1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Phù thai - rau là một bệnh lý cấp tính của thai xuất hiện ở bất kỳ tuổi thai
nào ngay từ quý đầu cho đến tận khi chuyển dạ. Bệnh đặc trưng bởi sự tích tụ
dịch quá nhiều trong khoảng ngoài mạch và các khoang cơ thể như phù da và
mô dưới da với các mức độ khác nhau, tràn dịch ổ bụng, tràn dịch màng tim,
tràn dịch màng phổi, phù bánh rau, đa ối… được Ballantyne mô tả lần đầu tiên
vào năm 1892 [1]. Cơ chế bệnh sinh của phù thai - rau đã được tìm hiểu tương
đối rõ ràng nhưng do bệnh có rất nhiều nguyên nhân gây ra và một số trường
hợp không có nguyên nhân nên công tác điều trị chưa mang lại hiệu quả cao.
Tỷ lệ phù thai - rau có sự khác biệt nhỏ giữa các tác giả. Nghiên cứu của
Takci S tại Thổ Nhĩ Kỳ thấy bệnh có tỷ lệ là 0,38% [2] và 0,6% đối với nghiên
cứu của Santolaya J tại Chicago [3]. Kết quả này trong nghiên cứu của Nghiêm
Thi Hồng Thanh tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương là 0,37% [4]. Như vậy, phù
thai - rau tương đối phổ biến nhưng bệnh lại có hậu quả chu sinh khá nặng nề do
có nhiều biến chứng cho người mẹ: đa ối, thiếu máu, tiền sản giật, sót rau, đờ tử
cung, chảy máu sau đẻ đặc biệt là sự suy giảm sức khỏe thai nhi trong tử cung
và khi ra đời. Nghiên cứu của Ismail K.M.K và cộng sự tại Anh Quốc cho biết tỷ
lệ thai chết trong tử cung, chết sơ sinh là 69,9% [5] và tỷ lệ này tăng cao trong
nghiên cứu của Ratanasiri T (1996 - 2005) ở Thái Lan là 98,78% [6].
Do hậu quả chu sinh như vậy nên việc phát hiện sớm bệnh lý này có vai trò
rất quan trọng. Chẩn đoán lâm sàng phù thai - rau khó khăn và nhiều khi là
không thể do các dấu hiệu nghèo nàn - chủ yếu là sự biểu hiện của những biến
chứng của bệnh. Hiện nay, phù thai - rau hoàn toàn được chẩn đoán trước sinh
bằng siêu âm thai định kỳ. Siêu âm hình thái thai nhi có vai trò xác định chẩn
đoán, đánh giá tình trạng bệnh và có thể tìm nguyên nhân gây bệnh để từ đó có
sự tư vấn và thái độ xử trí đứng đắn cho thai nghén, tránh những biến chứng có
thể xẩy ra cho người mẹ và sơ sinh.
2
Xuất phát từ vai trò đặc biệt quan trọng đó của siêu âm hình thái thai nhi và
sự phổ biến, nghiêm trọng của bệnh lý phù thai - rau, chúng tôi tiến hành nghiên
nhân này.
1.2 KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI PHÙ THAI - RAU.
1.2.1 Khái niệm phù thai - rau.
Phù thai - rau là một hội chứng bệnh lý đã được biết đến từ lâu, với những
tên như hội chứng gương (mirror syndrome) hay hội chứng Ballantyne được
Ballantyne miêu tả đầu tiên vào năm 1892. Hội chứng Ballantyne bao gồm các
dấu hiệu:
- Phù nề, luôn là một dấu hiệu quan trọng.
- Giảm albumin huyết tương, thường ở mức độ nhẹ.
- Tiền sản giật.
Dấu hiệu của thai là dư thừa dịch trong cơ thể, bao gồm tràn dịch ổ bụng,
đa ối [1]. Tuy nhiên về sau các tác giả nghiên cứu về phù thai - rau đều coi hội
chứng Ballantyne là một dạng của phù thai - rau xẩy ra trên những sản phụ có
biến chứng tiền sản giật.
Đã có nhiều khái niệm khác nhau về phù thai - rau, để phân biệt với tràn
dịch màng tim, tràn dịch màng phổi và tràn dịch ổ bụng đơn độc hàm ý nhiều
nguyên nhân đặc trưng, riêng biệt, có tiên lượng và quản lý thai nghén hoàn toàn
5
khác so với phù thai - rau, các tác giả đã thống nhất khái niệm về phù thai - rau
là: một hội chứng được xác định như sự dư thừa dịch trong cơ thể thai nhi. Gọi
là phù thai - rau khi dịch xuất hiện bất thường bên trong hai khoang cơ thể (tràn
dịch ổ bụng, tràn dịch màng phổi, tràn dịch màng tim) hoặc bên trong một
khoang cơ thể kèm theo phù da và mô dưới da [7].
Như vậy, khái niệm và tiêu chuẩn chẩn đoán phù thai - rau không bao hàm
dấu hiệu phù bánh rau, bất thường về bánh rau có thể có hay không.
Tùy từng đối tượng nghiên cứu khác nhau mà tỷ lệ phù thai - rau có khác
nhau. Đa số các tác giả thông báo tỷ lệ phù thai - rau trong tổng số thai nghén ở
cộng đồng là 1/3000 thai nghén [8]. Tỷ lệ này tăng cao ở các trung tâm quản lý
thai nghén - sơ sinh, nghiên cứu của Suwanrath-Kengpol C và cộng sự tại trung
tâm sản phụ khoa - Trường Đại học Prince of Songkhla - Thái Lan từ năm 1993
- Phù thai - rau do miễn dịch: là những trường hợp phù thai - rau có hiện
tượng tạo kháng thể kháng hồng cầu con ở cơ thể người mẹ, xẩy ra trên những
sản phụ có sự bất đồng nhóm máu mẹ con hay gặp là bất đồng nhóm máu Rh.
Phù thai - rau do miễn dịch có test Coombs trực tiếp với mẫu máu con hoặc gián
tiếp với mẫu máu mẹ dương tính.
- Phù thai - rau không do miễn dịch: là phù thai - rau do nhiều nguyên nhân
khác nhau như bất thường nhiễm sắc thể, dị dạng thai, rối loạn chuyển hóa,
nhiễm trùng, nhiễm virus và một trường hợp không rõ nguyên nhân. Trong
trường hợp này, không có hiện tượng tạo kháng thể kháng hồng cầu con ở cơ thể
người mẹ và test Coombs trực tiếp hoặc gián tiếp đều âm tính.
Quá trình phát hiện và nghiên cứu về phù thai - rau đã ghi nhận phù thai -
rau do miễn dịch có từ rất sớm cho đến năm 1943, Potter xác định một phân
nhóm của phù thai - rau mà sự nhạy cảm của người mẹ với yếu tố Rh của thai
không tìm thấy, đánh dấu sự ra đời của phù thai không do miễn dịch. Tại thời
điểm thông báo của Potter, phù thai - rau do miễn dịch chiếm tỷ lệ trên 80% và
phù thai - rau không do miễn dịch có tỷ lệ rất thấp trong tổng số phù thai - rau.
7
Về sau cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, ngành sản phụ khoa đã có
những thay đổi quan trọng trong công tác quản lý thai nghén, điều trị dự phòng
bất đồng nhóm máu Rh giữa mẹ và thai bằng kháng huyết thanh anti - D, xác
định thiếu máu thai bằng siêu âm Doppler động mạch não giữa và xét nghiệm
tổng công thức máu con từ bệnh phẩm lấy máu tĩnh mạch rốn, đặc biệt là kỹ
thuật truyền máu tĩnh mạch rốn trong tử cung được giới thiệu bởi Rodeck và
cộng sự năm 1984 đem lại hiệu quả cao cho điều trị thiếu máu thai - một giai
đoạn trung gian dấn đến phù thai - rau do miễn dịch đã làm thay đổi tỷ lệ giữa
hai loại phù thai - rau. Nghiên cứu của Santolaya J và cộng sự từ năm 1985 -
1990 tại Chicago thấy phù thai - rau do miễn dịch có tỷ lệ là 13% và phù thai -
rau không do miễn dịch là 87% [3]. Kết quả này tương tự như trong nghiên cứu
của Ismail K.M.K và cộng sự (1996 - 1999, tại Anh Quốc), tỷ lệ phù thai - rau
do miễn dịch là 12,7% và phù thai - rau không do miễn dịch là 87,3% [5].
tổn thương tại bánh rau (trong quá trình mang thai hoặc trong quá trình kết thúc
thai nghén), sẩy thai tự nhiên, nạo hút thai, chọc ối, lấy máu tĩnh mạch rốn,
truyền máu trong tử cung…truyền máu cho sản phụ bị thiếu máu cũng có thể tạo
cơ hội cho sự nhạy cảm của người mẹ. Với sự bất đồng về kháng nguyên trên
màng tế bào hồng cầu, cơ thể người mẹ tạo ra kháng thể miễn dịch chủ yếu là
IgG và tỷ lệ rất ít là IgM, trong đó kháng thể miễn dịch IgG có trọng lượng phân
tử thấp (146x10
3
và 170x10
3
dalton) có thể đi qua hàng rào rau thai vào cố định
trên màng hồng cầu thai, những hồng cầu này sau đó bị phá hủy ở mô liên võng
nội mô có chủ yếu ở lách, gan gây ra thiếu máu thai do tan máu - nguyên nhân
dẫn đến nhiều rối loạn mà hậu quả cuối cùng là phù thai - rau.
Xâm nhập IgG của mẹ vào tuần hoàn thai nhi
Sự nhạy cảm của mẹ với hồng cầu thai
Hiện tượng tan hồng cầu của thai
Thiếu máu thai
Suy tim cung lượng cao
Mô thai bị thiếu
oxy và nhiễm acid
Sự tạo máu ngoài tủy xương, thay thế
mô gan thai bình thường bằng mô tạo
hồng cầu, giảm tổng hợp protein ở gan
Gan to, tăng áp tĩnh mạc
cửa, tăng áp tĩnh mạch rốn
Tràn dịch ổ bụng, phù bánh rau, giảm
khuếch tán acid amin ở bánh rau
Giảm protein huyết
Phù
Thiểu sản phổi
Khối u ở ngực
Tiêu
hóa
Hẹp, tắc ruột non
Xoắn ruột
Viêm phúc mạc phân su
Xơ gan, viêm gan
U mạch ở gan
Tiết
niệu
Tắc đường tiết niệu
Thận hu bẩm sinh
Hệ
xương
- khớp
Lùn ngắn tứ chi
Co đa khớp bẩm sinh
Loạn sản ngực gây ngạt
Gãy xương bẩm sinh do
thiếu men phosphatase
Không tạo xương
HC Francois loại 3
HC Pena-Shokier loại 1
HC Neu-laxova
Bánh
rau -
dây rốn
U mạch bánh rau
Huyết khối tĩnh mạch bánh
Hỗn
tạp
Phù bạch huyết bẩm sinh
Xơ não đa u
Nhiễm
trùng
Cytomegalovirus
Toxoplasmosis
11
Giảm sản bạch huyết phổi
gia đình
Syphilis
Herpes loại 1
Rubella
Parvovirus B19
Adenovirus
Dùng
thuốc
Indomethacin
Bệnh
của mẹ
Thiếu máu nặng
Đái tháo đường thai nghén
Giảm protein huyết tương
Tỷ lệ các nguyên nhân gây phù thai - rau không do miễn dịch có sự khác
biệt giữa các tác giả. Nghiên cứu của Santolaya J [3] thì nang bạch huyết và
những bất thường của hệ thống bạch huyết chiếm 30%, bất thường tim 20%, đa
dị tật 15%, u quái cùng cụt 3%, hội chứng truyền máu trong song thai 3%, u
mạch máu bánh rau 1,5% và phần còn lại khoảng 25% không rõ nguyên nhân.
đóng vai trò quan trọng.
1.4 SIÊU ÂM CHẨN ĐOÁN PHÙ THAI - RAU.
Phù thai - rau là một bệnh thể hiện tình trạng sức khỏe của thai bị suy giảm
nghiêm trọng và tiên lượng một kết quả không tốt cho sơ sinh khi ra đời. Bệnh
cũng gây ra nhiều biến chứng cho sản phụ đặc biệt là thiếu máu, tiền sản giật và
chảy máu sau sinh. Trước đây, khi chưa áp dụng siêu âm vào sản khoa thì bệnh
chủ yếu được chẩn đoán sau sinh bằng sự quan sát thấy sơ sinh có hiện tượng
phù cứng toàn thân, bụng cóc, bánh rau dầy đã làm các bác sỹ sản khoa gặp
nhiều khó khăn trong quá trình quản lý thai nghén, người sản phụ bị suy giảm
sức khỏe rất nhiều qua cuộc đẻ thai to - bất thường và tỷ lệ chết sơ sinh rất cao.
Từ khi siêu âm được áp dụng phổ biến trong sản khoa thì phù thai - rau hoàn
toàn được chẩn đoán ở giai đoạn trước sinh qua các dấu hiệu biểu hiện đặc trưng
đồng thời có thể xác định nguyên nhân gây bệnh, hướng dẫn thực hiện các can
thiệp điều trị trước sinh. Sự đóng góp quan trọng của siêu âm đã cải thiện đáng
kể tình trạng sức khỏe của thai trong tử cung cũng như giúp các bác sỹ sản khoa
chủ động hơn rất nhiều trong quá trình quản lý thai nghén.
1.4.1 Dấu hiệu của phù thai - rau trên siêu âm.
13
Phù thai - rau có nhiều nguyên nhân gây ra và cơ chế gây bệnh có thể khác
nhau nhưng sự biểu hiện trên siêu âm về cơ bản là giống nhau, bao gồm các dấu
hiệu sau:
Các dấu hiệu thể hiện sự tích dịch trong cơ thể thai.
Tràn dịch ổ bụng.
Được gọi là tràn dịch ổ bụng khi có dịch tự do xuất hiện trong ổ bụng thể
hiện bằng vùng thưa âm vang trên siêu âm.
Chẩn đoán tràn dịch ổ bụng không khó khăn khi có nhiều dịch trong ổ
bụng. Tuy nhiên ở giai đoạn đầu của phù thai - rau, lượng dịch trong ổ bụng ít sẽ
làm cho việc phát hiện tràn dịch ổ bụng gặp khó khăn hơn. Đa số các tác giải
nhận định rằng: lượng dịch trong ổ bụng ít có thể được nhận ra qua quan sát dịch
giữa các quai ruột, bao quanh quai ruột và làm bờ của ruột nhìn rõ nét hơn hoặc
phổi.
Nghiên cứu của Saltzman và cộng sự thấy tràn dịch màng phổi xuất hiện
trong phù thai - rau phần lớn liên quan với thai không bị thiếu máu. Tác giả cho
biết trên những sản phụ phù thai - rau không kèm thiếu máu thai thì 87% có tràn
dịch màng phổi và tỷ lệ này giảm xuống 20% ở sản phụ có thiếu máu thai [22].
Tràn dịch màng tim.
Một lượng nhỏ của dịch màng tim có thể là bình thường, dịch màng tim là
bất thường khi độ dầy của lớp dịch trên 2mm [7].
Khi lượng dịch màng tim nhiều, việc phát hiện tràn dịch màng tim trên siêu
âm không khó khăn, đó là vùng giảm âm vang bao quanh tim, nhìn rõ bờ của cơ
tim, quả tim đập trong vùng dịch. Khi dịch màng tim ít, cần tìm hình ảnh tràn
dịch ở mỏm tim.
Trong thực hành lâm sàng, chúng ta cần thận trọng phân biệt tràn dịch
màng tim với hiện tượng giảm âm vang của cơ tim bình thường hay hình ảnh lớp
mỡ bao quanh tim.
15
Tỷ lệ xuất hiện tràn dịch màng tim trong phù thai - rau có sự khác nhau
giữa các tác nghiên cứu. Nghiên cứu của Takci S và cộng sự trên 62 thai phù
thai - rau thấy tràn dịch màng tim có tỷ lệ cao nhất, tương ứng là 87,1% [2]. Tỷ
lệ này thấp hơn trong nghiên cứu của Trần Danh Cường - 48,2% [23].
Phù da và mô dưới da.
Da và mô dưới da được xác định là phù khi có độ dầy trên 5mm [19]. Phát
hiện phù da và mô dưới da trong giai đoạn sớm của phù thai - rau bằng đo bề
dầy da đầu vùng trán trên đường cắt đứng dọc chuẩn. Phù da và mô dưới da có
thể lan tỏa xuống thành ngực, thành bụng và cuối cùng là phù toàn thân. Phù da
và mô dưới da là dấu hiệu muộn của phù thai - rau.
Đặc điểm của da bị phù là mô liên kết và mô dưới da tạo ra vùng thưa âm
vang. Khi thực hành siêu âm cần phân biệt phù da với dầy da. Dầy da là bề dầy
của da tăng lên nhưng không có sự giảm âm như phù. Dầy da gặp trong thai to,
dư thừa nếp da của loạn sản ngắn chi hoặc chứng giãn mạch bạch huyết.
15,5%, chủ yếu là nước ối bình thường (69,4%) [23]. Tuy nhiên, Tong Song T
và cộng sự lại cho kết quả là thiểu ối - 82%, còn lại là nước ối bình thường và
không có trường hợp đa ối nào trong nghiên cứu của tác giả [24]. Kết quả
nghiên cứu của Macafee C.A.J thì đa ối xuất hiện ở 75% sản phụ phù thai - rau
[27]. Như vậy, sự xuất hiện của đa ối, thiểu ối có thể khác nhau tùy thuộc vào
đối tượng nghiên cứu và hầu hiết các tác giả đều nhận định rằng sự xuất hiện
của thiểu ối báo hiện một tiên lượng cho tình trạng sức khỏe của thai xấu hơn đa
ối và nước ối bình thường [7].
Tim giãn, gan lách to.
Đánh giá sự giãn của tim thông qua chỉ số tim ngực. Chỉ số này được tính
bằng cách lấy kích thước ngang của tim đo qua chỗ bám của van nhĩ thất trên
17
đường cắt tim 4 buồng chia cho đường kính ngang ngực đo trên cùng đường cắt
[28].
- Bình thường: chỉ số tim ngực < 0,4.
- Tim giãn nhẹ: chỉ số tim ngực từ 0,4 - 0,5.
- Tim giãn nặng: chỉ số tim ngực > 0,5.
Tim giãn là biểu hiện của suy tim, hay gặp trong phù thai rau có tình trạng
thiếu máu. Nghiên cứu của Tong Song T và cộng sự trên đối tượng phù thai -
rau do bệnh alpha-thalassemia thấy tỷ lệ tim giãn là 90% [24] và trên một
nghiên cứu khác tác giả cho biết tim giãn với chỉ số tim ngực > 0,5 là ngưỡng
giá trị tốt nhất dự đoán bệnh do nguyên nhân này [29].
Gan lách to – hậu quả của sự tạo máu ngoài tủy xương hoặc suy tim. Chẩn
đoán gan lách to khi chiều dài gan và chiều dài lách trên giá trị của đường bách
phân vị thứ 95 [13].
Nhiều tác giả cho rằng chiều dài gan thường có mối quan hệ với nồng độ
hemoglobin và tổng hồng cầu lưới của thai. Tuy nhiên, Nicolaides và cộng sự
cho rằng đo kích thước gan không có giá trị dự đoán mức độ nghiêm trọng của
thiếu máu thai [30].
Tăng kích thước tĩnh mạch rốn.
độ dòng chảy tĩnh mạch rốn cũng có mối liên hệ với mức độ hematocrit của thai
từ đó dựa đoán sự cần thiết của truyền máu trước sinh, tuy nhiên đây chỉ là
nghiên cứu giới hạn trong 7 trường hợp [33].
Siêu âm chẩn đoán dị dạng bẩm sinh là nguyên nhân gây phù thai-
rau.
Tìm kiếm trên siêu âm những bất thường cấu trúc của thai là nguyên nhân
gây phù thai - rau có thể gợi ý cho chúng ta đến cơ chế bệnh sinh và phương
pháp điều trị. Siêu âm thai một cách hệ thống là hữu ích, bất thường cấu trúc là
nguyên nhân gây phù thai - rau bao gồm hầu hết bất thường ở các tạng và xác
định được bằng siêu âm ở 29,1% trường hợp phù thai - rau [23].
19
Sau đây là hệ thống một số dấu hiệu trên siêu âm hướng tới nguyên nhân
của phù thai - rau:
Bảng 1.2 Những dấu hiệu siêu âm có thể gặp khi đánh giá phù thai -
rau [34].
Vùng giải
phẫu
Dấu hiệu siêu âm Chẩn đoán có thể
Đầu
Khối trong sọ
Khối nang trong sọ
Dòng chảy trong sọ
Đầu nhỏ
Khuyết hộp sọ với
khối
Phình tĩnh mạch Galen
Nang của bệnh lỗ não
Bệnh giảm tiểu cầu
Nhiễm cytomegalovirus, toxoplasma
Thoát vị não
Quai ruột giãn
Nốt calci hóa
Khối ở gan
Gan lách to
Tắc ruột, hẹp ruột, xoắn ruột
Viêm phúc mạc phân su
U mạch máu, u nội mạc mạch máu
Nhiễm trùng trong tử cung
Tạo máu ngoài tủy xương
Hệ tiết
niệu
Khối u sau màng bụng
Thận ứ nước
Khối giảm âm ở thận
Thành bàng quang dầy
U nguyên bào thần kinh
Tắc đường tiết niệu
Bệnh nang thận
Tắc đường tiết niệu
20
Các chi
Ngắn các chi
Gãy
Co cứng chi
Loạn sản
Tạo xương không hoàn toàn
Chứng co cứng khớp
Bánh rau
Dầy
Khối
- Máu được truyền là máu nhóm O - Rh âm, mức độ hematocrit cần đạt là
80% - 90%.
- Lượng máu cần truyền tính theo công thức của Rodeck.
V =
Hct2 - Hct1
xCNxVr
Hct3
Trong đó:
V: lượng máu cần truyền (ml).
Hct1: hematocrit của thai trước lúc truyền.
Hct2: hematocrit của thai cần đạt sau truyền khoảng 45%.
Hct3: hematocrit của máu đem truyền, thường là 80% - 90%.
CN: cân nặng thai ước tính bằng siêu âm.
Vr: lượng máu của rau - thai tính theo công thức 150ml/kg.
Số lượng máu thường được áp dụng là 30 - 100ml truyền với tốc độ 3 -
5ml/phút.
- Truyền máu tĩnh mạch trong tử cung lần 2 sau lần 1 khoảng 7 - 14 ngày
và khoảng cách giữa các lần truyền máu tiếp theo và cho đến lúc kết thúc thai
nghén khoảng 21 - 28 ngày.
- Thời điểm thích hợp để ngừng thai nghén là 36 tuần.
Nghiên cứu của Ney J.A [35] thấy tỷ lệ sống sót sau truyền máu trong tử
cung của thai bị phù thai - rau do miễn dịch là 74%. Tỷ lệ này cao hơn trong
nghiên cứu của Weiner - 85% [36].
1.5.2 Thái độ xử trí đối với phù thai - rau không do miễn dịch.
Theo Rousseau [37] phù thai - rau không do miễn dịch cần được chuyển
đến trung tâm chẩn đoán trước sinh để xác định nguyên nhân dựa vào siêu âm
hình thái thai, siêu âm tim thai, xét nghiệm cho người mẹ, bố và các xét nghiệm
của nước ối, máu tĩnh mạch rốn. Trong số phù thai không do miễn dịch thì
khoảng 2/3 là xác định được nguyên nhân. Tác giả gợi ý: đối với phù thai - rau
22
nghén cho bệnh lý này:
Phương pháp nong và gắp.
- Nong và gắp là phương pháp đình chỉ thai nghén bằng cách sử dụng
misoprostol và nến Hegar làm mềm và nong cổ tử cung, dùng bơm hai van với
ống hút phù hợp hút nước ối và kéo phần thai xuống thấp rồi tiến hành gắp thai,
rau.
- Phương pháp nong và gắp được thực hiện cho tuổi thai từ 13 tuần đến 16
tuần.
- Tai biến có thể gặp là: choáng, rách cổ tử cung, thủng tử cung, chảy máu,
sót thai, sót rau, ứ máu trong tử cung, nhiễm khuẩn. Có thể gặp tổn thương các
tạng lân cận sau thủng tử cung (ruột, bàng quang ) và nặng nhất là tử vong.
Gây sẩy thai.
Gây sẩy thai là phương pháp kích thích tạo cơn co tử cung giống như
chuyển dạ để đưa bào thai ra khỏi buồng tử cung khi thai chưa thể sống được.
Có 2 loại gây sẩy thai:
- Gây sẩy thai bằng thuốc: có 3 nhóm thuốc chính được sử dụng gây sẩy
thai.
+ Gây sẩy thai bằng oxytocin: thuốc gây cơn co tử cung thông qua cơ chế
kích thích lên các receptor ở cơ tử cung, tuy nhiên khi thai chưa đủ tháng thì các
sợi cơ kém nhạy cảm với oxytocin nên liều thuốc gây sẩy thường cao.
+ Gây sẩy thai bằng thuốc đưa vào buồng ối: các phương pháp bơm dịch
đẳng trương, dịch ưu trương hoặc chất tăng cơn cơ tử cung như ure vào buồng ối
đã không còn được sử dụng do nguy cơ nhiễm khuẩn và tắc mạch ối cao. Tuy
nhiên sử dụng ethacridin lactac bơm vào trong buồng tử cung, ngoài buồng ối
hay trong buồng ối có tỷ lệ sẩy thai gần 100% trong 24 - 48h.
24
+ Gây sẩy thai bằng prostaglandin: thuốc có tác dụng làm mềm cổ tử cung,
gây cơn co tử cung khởi phát chuyển dạ ở bất kỳ tuổi thai nào.
- Gây sẩy thai cơ học: hiện nay đang được sử dụng ở nước ta là phương
pháp Kovac's cải tiến dùng một túi cao su quấn vào sonde Nelaton đặt vào
thai nghén.
- Thai chết lưu và chết sau sinh.
Nghiên cứu của Ismail K.M.K và cộng sự [5] trên 63 trương hợp phù thai -
rau có 8 trường hợp phù thai - rau do miễn dịch thì 2 chết trong tử cung, 2 chết
sơ sinh và 4 trường hợp sống trên một tháng. Đối với 55 trường hợp phù thai -
rau không do miễn dịch thì 31 sẩy hoặc chết trong tử cung, 9 chết sơ sinh và 15
sống trên một tháng. Fukushima K và cộng sự [20] theo dõi 56 trẻ sống trên 1
năm có chẩn đoán phù thai - rau không do miễn dịch trươc sinh thì 28 trẻ phát
triển bình thường, 19 trẻ suy yếu chức năng thần kinh (bao gồm 3 trẻ Down và 1
Turner) và 9 trẻ nghi ngờ có liệt, chậm phát triển tinh thần.
Biến chứng cho mẹ.
Phù thai - rau cũng là một bệnh có nhiều biến chứng cho mẹ, một số biến
chứng hay gặp là:
- Đa ối.
- Thiếu máu với Hb < 11g/l.
- Tiền sản giật.
- Giảm albumin huyết thanh (< 30g/l).
- Viêm nhiễm đường tiết niệu.
- Đái tháo đường thai kỳ.