Công tác xóa đói giảm nghèo ở huyện Thường Xuân- Thanh Hóa, thực trạng và giải pháp - Pdf 26

Chuyên đề thực tập
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản chuyên đề tốt nghiệp này là quá trình nghiên cứu của cá
nhân tôi trong thời gian thực tập tại đơn vị, nó được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý
thuyết, phân tích tình hình thực tiễn tại đơn vị thực tập dưới sự hướng dẫn của cô giáo
PGS.TS Trần Thị Thu.
Tôi xin cam đoan bản chuyên tốt nghiệp này của tôi không sao chép từ bất cứ tài
liệu nào và tôi xin chịu trách nhiệm nếu bị phát hiện sao chép.

Người viết cam đoan
Cầm Bá Chái
SV: Cầm Bá Chái Lớp: Quản trị nhân lực KV19
Chuyên đề thực tập
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
SV: Cầm Bá Chái Lớp: Quản trị nhân lực KV19
Chuyên đề thực tập
DANH MỤC VIẾT TẮT
UBND : Ủy ban nhân dân
HĐND: Hội đồng nhân dân
MTTQ: Mặt trận tổ quốc
GDTX: Giáo dục thường xuyên
KT – XH: Kinh tế xã hội.
THPT: Trung học phổ thông.
SV: Cầm Bá Chái Lớp: Quản trị nhân lực KV19
Chuyên đề thực tập
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xóa đói giảm nghèo là vấn đề xã hội mang tính toàn cầu đang được thực
hiện theo con đường đổi mới. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có sự

Đại hội XI của Đảng, tiếp tục nhấn mạnh phải “Tập trung triển khai có hiệu quả
Chương trình xoá đói, giảm nghèo, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó
khăn”. Đảng và Nhà nước ta coi việc thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo thể
hiện ưu việt của chủ nghĩa xã hội. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định
chủ nghĩa xã hội là làm cho nhân dân thoát khỏi nghèo nàn và lạc hậu, là “Người
nghèo thì đủ ăn. Người đủ ăn thì khá giàu. Người khá giàu thì giàu có thêm”, “Là
làm sao cho dân giàu, nước mạnh làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng,
làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc” .
Do đó vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng sâu, vùng xa là
đối tượng chính của nhiệm vụ xoá đói giảm nghèo, bởi vì họ còn ở trình độ dân tri
thấp, tập quán sản xuất lạc hậu, thiếu thông tin nghiêm trọng về sản xuất hàng hoá
trong nền kinh tế thị trường. Huyện Thường Xuân là huyện miền núi, vùng cao
của tỉnh Thanh Hóa có tỷ lệ hộ nghèo cao 51,66% năm 2007 và là huyện nằm
trong 61 huyện nghèo của cả nước. Do vậy cùng với HĐND- UBND đã sớm triển
khai thực hiện xóa đói, giảm nghèo, thành lập ban chỉ đạo xóa đói giảm nghèo từ
huyện đến xã, thị trấn. Như vậy công tác xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn huyện
Thường Xuân là vấn đề cấp thiết, không chỉ nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống
mỗi gia đình mà còn góp phần không nhỏ vào việc đẩy mạnh sự phát triển của đất
nước nói chung và sự phát triển kinh tế xã hội của huyện Thường Xuân nói riêng.
Tuy nhiên trước yêu cầu của tình hình mới, công tác xóa đói giảm nghèo của
huyện Thường Xuân còn bộc lộ nhiều hạn chế, do đặc điểm địa trình độ dân trí
thấp, cấp ủy Đảng chính quyền các cấp có lúc, có nơi chưa thật sự quan tâm chỉ đạo
và đầu tư đúng mức về các chính sách về xóa đói giảm nghèo.
Xuất phát từ những vấn đề trên và một sinh viên đang thực tập tai huyện nhà,
bằng những kiến thức đã học và nghiên cứu tài liệu mà đặc biệt là thực tế tại địa
phương, nên em chọn chuyên đề thực tập tốt nghiệp “ Công tác xóa đói giảm
nghèo ở huyện Thường Xuân- Thanh Hóa, thực trạng và giải pháp ” làm đề tài
nghiên cứu cho mình.
SV: Cầm Bá Chái 2 Lớp: Quản trị nhân lực KV19
Chuyên đề thực tập

đường Hồ Chí Minh, Quốc lộ 15A, tỉnh lộ 507. Hiện nay Thường Xuân có 16 xã và
1 thị trấn với tổng số 142 thôn bản, dân số toàn huyện là 87.141 người gồm 3 dân
tộc chủ yếu sinh sống là Thái, Mường, Kinh.
Có tạo độ địa lý:
90
0
- 42’- 45’’ đến 20
0
- 07’- 15’’ vĩ độ Bắc
104
0
- 54’- 33’’ đến 105
0
- 23’- 55’’ kinh độ Đông.
Phía Nam giáp Huyện Như Xuân và Tỉnh Nghệ An
Phía Tây giáp Tỉnh nghệ An và Tỉnh Hủa Phăn của nước bạn Lào
Phía Đông giáp huyện Thọ Xuân và Triệu Sơn của tỉnh Thanh Hóa
Phía Bắc giáp Huyện Ngọc Lạc và Lang Chánh của tỉnh Thanh Hóa.
1.1.1.2 Địa hình.
Địa hình huyện thấp dần từ Tây Bắc và Tây xuống khu vực phía Đông và Đông
Nam, có các dãy núi lớn như Bù Rinh, Tà Leo. Độ cao tuyệt đối của địa hình Thường
Xuân từ trên 1.000m đến dưới 100m. Do hệ thống núi vừa cao, vừa hiểm trở nên có
nhiều hệ thống sông ngòi chia cắt địa hình đã gay ra nhiều khó khăn trong xây dựng
các tuyến đường giao thông và sự giao lưu kinh tế giữa các vùng trên địa bàn huyện
Thường Xuân nhất là mùa mưa lũ. Do địa hình như vậy ta có thể chia thành 3 vùng địa
hình sinh thái như sau:
SV: Cầm Bá Chái 4 Lớp: Quản trị nhân lực KV19
Chuyên đề thực tập
- Vùng cao: Gồm 4 xã Bát Mọt, Yên Nhân, Xuân Lẹ, Xuân Chinh. Với tổng
diện tích tự nhiên là 49.936 ha, trong đó đất Nông nghiệp 1889,25ha; đất Lâm

C (từ tháng 12 đến tháng 3). Biên độ nhiệt giao động ngày đêm 9- 12
0
C.
Nhiệt độ cao nhất năm từ 37
0
C – 38
0
C ( tháng 6,7,8 ). Nhiệt độ thấp nhất nhiều năm
xuống tới 4
0
C - 3
0
C ( tháng 1,2,3 )
1.1.2 Tài nguyên thiên nhiên
Thường Xuân có tổng diện tích tự nhiên là 111.323,79ha, trong đó: đất nông
nghiệp 99.148,2ha, chiếm 89,06%; đất phi nông nghiệp 7.168,62ha, chiếm 6,44%;
SV: Cầm Bá Chái 5 Lớp: Quản trị nhân lực KV19
Chuyên đề thực tập
đất chưa sử dụng 5.006,97ha, chiếm 4,5%. Đất sản xuất chỉ có 8.730,24ha, chiếm
7,84% diện tích đất tự nhiên
1.1.2.1 Tài nguyên nước.
Thường Xuân có hệ thống sông ngoài khá phong phú, là nguồn tài nguyên lớn về
nguồn nước tưới đối với nông nghiệp; hàng năm tổng lượng nước sông, suối cung
cấp cho vùng ước đạt 23 triệu m³ nước. Tuy nhiên, do địa hình bị chia cắt nhiều, độ
dốc lớn nên lượng nước phân bố không đều, có nơi thừa nhưng có nơi lại thiếu.gồm
có các sông như sau:
- Sông Chu bắt nguồn từ Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào chảy qua huyện có
chiều dài 50km
- Sông Đặt chảy qua huyện có chiều dài 34km
- Sông Đằn chảy qua huyện có chiều dài 42km

như: Tổng diện tích rừng 90.417,96ha, đa số thuộc loại rừng hỗn giao. Trong đó,
cây quế 210,7 ha; cây luồng 3.967,6 ha; cây phân tán 1.583.000 cây; bảo vệ 52.700
ha, khoanh nuôi 14.300 ha, chăm sóc 4.413 ha.
Thường Xuân là vùng nguyên liệu lớn các loại cây công nghiệp ngắn ngày: mía,
sắn cung cấp nguyên liệu cho nhà máy đường Lam Sơn và nhà máy chế biến tinh
bột sắn Như Xuân. Hiện nay, huyện đang có chủ trương quy hoạch 1 phần diện tích
đất có tầng canh tác dày, dộ dốc nhỏ sang trồng cây Cao su.
1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội huyện
Thường Xuân là huyện miền núi đặc biệt khó khăn của Thanh Hóa, nền kinh
tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp. Cơ cấu kinh của huyện đã có
sự chuyển dịch theo hướng phù hợp với định hướng cơ cấu kinh tế chung của tinh
và cả nước song vẫn ở mức thấp so với mức tăng trưởng chung của toàn tỉnh. Hiện
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm Nông- lâm nghiệp, tăng Công nghiệp-
xây dựng, Dịch vụ- thương mại
SV: Cầm Bá Chái 7 Lớp: Quản trị nhân lực KV19
Chuyên đề thực tập
Bảng số liêu cơ cấu kinh tế.
STT Chỉ tiêu Đơn vị 2007 2008 2009 2010
1 Tổng GDP % 6,8 7,3 11,8 14,5
2 Nông- Lâm nghiệp % 52,3 48 42 40,6
3 Công nghiệp- Xây dựng % 24,1 26,6 28,8 29,2
4 Thương mại- Dịch vụ % 23,6 25,4 29,2 30,2
( Nguồn: Phòng Lao động thương binh và xã hội Thường Xuân )
Qua bảng số liệu về cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện Thường Xuân, ta thấy
tốc độ tăng trưởng kinh tê GDP ở mức khá, năm 2007 6,8 % đến năm 2010 đạt
14,5% tăng hơn gấp 2 lần. Trong đó ngành Thương mai- Dịch vụ tăng nhiều hơn so
với Công nghiệp- Xây dựng ( cụ thể năm 2007 TM- DV là 23,6% lên 30,2% năm
2010, còn Công nghiệp- XD năm 2007 24,1% lên 29,2% năm 2010 ) còn ngành
Nông- Lâm nghiệp có xu thế giảm năm 2007 52,3% xuông còn 40,6% năm 2010.
Nhưng kết quả đạt được như trên chứng tỏ sự chuyển dịch kinh tế trên địa

+ Trình độ sản xuất của người dân: Còn lạc hậu, thiếu thông tin về khoa học
kỹ thuật, thị trường, giá cả.
- Trồng trọt: Tổng diện tích gieo trồng 10.475,89 ha, trong đó, cây lúa 4650,3
ha, cây Ngô 889,04 ha, cây trồng khác: 111 ha (Khoai lang 158 ha, sắn 1646,15 ha,
rau đậu các loại 343,30ha, đậu tương 174,57 ha, lạc 443,92 ha, mía 2.177,86 ha,
vừng 28,75 ha).
Năng suất một số cây trồng chủ yếu: Lúa đạt 45,1 tạ/ha; ngô 45,2 tạ/ha; sắn
100 tạ/ha =88%; khoai lang 50,3 tạ/ha; đậu tương 15,5 tạ/ha; lạc13,4 tạ/ha; vừng 3
tạ/ha; mía 650 tạ/ha. Sản lượng cây lương thực có hạt: 24.392 tấn.
- Chăn nuôi: Là huyện có tiềm năng, thế mặnh về chăn nuôi gia sú, gia
cầm. Tuy nhiên tập quán chăn nuôi còn lạc hậu, chăn nuôi đại gia súc (trâu, bò)
còn thả tự do vào rừng; chăn nuôi lợn, gà và các loại vật nuôi khác còn nhỏ lẻ,
không có điều kiện đầu tư cho chăn nuôi nên hiệu quả không cao. Chưa đáp ứng
nhu cầu thực phẩm tại chỗ cho đồng bào, đặc biệt là đồng bào vùng cao. Tổng
đàn gia súc, gia cầm 387.337 con, trong đó, trâu 19.001 con, bò 5.945 con, lợn
30.743 con, gia cầm 331.648 con.
Nhìn chung chất lượng và tốc độ phát triển đàn gia súc gia cầm còn thấp, công tác
thú y và dịch vụ còn yếu kém.
1.3.1.2 Sản xuất Lâm nghiệp.
SV: Cầm Bá Chái 9 Lớp: Quản trị nhân lực KV19
Chuyên đề thực tập
Kinh tế lâm nghiệp đang được khôi phục và phát triển, từng bước hình thành
và phát triển các trang trại đồi rừng, vườn rừng, trong đó đã có khu vườn rừng tập
trung. Công tác trồng rừng tập trung, chăm sóc rừng trồng, rừng khoanh nuôi tái
sinh và rừng đầu nguồn đạt kết quả tốt, tỷ lệ phủ xanh đạt 66,7% góp phần cải thiện
môi trường sinh thái, hạn chế chống xói mòn, rửa trôi đất, tạo cảnh quan thiên nhiên
phát triển bền vững.
Giá trị sản xuất hàng năm đạt 29.742,5 triệu đồng. Ngành sản xuất lâm
nghiệp của huyện đã trải qua nhiều năm khai thác nặng nề dẫn đến sự nghèo kiệt
của tài nguyên rừng.

bằng dân trí và điều kiện về kinh tế - xã hội, điều kiện giao thông đi lại khó khăn.
Do vậy, cũng chưa đem lại những hiệu quả thiết thực trong sản xuất nông lâm
nghiệp, giá trị tăng thêm do tác động của công tác khuyến nông chưa cao.
1.3.1.6 Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng.
Hiện tại trên địa bàn huyện quy hoạch và xây dựng 5 cụm công nghiệp, tiểu
thủ công nghiệp, làng nghề, giai đoạn 2006-2010, trong đó, 02 cụm công nghiệp sản
xuất đá xẻ và đá ốp lát xuất khẩu, 03 cụ công nghiệp chế biến đồ mộc dân dụng,
mây tre đan.
Ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, xây dựng đã giải quyết việc làm
cho 1.300 lao động chuyên và gần 1.000 lao động không chuyên. Tổng giá trị của
ngành đạt 96,2 tỷ đồng chiếm 26,4% tỷ trong kinh tế toàn huyện. Có thể nói đây là
ngành có nhiều lợi thế để phát triển do nguồn nguyên liệu dồi dào cung cấp ngay tại
chỗ cho phát triển như mây tre đan, đồ thủ công mỹ nghệ, sản phẩm chế biến từ cây
quế, hàng dệt thổ cẩm. Tuy nhiên, ngành tiểu thủ công nghiệp chưa phát triển tương
xứng với tiềm năng sẵn có. Nguyên nhân chính là do công tác đào tạo nghề, tiếp
cận, phân tích và đánh giá nhu cầu thị trường chưa chú trọng.
Hiện nay, công trình thủy lợi thủy điện Cửa Đặt sắp hoàn thành tạo điều kiện cho
huyện phát triển nhảy vọt trong phát triển công nghiệp, thương mại, du lịch. Đây là
nguồn lực chính tạo điều kiện cho huyện trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế
SV: Cầm Bá Chái 11 Lớp: Quản trị nhân lực KV19
Chuyên đề thực tập
1.3.1.7 Thương mại, dịch vụ, du lịch.
- Về hệ thống Thương mại: Hệ thống thương mại của huyện mỏng và thiếu.
Toàn huyện có 1 chợ huyện và 6 chợ cơ sở gắn với các cụm xã nhằm cung ứng,
giao lưu, trao đổi, mua bán hàng hóa, sản phẩm trên địa bàn. Cửa hàng Thương mại
miền núi là đơn vị cung ứng chính các hàng thiết yếu cho các xã miền núi, hệ thống
thương mại của huyện mỏng và thiếu.
- Về Du lịch: Thường Xuân là huyện có nhiều khu Di tích Lịch sử, đa dạng
văn hóa các dân tộc và cảnh đẹp thiên nhiên như: đền thờ Cầm Bá Thước, khu di
tích Hội thề Lũng Nhai, khu di tích sinh thái Cửa Đạt, khu Bảo tồn thiên nhiên

thôn thuộc các xã vùng 135 khu vực 2 như làng Đìn xã Thọ Thanh, Phú Vinh -
Ngọc Phụng .v.v. chưa có điện lưới quốc gia.
- Về bưu chính viễn thông: Trên địa bàn huyện có 4 trạm thu phát sóng
truyền hình, 17/17 xã có nhà văn hoá xã.
- Hệ thống nước sạch: Toàn huyện có 03 hệ thống cấp nước sạch (thị trấn,
Bù Đồn và Bát Mọt) và 25 bản được dùng nước từ các công trình cấp nước tự chảy.
Tuy nhiên mới chỉ có 35% dân được dùng nước sạch còn lại 65% dân phải dùng
nước khe suối, giếng khơi.
- Hệ thống xử lý chất thải: Toàn huyện chưa có công trình xử lý chất thải.
Nhìn chung, hệ thống hạ tầng kỹ thuật của huyện Thường Xuân còn yếu và thiếu.
Giao thông, thuỷ lợi, điện lưới quốc chưa được nhà nước quan tâm đầu tư đúng mức
nên chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế của huyện. Do đó nhiệm vụ đặt ra
cho mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong thời gian tới phải ưu tiên vốn đầu tư cho
xây dựng kết cấu hạ tầng, đặc biệt ưu tiên đầu tư cho các dự án xây dựng hạ tầng kinh
tế như đường giao thông đến các xã, đường liên xã, liên thôn, bản, công trình thủy lợi
đảm bảo nhu cầu tưới chủ động cho 85%-95% diện tịch đất canh tác nông nghiệp.
1.3.2 Phân tích các lĩnh vực xã hội
1.3.2.1 Công tác giáo dục - đào tạo.
Công tác giáo dục- đào tạo đã có nhiều chuyển biến tích cực, quy mô phát triển
học sinh của các ngành học, bậc học tương đối ổn định, tỷ lệ học sinh trong độ tuổi ra
lớp đạt tỷ lệ cao. . Đến nay, toàn huyện đã xây dựng được 8 trường chuẩn quốc gia,
chất lượng phổ cập giáo dục luôn được giữ vững, tỷ lệ phổ cập giáo dục tiểu học đúng
độ tuổi đạt 100%, phổ cập THCS đạt 90,2%, chất lượng giáo dục toàn diện có sự
chuyển biến; công tác xã hội hoá giáo dục được chú trọng và quan tâm hơn; chất
lượng đội ngũ từng bước được nâng cao.
SV: Cầm Bá Chái 13 Lớp: Quản trị nhân lực KV19
Chuyên đề thực tập
Hiện nay trên địa bàn toàn huyện có 65 trường , 1.106 lớp với 24.935 học sinh
ST
T

Trong những năm qua, công tác giáo dục và đào tạo có nhiều chuyển biến
tích cực ở các nhà trường, nhiều thầy cô giáo đạt giáo viên dậy giỏi cấp huyện, cấp
tỉnh. Số học sinh thi đỗ vào các trường Đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp
năm sau luôn cao hơn năm trước. Đến nay có 100% số xã đạt phổ cập giáo dục tiểu
học đúng độ tuổi và trung học cơ sở.
1.3.2.2 Dạy nghề.
Huyện Thường xuân có 1 Trung tâm GDTX và 1 Trung tâm dậy nghề (thành lập
2009 tại cửa đặt ) chịu trách nhiệm về giáo dục bổ túc văn hoá và đào tạo nghề cho lao
động tại huyện, song công tác đào tạo nghề tại Trung tâm này chưa thật sự mang lại hiệu
quả thiết thực trong đời sống sản xuất. Nguyên nhân là: Trung tâm chưa đa dạng hoá các
loại ngành nghề, ngành nghề được đào tạo không phù hợp với tiềm năng và đặc điểm của
địa phương, cơ sở vật chất phục vụ cho dạy nghề còn thiếu thốn, đội ngũ cán bộ giảng dạy
còn yếu và thiếu. Theo số liệu thống kê những năm gần đây số lao động được dạy nghề :
9.475/46.505 người, đạt 20%.
SV: Cầm Bá Chái 14 Lớp: Quản trị nhân lực KV19
Chuyên đề thực tập
1.3.2.3 Công tác y tế và chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhân dân.
Hiện nay, huyện Thường Xuân có 6/17 xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y
tế. Các hoạt động truyền thông dân số, giáo dục sức khoẻ cộng đồng có nhiều
chuyển biến tích cực, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên duy trì mức 0,87%; tỷ lệ trẻ em
dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn 28%. Công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ y, bác sỹ được
quan tâm. Toàn huyện có 1 bệnh viện đa khoa huyện và có 3 phòng khám đa khoa
ở các xã xa trung tâm, có 6/17 trạm y tế có bác sỹ. Trong những năm gần đây
ngành Y tế đã được Nhà nước đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị. Nhưng thực tế
chưa đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.
Còn nhiều Trạm y tế cơ sở hạ tầng, trang thiết bị thiếu thốn, số cán bộ có trình độ
chuyên môn còn yếu dẫn đến gặp khó khăn trong việc khám chữa bệnh và chăm
sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân.
1.3.2.4 Văn hóa, thể dục thể thao.

2
.
- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên bình quân 0,87%/năm.
Dân cư phân bố rất không đồng đều, tập trung phần lớn ở vùng thấp, càng lên
cao thì sự phân bố dân cư càng thưa thớt.
Bảng số liệu quy mô và cơ cấu lực lượng lao động theo lĩnh vực.
STT Chỉ tiêu Đơn vị 2006 2007 2008 2009 2010
1 Dân số trung bình Người 84.840 85.550 86.120 86.355 87.141
2 Dân số nông thôn Người 79056 80673 81226 81394 82.082
3 Tổng số lao động Người 45.531 46.202 46.505 46.834 47.210
3.1 LĐ trong lĩnh vực Nông-
lâm- ngư nghiệp
Người 32.953 34.320 34.383 31.552 29.224
3.2 LĐ trong lĩnh vực Dịch vụ Người 3.316 3.592 3.743 4.612 5.023
3.3 LĐ trong lĩnh vực Công
nghiệp
Người 873 1.065 1.342 2.053 3.230
3.4 LĐ trong lĩnh vực Xây dựng Người 576 698 851 1.843 2.576
3.5 LĐ trong lĩnh vực thủ công
lành nghề
Người 3.071 3.137 3.307 4.472 5.144
3.6 LĐ trong lĩnh vực nông
nghiệp ở địa phương
Người 4.742 3.390 2.576 2.302 2.013
( Nguồn: Phòng lao động thương binh và xã hội )
SV: Cầm Bá Chái 16 Lớp: Quản trị nhân lực KV19
Chuyên đề thực tập
Qua bảng số liệu quy mô và cơ cấu lao động từ năm 2006 đến 2010 có
những ngành nghề có lao động xu hướng tăng và giảm khác nhau. Các lĩnh vực
có số lao động tăng là lĩnh thủ công lành với 3.071 người năm 2006 lên đến 5.144

2
Có chứng
chỉ nghề
1.830 4,40 2.250 5,32 3.360 7,89 4.525 10,54
5.668
3
13,12
3
Sơ cấp
2.579 6,20 3.553 8,40 3.842 9,02 4.302 10,02 4.799 11,08
4
Trung cấp
nghề
998 2,40 1.040 2,46
1.097
3
2,52 1.159 2,70 1.343 3,10
5
Cao đẳng
nghề
607 1,46 698 1,65 792 1,86 816 1,90 845 1,95
6
Đại học
225 0,54 262 0,62 302 0,71 309 0,72 325 0,75
Tổng số 41.592 100 42.293 100 42.590 100 42.932 100
43.31
6
100
( Nguồn: Phòng lao động thương binh và xã hội )
SV: Cầm Bá Chái 17 Lớp: Quản trị nhân lực KV19

Thái Bình Dương của liên Hợp Quốc ). “ Dân cư nghèo là một bộ phận dân cư
không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những
nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế, xã hội và
phong tục tập quán của địa phương ”. Từ nhìn nhận trên, Liên Hợp Quốc đã đưa ra
hai khái niệm chính là nghèo tương đối và nghèo tuyệt đối.
- Nghèo tương đối: Là sự nghèo khổ thể hiện ở sự bất bình đẳng trong quan hệ
phân phối của cải xã hội giữa các nhóm xã hội, cần tầng lớp dân cư và vùng địa lý.
SV: Cầm Bá Chái 19 Lớp: Quản trị nhân lực KV19
Chuyên đề thực tập
- Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thảo
mãn những nhu cầu cơ bản rất tối thiểu để duy trì cuộc sống (ăn mặc, ở, nước sạch,
vệ sinh môi trường và chăm sóc y tế- giáo dục)
(Theo sách giáo trình kinh tế nguồn nhân lực)
2.1.1.2 Khái niệm về nghèo đói của Việt Nam
 Nghèo: Là tình trạng của một bộ phận dân cư chỉ có thể thảo mãn một
phần nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức trung
bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện. Và được chia thành
- Nghèo tương đối: Là trạng thái một bộ phân dân cư có mức sống dưới mức
sống trung bình của cộng đồng tại địa phương đang nghiên cứu.
- Nghèo tuyệt đối: Là trạng thái một bọ phận dân cư không có khả năng thỏa
mãn nhu cầu tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống. Nhu cầu tối thiểu là đảm bảo ở mức
tối thiểu, những nhu cầu cần thiết về ăn mặc ở và nhu cầu sinh hoạt hàng ngày gồm
văn hóa, y tế, giáo dục, đi lại và giao tiếp.
(Theo sách giáo trình kinh tế nguồn nhân lực)
 Khái niệm về đói: Theo tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên
Hợp Quốc. “ Đói là tình trạng một người được cung cấp mức tiêu dùng năng lượng
thấp hơn mức tối thiểu. Mức yêu cầu năng lượng tối thiểu là mức đủ duy trì cuộc
sống và thực hiện các hoạt động bình thường của con người”. Ở Việt Nam định
nghĩa “ Đói là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống tối thiểu và thu nhập
không đủ đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trí cuộc sống ”. Đó là những hộ daancu

cũng là cách nhằm loại bỏ yếu tố giá cả, trên cơ sở đó có thể so sánh mức thu nhập
của người dân theo thời gian và không gian khác nhau.
(Theo:Sách giáo trình kinh tế nguồn nhân lực)
♦ Hộ thoát nghèo: Là những hộ mà sau quá trình thực hiên xóa
đói giảm nghèo cuộc sống đã khá lên và mức thu nhập đã ở trên mức nghèo đói.
Trong khi đó hộ thoát đói đồng thời hẳn nghèo, ở trên chuẩn nghèo, nhưng đa số
trường hợp thoát nghèo đói nhưng vẫn còn ở trong tình trạng nghèo. Số hộ nghèo
giảm hay tăng trong một khoảng thời gian là hiệu số giữa tổng số hộ nghèo ở thời
SV: Cầm Bá Chái 21 Lớp: Quản trị nhân lực KV19
Chuyên đề thực tập
điểm đầu và cuối kỳ như vậy giảm số hộ đói nghèo khác với khái niếm số hộ vượt
nghèo hay thoát nghèo. Số hộ thoát nghèo là số hộ ở đầu kỳ nhưng đến cuối kỳ
vượt ra khỏi ngưỡng nghèo.
♦ Hộ tái nghèo: Là những hộ vốn dĩ trước đây thuộc hộ nghèo
nhưng đã vượt nghèo nhưng do nguyên nhân nào đó lại rơi vào tình cảnh đói
nghèo. Thực tế cho thấy, hộ tái nghèo do nhiều nguyên nhân hay thiên tai đến bất
ngờ. Hộ nghèo mới là những hộ ở đầu kỳ không thuộc danh sách đói nghèo nhưng
đến cuối kỳ lai rơi vào đói nghèo. Như vậy hộ tài nghèo bao gồm hộ nghèo chuyển
từ nơi khác đến, hộ nghèo do tách hộ, hộ trung bình khá nhưng vì một lý do nào
đó lai trở thành hộ tái nghèo.
2.1.1.3 Xác định chuẩn nghèo
Chuẩn nghèo Việt Nam là một tiêu chuẩn để đo lường mức độ nghèo của các
hộ dân tại Việt Nam. Chuẩn này khác với chuẩn nghèo bình quân trên thế giới.
 Chuẩn nghèo giai đoạn 2001- 2005.
Theo quyết định 1143/2000/QĐ- LĐTBXH ngày 01/11/2000 của Bộ trưởng
Bộ thương binh- thương binh và xã hội chuẩn nghèo 2001- 2005 được quy định
theo mức bình quân đầu người trong hộ cho từng vùng khác nhau như sau:
- Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: 80.000đồng/người/tháng.
- Vùng nông thôn đồng bằng : 100.000đồng/người/tháng.
- Vùng thành thị : 150.000đồng/người/tháng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status