:
Giá trị trồng trọt: 9.122,140 triệu đồng.
Giá trị chăn nuôi: 2.115,00 triệu đồng.
+ Giá trị tiểu thủ công nghiệp: 780,500,00 triệu đồng đạt 108,7% KH
năm, tăng 16,3% so với năm 2007.
+ Giá trị thương mại dịch vụ: 1.440,00 triệu đồng đạt 103,4% KH
năm, tăng 11,6% so với năm 2007.
- Tổng thu ngân sách: 1.201.002.358 đồng, đạt 118% KH năm.
- Tổng sản lượng lương thực: 1.593,2 tấn, đạt 76,9% KH năm , giảm
374,6 tấn so với năm 2007.
Trong đó: sản lượng thóc là 1.579,2 tấn.
- Lương thực bình quân đầu người: 345,07 kg đạt 82,65% KH năm,
giảm 54,98 kg so với năm 2007.
16- Thu nhập bình quân đầu người trên năm: 4,756 triệu đồng, đạt
109,3% KH năm tăng 22,1% so với năm 2007.
Giá trị thu nhập khác: 8.500,00 triệu đồng đạt 102,9% KH năm, tăng
13,2% so với năm 2007.
* Khu vực kinh tế nông nghiệp:
Nhìn chung, sản xuất nông nghiệp năm 2008 được tiến hành trong
Cây cỏ phục vụ chăn nuôi: DT 2 ha
Rau đậu các loại: DT: 2 ha/ 1,3 ha, đạt 154% KH năm.
Nhìn chung các loại cây trồng vẫn giữ mức phát triển bình thường
năng suất và sản lượng không tăng cao. Diện tích giảm hơn so với các năm
do nhân dân chuyển đổi mục đích sử dụng đất, từ cây nông nghiệp sang cây
lâm nghiệp.
- Ngành chăn nuôi:
+ Do sự biến động của thị trường, tình hình dịch bệnh ở đàn gia súc,
gia cầm chịu ảnh hưởng chung trên địa bàn tỉnh. Công tác thú y được duy trì
thường xuyên, việc kiểm tra giám sát dịch bệnh gia súc, gia cầm tại các thôn
luôn được đảm bảo. Đến năm 2008, tổng đàn gia súc gia cầm của xã là:
25.430 con, tăng 1.543 con so với năm 2007. Trong đó:
Đàn trâu: 341 con.
Đàn bò: 747 con.
Đàn lợn: 1.461 con.
Đàn dê: 49 con.
Đàn gia cầm các loại: 19.711 con. Trong đó: vịt 3.121 con.
+ Trên địa bàn xã đã thực hiện công tác khử trùng tiêu độc vệ sinh môi
trường thường xuyên cho các thôn trong xã. Công tác tiêm phòng gia súc, gia
cầm được triển khai thực hiện rộng rãi, đều khắp trên địa bàn toàn xã.
* Khu vực kinh tế công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp-thương mại-dịch vụ.
- Công nghiệp:
Hiện tại trên địa bàn xã không có khu công nghiệp nào, các sản phẩm
nông nghiệp mang tính chất tự phát quy mô hộ gia đình. Chỉ có một số
ngành nghề tiểu thủ công nghiệp như: Sản xuất gạch ngói, sửa chữa cơ khí,
xay xát và một số hộ kinh tế buôn bán nhỏ lẻ.
- Tiểu thủ công nghiệp:
+ Tổng giá trị tiểu thủ công nghiệp năm 2008 đạt: 780,500 triệu đồng,
đạt 108,7% KH năm, các sản phẩm chủ yếu: cưa xẻ gỗ, công cụ cầm tay,
rèn, mộc, hàn,
chức cộng đồng có bí thư chi bộ (thôn) trưởng thôn và phó trưởng thôn. Tính
chất cộng đồng quan điểm sở hữu tập thể về rừng vẫn tồn tại song song với
các tổ chức chính quyền, đoàn thể theo hệ thống hành chính nhà nước.
- Giáo dục:
Năm học 2008-2009 các cấp học đã duy trì đảm bảo số lượng, nâng
cao chất lượng dạy và học. Do đó học sinh lên lớp ở các cấp đạt cao, chất
lượng giáo dục trong nhà trường ngày càng tốt hơn, đa số học sinh đã xác
định đúng đắn động cơ học tập, số lượng học sinh đạt giải tại huyện, tỉnh cao
19hơn các năm trước. Luôn quan tâm đến xây dựng cơ sở vật chất để trường
đạt chuẩn Quốc gia.
- Y tế:
Xã có một trạm y tế được xây dựng vào những năm trước giải phóng
và đến nay thì đã xây mới lại hoàn toàn (năm 2003) với tổng diện tích là
1.590 m
2
, diện tích phòng sử dụng là 900 m
2
. Trạm y tế nằm ngay cạnh trung
tâm xã và sát đường DT 611A nên rất thuận lợi cho người dân đến khám và
chữa bệnh. Hiện nay trạm có 7 nhân viên: 2 bác sỹ, 3 y tá, 1 nữ hộ sinh và
một người làm vệ sinh.
Cơ sở hạ tầng: trong năm 2008 nhân dân đã ra quân đắp đường, tu bổ giao
thông trong thôn xóm với tổng hơn 2.500 ngày công, đa số đường giao thông thôn
xóm đã được bê tông hoá. Cầu cống đa số đã được xây dựng kiên cố.
Nhìn chung Quế Long có một địa thế thuận lợi bởi có con đường DT
611A chạy ngang qua trung tâm xã, có nguồn nước đồi dào từ ngàn xưa đến
phương án quy hoạch nương rẫy của huyện).
4.2.2. Vườn đồi.
Theo điều tra của bản thân thì phần lớn các hộ trong xã đều có vườn
đồi. Nguyên nhân hình thành các vườn đồi là do truyền thống của người dân
địa phương và do chính sách của nhà nước ta là đưa dân lên vùng kinh tế
mới nên người dân phải phá rừng để làm nương rẫy và làm vườn nhà. Đây là
nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến mất rừng, UBND huyện quyết định xóa tất
cả các khu kinh tế mới và đưa dân về tập trung ở nông thôn nên tình trạng
phá rừng ở khu này được hạn chế rất nhiều.
4.2.3. Hoạt động khai thác gỗ, củi.
- Khai thác gỗ cho nhu cầu sử dụng: Do nhu cầu thiết yếu cuộc sống
ngày càng tăng, đời sống kinh tế ngày một khá hơn vì thế nhu cầu về gỗ làm
nhà và xây dựng các công trình hạ tầng cơ sở ngày một nhiều hơn, nên người
dân phải vào rừng tự khai thác gỗ và củi về sử dụng trong gia đình và công
trình tại địa phương.
- Khai thác cho mục đích thương mại của người dân trong và ngoài
xã: Vào những thời gian nông nhàn, người dân vào rừng khai thác gỗ để bán
nhằm cải thiện đời sống kinh tế của gia đình. Lợi dụng cơ hội này một số
người dân ngoài địa phương vào xã, đầu tư vốn và phương tiện, dụng cụ cho
người dân vào rừng khai thác lấy lâm sản ra bán lại cho họ nên đã làm phá
rừng tại địa phương rất lớn. Từ khi có Quyết định 245/1998/QĐ-TTg và
105/2000/QĐ-Bộ NN&PTNT ra đời, chính quyền địa phương và Kiểm lâm
địa bàn đã hạn chế được rất nhiều tình trạng khai thác gỗ trên địa bàn vào
mục đích thương mại.
214.2.4. Hoạt động săn/ bẫy, bắt động vật.
- Hoạt động săn/bẫy, bắt động vật của người dân địa phương thường
22diễn biến tài nguyên rừng của Kiểm lâm, các số liệu về sử dụng đất đai của
các chủ sử dụng đất trên địa bàn và các nguồn tài liệu khác có liên quan. Kết
quả về hiện trạng sử dụng đất và phân cấp 3 loại rừng huyện Quế Sơn được
thể hiện ở bảng sau:
Bảng 2: Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp huyện Quế Sơn.
( Tính đến ngày 31/12/2008)
Loại đất Diện tích(ha) Tỷ lệ
Tổng diện tích tự nhiên 25.117,15 100
1. Đất nông nghiệp 17.748,62 70,7
1.1.Đất sản xuất nông nghiệp 7.451,21 29,7
1.2.Đất lâm nghiệp có rừng 10.297,41 41
- Rừng sản xuất 6.184,81 24,6
+ Rừng tự nhiên
+ Rừng trồng 6.073,31 24,2
+ Chưa có rừng 111,50 0,4
- Rừng phòng hộ 4.112,60 16,4
+ Rừng tự nhiên 1.578,50 6,3
+ Rừng trồng 1.498,30 5,96
+ Chưa có rừng 1.035,80 4,1
2. Đất phi nông nghiệp 4.329,95 17,2
3. Đất chưa sử dụng 3.038,58 12,1
(Nguồn số liệu: Hạt Kiểm lâm Quế Sơn)
Qua số liệu cho thấy tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 25.117,15
ha, gồm đất nông nghiệp là 17.748,62 ha, chiếm 70,7% diện tích tự nhiên,
đất phi nông nghiệp 4.329,95 ha chiếm 17,2% diện tích tự nhiên và đất chưa
sử dụng 3.038,58 ha chiếm 12,1% diện tích tự nhiên. Trong diện tích đất
nông nghiệp 17.748,62 ha, thì diện tích đất lâm nghiệp là 10.297,41 ha,
Bảng 4: Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp của xã trước và sau khi quy
hoạch.
(Đơn vị: ha)
Hạng mục
Trước quy hoạch
(Theo QĐ 47 ngày
27/9/2006 của UBND
tỉnh Quảng Nam)
Sau quy hoạch
( sau khi rà soát
tháng 8/2008)
Chênh
lệch
Tổng diện tích đất
lâm nghiệp
860,00 838,2 -21,8
1.Đất rừng phòng hộ 850,0 687,5 -162,5
1.1. Đất có rừng 664,0 555,7 -108,3
1.1.1. Rừng trồng 322,0 213,7 -108,3
1.1.2. Rừng tự nhiên 342,0 342,0 0
1.2. Đất chưa có rừng 186,00 186,0 0
2. Đất rừng sản xuất 10,0 150,7 +140,7
2.1. Đất có rừng 10,0 102,7 +92,7
2.1.1. Rừng trồng 8,0 102,7 +94,7
2.1.2. Rừng tự nhiên 2,0 0,0 -2
2.2. Đất chưa có rừng 0,0 0,0 0
(Nguồn số liệu: UBND xã Quế Lộc)
Nhận xét: Diện tích đất lâm nghiệp của xã sau khi quy hoạch và rà soát
lại vào tháng 8/2008 đã giảm xuống -21,8 ha, 108,3 ha rừng trồng phòng