MỞ ĐẦU
Tư tưởng phân chia quyền lực là cơ sở hình thành nên nguyên tắc phân
quyền - nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, nhất
là của những nước tư sản. Phân quyền như là một đòi hỏi của dân chủ, một nội
dung chính của Hiến pháp. Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, với công cuộc
đổi mới, mở cửa, và nhất là với công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền, việc
tiếp thu và áp dụng những hạt nhân hợp lý trong tư tưởng phân chia quyền lực, hay
đúng hơn là học thuyết phân quyền của Montesquieu đã được chúng ta ghi nhận
trong Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001. Điều 2 của Hiến pháp quy
định: "Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước
thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp
nông dân và đội ngũ trí thức. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công
và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp,
hành pháp và tư pháp.".
PHẦN I: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TƯ TƯỞNG
PHÂN CHIA QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC.
Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước có mầm mống xuất hiện từ rất lâu
và đạt đến mức độ hoàn thiện nhất khi được Montesquieu nâng lên thành học
thuyết phân quyền được giai cấp tư sản áp dụng rộng rãi. Việc áp dụng tư tưởng
phân quyền vào tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước có tác động tích cực
trong việc chống nạn độc tài, chuyên chế của các công việc nhà nước.
Học thuyết phân chia quyền lực (học thuyết phân quyền) gắn liền với tên
tuổi của John Locke, Montesquieu, đặc biệt là Montesquieu. Tuy nhiên, mầm
mống của tư tưởng phân quyền đã xuất hiện từ rất lâu trong xã hội sơ khai đầu tiên
của nhân loại.
1. Tư tưởng phân chia quyền lực trong thời kỳ cổ đại.
Tư tưởng phân chia quyền lực lần đầu tiên được xuất hiện trong tác phẩm
Politics (Chính trị) của Aristote (384 - 322 TCN). Trong tác phẩm của mình, ông
cho rằng nhà nước nào được tổ chức quy củ, đảm bảo công bằng trong dân chúng
thì nhà nước đó phải có ba bộ phận: bộ phận tư vấn pháp lý về hoạt động của nhà
quyền thì nhà nước và pháp luật theo chế độ phong kiến buộc phải thay đổi để
thích nghi với điều kiện và hoàn cảnh mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để loại trừ
sự chuyên quyền, độc đoán khi quyền lực nhà nước chỉ tập trung trong tay một hay
một nhóm người, làm sao để bảo đảm quyền tự do, bình đẳng của mọi cá nhân
trong xã hội...? Trước tình trạng đó, tư tưởng phân chia quyền lực một lần nữa đã
chứng minh được những giá trị có ý nghĩa lớn lao của mình.
a) Tư tưởng phân chia quyền lực của John Locke (1632 - 1704)
Tư tưởng phân quyền được John Locke thể hiện rất rõ trong phần hai của
Hai khảo luận về chính quyền - một trong những tác phẩm kinh điển về triết học
chính trị và chính trị học nhân loại.
Trong hệ thống quan điểm về tư tưởng phân chia quyền lực của Locke, ta có
thể nhận thấy ông đã đồng nhất quyền lực nhà nước với quyền lập pháp. Cơ quan
lập pháp là cơ quan duy nhất có quyền ban hành pháp luật.
Bên cạnh đó, Locke cũng chỉ ra những ranh giới mà cơ quan lập pháp không
được phép vượt qua như nó không thể là quyền lực chuyên chế, độc đoán đặt trên
cuộc sống và vận mệnh của nhân dân, không được trao quyền lập pháp cho một ai
khác,...
Về cách thức thành lập cơ quan lập pháp, Locke đưa ra mô hình cơ quan lập
pháp là tập hợp của những người khác nhau trong một thời gian nhất định để làm
luật, và khi hết nhiệm kỳ, họ sẽ lại trở thành những thành viên của cộng đồng và
chịu sự chi phối của những luật mình làm ra.
2
Cơ quan hành pháp được thành lập do yêu cầu cần có một cơ quan thường
trực thực hiện và quản lý những công việc chung trong khi cơ quan lập pháp không
nên tồn tại một cách thường xuyên. Nhiệm vụ và quyền hạn chủ yếu của cơ quan
hành pháp là thực hiện cũng như giám sát sự thực hiện các đạo luật đã được cơ
quan hành pháp ban hành. Ngoài ra, cơ quan hành pháp còn có đặc quyền hành
động nhất định. Đặc quyền đó được thể hiện khi có những vấn đề xã hội mới nảy
sinh mà cơ quan lập pháp chưa kịp ban hành những điều luật để điều chỉnh thì cơ
quan hành pháp có toàn quyền quyết định hướng giải quyết nhưng vẫn phải đặt lợi
chính sách quốc gia mà không bị dân chúng cản trở. Cơ quan lập pháp lại tiếp tuc
được chia thành hai nhánh nhỏ: nhánh thứ nhất gồm các đại diện thường dân có
quyền ban hành luật lệ; nhánh thứ hai gồm các đại diện của giới quý tộc không có
khả năng lập pháp nhưng có quyền phủ quyết các dự luật của thường dân mà ảnh
3
hưởng đến quyền lợi quý tộc. Cơ quan lập pháp tự nó cũng có thể trở nên độc tài,
vì vậy cho nên nghị viện thường dân phải được bầu cử theo định kì.
Khi bàn về sự tương quan giữa ngành lập pháp và hành pháp, Montesquieu
cho rằng hai ngành này phải có khả năng kiểm soát hay khống chế lẫn nhau. Quyền
hành pháp không thể nằm trong tay những nhà lập pháp bởi vì như vậy sẽ vi phạm
nguyên tắc phân quyền. Theo ông, nhà vua nên nắm quyền hành pháp. Nhà vua
cũng mang nhiệm vụ nhóm họp hay giải tán Nghị viện. Ngược lại, Nghị viện có
thể giới hạn khả năng kiềm chế của ngành hành pháp. Nghị viện có quyền điều tra
các hành vi của ngành hành pháp và trừng trị những vị đại diện vua lạm dụng chức
vụ hành pháp.
Ngoài ra, Montesquieu còn bàn nhiều đến hình luật bởi hình luật ảnh hưởng
trực tiếp đến quyền tự do của công dân.
Tóm lại, theo Montesquieu, cách thức tổ chức nhà nước của một quốc gia là:
“Cơ quan lập pháp trong chính thể ấy gồm có hai phần, phần này ràng buộc phần
kia do năng quyền ngăn cản hỗ tương. Cả hai phần sẽ bị quyền hành pháp ràng
buộc và quyền hành pháp sẽ bị quyền lập pháp ràng buộc.”
Tư tưởng của Montesquieu tuy vẫn còn điểm hạn chế là bảo thủ phong kiến,
đòi hỏi đặc quyền cho tầng lớp quý tộc. Nhưng nó vẫn là nền móng cho tư tưởng
phân chia quyền lực sau này.
c) Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước của Jean - Jacques Rousseau
Rousseau (1712 - 1778) chủ trương nâng cao nguyên tắc tập quyền nhưng
cũng gián tiếp thể hiện sự phân chia quyền lực trong tổ chức và hoạt động của bộ
máy nhà nước qua những quan điểm rất mới mẻ và tiến bộ được thể hiện trong tác
phẩm Bàn về khế ước xã hội hay là các nguyên tắc của quyền chính trị.
Tư tưởng phân quyền của Rousseau khác xa so với những quan điểm của
pháp và quyền tư pháp do ba cơ quan khác nhau đảm nhận; sự tồn tại tương đối
độc lập trong việc thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan; các cơ quan quyền lực
kiểm tra, giám sát lẫn nhau để tránh tình trạng chuyên quyền.
Tuy nhiên, ở nhiều nhà nước hiện nay, tư tưởng phân quyền ngang có một số
thay đổi, chủ yếu ở số nhánh quyền lực phân chia ra từ quyền lực nhà nước. Cụ thể
hơn, quyền lực nhà nước ở những nước này được phân chia thành 4,5 hoặc 6 bộ
phận. Ví dụ: ở một số nước Mỹ La tinh, ngoài các quyền lập pháp, hành pháp và tư
pháp còn có quyền lực thứ tư là quyền bầu cử...
Việc áp dụng tư tưởng phân quyền ngang được thể hiện ở những mức độ
khác nhau, tùy thuộc vào hình thức chính thể của nhà nước. Đối với chính thể cộng
hòa tổng thống như Mỹ, tư tưởng phân quyền ngang được áp dụng một cách cứng
rắn, triệt để; đối với chính thể cộng hòa đại nghị như Anh, tư tưởng phân quyền
ngang được áp dụng một cách linh hoạt, mềm dẻo,...
b) Phân quyền dọc
Tư tưởng phân quyền dọc có mầm mống xuất hiện từ thời cổ đại, nhưng vì ít
được áp dụng trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước tư sản nên nó tỏ ra
khá mới mẻ.
Nội dung cơ bản của tư tưởng phân quyền dọc có thể được tóm tắt: tồn tại hệ
thống các cơ quan quyền lực nhà nước do dân bầu ở cấp địa phương, song song với
bộ máy nhà nước trung ương; có sự phân công nhiệm vụ, trách nhiệm và quyền
hạn cụ thể giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương; các cấp chính
quyền tồn tại và hoạt động tương đối độc lập với nhau.
Phân quyền dọc có thể được thực hiện theo hai phương pháp: phân quyền
theo lãnh thổ (cách phân quyền của chính quyền trung ương cho chính quyền địa
phương theo đơn vị hành chính lãnh thổ) và phân quyền theo ngành chuyên môn
(cách phân quyền giữa các bộ phận chuyên môn với chính quyền địa phương).
Phân quyền dọc là cách thức có thể áp dụng ở hầu hết các chính thể nhà
nước.
PHẦN II: TƯ TƯỞNG PHÂN CHIA QUYỀN LỰC VÀ NHỮNG ÁP DỤNG
THỰC TẾ