SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ HÌNH THỨC GIÚP TRẺ
4-5 TUỔI HIỂU VỀ GIÁ TRỊ DINH
DƯỠNG VÀ VSATTP THÔNG
QUA CÁC HOẠT ĐỘNG A - ĐẶT VẤN VỀ
Có câu nói :
“ Trẻ em hôm nay thế giới ngày mai”
Trẻ là tương lai của đất bước, là mối quan tâm chung của toàn xã hội và
cũng là nơi gửi gắm niềm tin, hy vọng, hạnh phúc của mọi gia đình.
Thật vậy, có được một đứa trẻ thông minh, khỏe mạnh là niềm mong
ước của tất cả mọi người. Để đạt được mong ước ấy thì những người làm
cộng tác Giáo Dục Mầm Non phải thực hiện một quá trình chăm sóc – giáo
dục hết sức công phu. Trong quá trình đó, có rất nhiều điều khiến chúng ta
băn khoăn, trăn trở. Làm thế nào để có được một đứa trẻ thông minh – khỏe
mạnh? Chăm sóc – giáo dục trẻ thế nào cho tốt? Phải làm gì để trẻ phát triển
toàn diện vệ thể chất – nhận thức - ngôn ngữ - thẩm mĩ – quan hệ tình cảm xã
hội? Là một giáo viên mầm non tôi nhận thấy muốn có được một đứa trẻ phát
triển toàn diện thì điều đầu tiên cần nói đến đó là “sức khỏe”. Có sức khỏe là
tất cả - không sức khỏe là không có gì. Vì vậy trẻ em cần phải được cung cấp
đấy đủ dinh dưỡng để phát triển toàn diện về thể lực và trí tuệ.
tích hợp trong các môn học khác và các hoạt động khác nhau.
Bên cạnh đó, đặc thù trẻ ở lứa tuổi mầm non là học mà chơi, chơi mà học,
học phải có đồ dùng trực quan quan sát thì trẻ mới có thể khắc sâu. Vậy việc
giáo dục dinh dưỡng cho trẻ quả thật là rất khó và trừu tượng. Nên không thể
truyền tải trực tiếp được mà phải thông qua các hoạt động để giúp trẻ lĩnh
hội được những kiến thức về giá trị dinh dưỡng .
Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài “ Một số hình thức giúp trẻ 4-5
tuổi hiểu về giá trị dinh dưỡng và VSATTP thông qua các hoạt động”.
B – GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Cơ sở lí luận:
Con người có sức khỏe có muôn vàn ước mơ, người không có sức khỏe
chỉ có một ước mơ duy nhất là “Sức khỏe”. Thật vậy, sức khỏe là vốn quý
nhất của còn người, có sức khỏe là có tất cả, là điều kiện quyết định đến sự
nghiệp tiền đề tương lai.
Ở lứa tuổi mầm non quá trình tăng trưởng của trẻ diễn ra rất nhanh chóng
nhưng cơ thể của trẻ lại quá non nớt, trẻ dễ chịu ảnh hưởng của những tác
động bên ngoài, sức đề kháng của trẻ kém cho nên trẻ dễ mắc các loại bệnh
nguy hiểm đến tính mạng. Do vậy trẻ chỉ có thể phát triển thể lực tốt nếu như
người lớn chú ý đến việc chăm sóc giữ gìn sức khỏe, bảo vệ hệ thần kinh
khỏe mạnh cho trẻ. Khi đứa trẻ khỏe mạnh, hồn nhiên sẽ có ảnh tốt đến phát
triển chung của trẻ. Giáo dục sức khỏe càng có ý nghĩa hơn, là khâu then
chốt trong công tác chăm sóc – giáo dục trẻ vì chính những năm tháng đầu
tiên của sống, sức khỏe tốt sẽ là một điều kiện tốt cho cuộc sống sau này của
trẻ.
Trong văn kiện Đại hội lần thứ IV Ban chấp hành TW Đảng cộng sản
Việt Nam khoá 7 tháng 12/1993 khẳng định: “ Giáo dục đào tạo là quốc sách
phát triển ở trẻ nhỏ. Dinh dưỡng không chỉ ảnh hưỡng trực tiếp tới sự phát
triển cơ thể và trí tuệ ở trẻ nhỏ mà còn ảnh hưởng tới sự phát triển sau này.
Trong cuộc sống con người, dinh dưỡng là một trong những yếu tố
quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới sự tồn tại và duy trì sự sống.
Mỗi con người cần có dinh dưỡng để tạo ra nguồn năng lượng cho
cơ thể hoạt động sinh trưởng và phát triển.Các dinh dưỡng đó lấy từ đâu?
Đều lấy từ các loại thức ăn cung cấp qua khẩu phần ăn hàng ngày.
Trong giai đoạn phát triển, trẻ ở độ tuổi khác nhau thì giai đoạn sinh
trưởng phát triển của chúng cũng khác nhau nên tâm lí và sinh lí cũng không
giống nhau và có sự khác biệt về nhu cầu dinh dưỡng. Do vậy, những người
chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non cần tính tới đặc điểm dinh dưỡng ở mỗi
giai đoạn của trẻ, phải có phương pháp, sự quan tâm chăm sóc đặc biệt và cả
sự lựa chọn đúng đắn. Vì vậy mỗi đứa trẻ phải được cung cấp đầy đủ năng lượng một cách phù hợp. Cơ thể trẻ sẽ dùng số năng lượng này cho các hoạt
động hô hấp, tiêu hóa, bài tiết, thần kinh để duy trì phát triển sự sống. Vì vậy
trẻ phải có chế độ ăn khoa học, hợp lí và đầy đủ các chất dinh dưỡng.
Chương trình lồng ghép giáo dục dinh dưỡng vào giảng dạy cho trẻ
mầm non giúp trẻ hiểu và nhận biết về lợi ích của giá trị dinh dưỡng đối với
cơ thể con người. Nên việc tiến hành giáo dục dinh dưỡng – vệ sinh an toàn
thực phẩm cho trẻ mầm non sẽ góp phần quan trọng trong chiến lược đào tạo
và phát triển con người, tạo ra một lớp người mới có sự hiểu biết đầy đủ về
vấn đề dinh dưỡng – vệ sinh an toàn thực phẩm, biết lựa chọn ăn uống đúng
cách để đảm bảo sức khỏe của mình.
Qua đó, giáo dục dinh dưỡng giúp trẻ hiểu được giá trị dinh dưỡng
của các loại thức ăn đồng thời hướng dẫn trẻ cách sử dụng các chất đạm,
đường, béo, vitamin, nước, muối khoáng để giúp tăng thêm dinh dưỡng, năng
lượng cho cơ thể. Giáo dục dinh dưỡng còn cung cấp cho trẻ biết những chất
đó có trong các thực phẩm khác nhau: Gạo, thịt, trứng, sữa, rau,… Giáo dục
* Đối với trẻ:
- Trẻ ngoan ngoãn, có nề nếp, nhiều cháu rất ham học hỏi, khám phá.
- Trẻ hứng thú, tích cực tham gia các hoạt động.
2. Khó khăn
- Số lượng trẻ quá đông nên ảnh hưởng đến việc chăm sóc giáo dục trẻ nói
chung và giáo dục dinh dưỡng – vệ sinh an toàn thực phẩm nói riêng.
- Khả năng tiếp thu của trẻ không đồng đều vì lớp còn một số cháu thuộc lứa
tuổi mẫu giáo bé, một số cháu chậm
- Qua khảo sát đầu năm lớp có 3 cháu suy dinh dưỡng, các cháu suy dinh
dưỡng thường ăn chậm, không ăn đa dạng thức ăn, chưa biết cách nhai nên
giáo viên gặp khó khăn trong việc chăm sóc trẻ.
- Giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm không phải là môn học
độc lập như các hoạt động khác như: Làm quen văn học, làm quen âm
nhạc…mà phải lồng ghép tích hợp trong các môn học và các hoạt động khác.
III. Các hình thức thực hiện : Để giúp trẻ 4 – 5 tuổi hiểu và khắc sâu được các kiến thức về giá trị
dinh dưỡng – VSATTP tôi đã tìm tòi ra một số hình thức thông qua các hoạt
động giáo dục trẻ ở mọi lúc mọi nơi.
Trong quá trình giáo dục, giáo viên sử dụng chủ yếu hai hình thức
sau: hình thức trong tiết học và hình thức ngoài tiết học.
1. Hình thức trong tiết học :
- Với hình thức này, giáo viên đã cung cấp cho trẻ biết tên gọi, đặc điểm,
cấu tạo và giá trị dinh dưỡng của các thực phẩm với cơ thể con người.
- Giúp trẻ biết được thành phần, tác dụng của các chất prôtit, lipít, gluxít,
các loại vitamin và muối khoáng với cơ thể con người
- Thông qua hình thức này giáo viên sẽ củng cố, hệ thống hóa, chính xác
hóa những kiến thức về dinh dưỡng mà trẻ đã làm quen ở mọi lúc mọi
nơi.
Hoạt động khám phá khoa học (về một số loại rau)
Hoạt động khám phá khoa học (về một số món ăn) * VD: Với đề tài:“ Tìm hiểu về con gà, con vịt” - Chủ điểm động vật
Tôi lồng ghép nội dung giáo dục dinh dưỡng – VSATTP bằng cách sử dụng các
câu hỏi đàm thoại về dinh dưỡng như sau:
- Con gà mái, con vịt cái là loại vật đẻ ra gì?
- Quả trứng cung cấp cho chúng ta chất gì?
- Thịt gà và thịt vịt cung cấp chất gì?
- Những món ăn được chế biến từ các thực phẩm đó?
người . Tôi say sưa nấu ăn cho mọi người. Ngày và đêm tôi lo rau,
hành,
mắm, muối. Còn tôi lo cá, tôm, trứng, thịt, lạc, đậu. Còn tôi lo rán, luộc,
kho, xào, hấp, nướng.
Tôi say sưa nấu ăn cho mọi người. Tôi say sưa
nấu ăn cho mọi người. Tôi say sưa nấu ăn cho mọi người.
- Tôi sử dụng một số câu hỏi đàm thoại:
+ Các con vừa hát bài hát gì?
+ Trong bài hát người đầu bếp cần những thực phẩm gì?
+ Các thực phẩm đó cung cấp chất gì ?
+ Các thực phẩm đó chế biến như thế nào?
+ Trước khi ăn các con phải làm gì ?
+ Cách ăn các món đó như thế nào ?
2. Các hình thức ngoài tiết học:
- Hình thức này tạo điều kiện cho trẻ được vận động.
vậy?
+ Khi nấu chín xong thì phải làm gì? Thăm quan nhà bếp
2.2. Hoạt động góc:
Tổ chức giáo dục dinh dưỡng ở các trò chơi trong góc phân vai
- Tôi kết hợp với nhà bếp cho trẻ cùng làm như:
+ Cho trẻ nhặt rau muống, rau cải giúp các bác cấp dưỡng qua đó giáo dục trẻ về
các chất dinh dưỡng có trong đó.
- Với chủ đề “Thực vật”: Ở góc “Bé tập làm nội trợ” tôi cho trẻ thực hiện các hoạt
động sau:
+ Trẻ tập nhặt rau, nhặt đỗ.
+ Tập pha nước chanh, nước cam.
+ Làm món quả chín ướp đường.
+ Trẻ tập cắm hoa.
+ Trẻ tập gói nem.
+ Trẻ học pha nước chấm
+ Trẻ bày mâm ngũ quả.
+ Trẻ chọn các nguyên liệu để làm bánh chưng.
+ Xếp quy trình cách làm món ăn.
- Tạo các mảng mở để trẻ hoạt động trong góc đó cùng chơi.
+ Phân nhóm các loại thực phẩm giàu chất đạm, chất béo, chất bột đường,
vitamin và muối khoáng.
+ Cách chọn thực phẩm tươi, ngon.
+ Các bước trước khi nấu được một món ăn ngon
+ Cách bảo quản thực phẩm.
- Thông qua hoạt động góc trẻ được tập làm các công việc như của người lớn và
giúp trẻ hiểu rõ hơn giá trị dinh dưỡng của một số loại thực phẩm.
hình thức ôn luyện các bài đồng dao, ca dao, bài vè đã học, nhằm giúp trẻ khắc
sâu được kiến thức mà vẫn cảm giác nhẹ nhàng với trẻ.
* VD1 : Tôi cho trẻ đọc bài : đồng dao về củ để gây hứng thú
Đồng dao về củ Với hệ thống câu hỏi
Ngồi chơi trên đất
- Bài đồng dao nói về củ gì?
Là c
ủ
su hào
-
Các lo
ạ
i c
ủ
đó cung c
ấ
p ch
ấ
t gì?
- Kể tên các loại quả có chứa nhiều chất vitamin
- Có loại quả có thể ăn luôn khi chín, có loại quả khi chưa chín còn có thể chế
biến thành các món ăn như: canh chuối.
- Khi ăn các loại quả đó thì ăn như thế nào? Trước khi ăn thì phải làm gì?
- Vì sao phải ăn nhiều quả chín?
3. Kết hợp với phụ huynh:
- Cung cấp các sách báo, tài liệu về giáo dục dinh dưỡng và VSATTP cho phụ
huynh cùng kết hợp với giáo viên để giáo dục trẻ.
- Trao đổi với phụ huynh về các kỹ năng vệ sinh trước và sau khi ăn của trẻ để
phụ huynh tiếp tục rèn trẻ thực hiện khi ở nhà.
- Trò chuyện với phụ huynh trong giờ đón trả trẻ về các kiến thức giáo dục dinh
dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm mà giáo viên dạy trẻ ở lớp để phụ huynh
giáo dục khi trẻ ở nhà như: Trong bữa ăn phụ huynh hỏi trẻ: Tên món ăn, các chất
dinh dưỡng có trong món ăn…
- Vận động phụ huynh sưu tầm đóng góp tranh ảnh, câu chuyện, bài hát, thơ, băng
đĩa có nội dung giáo dục dinh dưỡng và VSATTP cho giáo viên để giáo viên dạy
trẻ trên lớp.
- Giáo viên trò chuyện với những phụ huynh làm công việc về y tế để có một số
hiểu biết về dinh dưỡng và VSATTP, các chất dinh dưỡng cần và đủ cho một cơ
thể khỏe mạnh.
- Khuyến khích trẻ tập làm nội trợ, phụ giúp mẹ nấu cơm như: nhặt rau, pha nước
chanh, nước cam…
- Phối hợp với phụ huynh tổ chức các hội thi, triển lãm các món ăn để góp phần
làm phong phú thêm các hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ.
4. Sưu tầm, sáng tạo một số trò chơi giáo dục dinh dưỡng - VSATTP
Trong quá trình tổ chức giáo dục dinh dưỡng cho trẻ thông qua các hoạt động,
ngoài các hình thức trên tôi còn áp dụng một số trò chơi nhằm giúp trẻ hiểu biết
thêm về dinh dưỡng:
* Trò chơi 5: “Tìm nguồn gốc thực phẩm”
- Cách chơi: Chia trẻ thành 2 đội chơi, trẻ sẽ phải lên tìm thực phẩm và nguồn gốc
của thực phẩm đó nối thành từng cặp như: thịt gà – con gà, sữa bò – con bò…Sau một thời gian đội nào nối được chính xác và được nhiều hơn đội đó sẽ chiến
thắng.
- Luật chơi: Trẻ phải nối đúng thực phẩm với nguồn gốc của thực phẩm đó.
* Trò chơi 6: “Các đầu bếp tài ba”
- Cách chơi: Chia trẻ thành 3 nhóm chơi, khi cô nói tên thực phẩm nào thì trẻ phải
nói được tên các món ăn chế biến từ các loại thực phẩm đó.
- Luật chơi: Nói đúng các món ăn chế biến từ loại thực phẩm đó. Không được
nhắc lại món ăn mà đội bạn đã nêu.
* Trò chơi 7: ‘’Tôm, cá, cua thi tài”
- Cách chơi: Chia trẻ thành 3 nhóm chơi(tôm, cua, cá. Trẻ đội mũ tôm, cua, cá).
Cả lớp hát : Trời mưa rào rào, ao sâu đầy nước, tôm, cua, cá rủ nhau đi bơi.
+ Nhóm Cua hát : Cua là chúng tôi có hai càng mà bò ngang là ngang tám cẳng,
hỏi mấy bạn đây có ai biết chúng tôi được làm thành món ăn gì ?
+ Các nhóm còn lại nói : Canh cua, bún cua, nem cua…
+ Nhóm tôm hát : Còn chúng tôi đây tên gọi là Tôm, có hai là hai cái râu rất dài
mà bơi lùi là lùi nhanh ghê, hỏi các bạn đây có ai biết chúng tôi được làm thành
món ăn gì ?
+ Các nhóm còn lại nói :Bánh tôm, tôm rán, tôm hấp, canh tôm …
+ Nhóm cá hát : Nào các bạn đã giới thiệu hết chưa, để chúng tôi sẽ giới thiệu sẽ
giới thiệu nhóm cá nào. Chúng tôi có 2 cái vây tựa như mái chèo, vẫy tròn tròn
mà bơi rất khéo, hỏi các bạn đây có ai biết chúng tôi được làm thành món ăn gì ?
+ Các nhóm khác cùng nói : Cá nướng, cá kho, cháo cá …
1,5% 1,5 %
Nhìn vào bảng so sánh số liệu ta thấy sức khỏe của trẻ đã có sự khác biệt, tỷ lệ trẻ
suy dinh dưỡng đã giảm, trẻ béo phì đứng cân. Như vậy các hình thức của tôi đã
có tác dụng đáng kể.
C- KẾT THÚC VẤN ĐỀ
1. Kết luận :
Giáo dục dinh dưỡng – vệ sinh an toàn thực phẩm là vấn đề quan trọng và
cấp thiết trong quá trình phát triển của trẻ. Sau khi áp dụng các hình thức này tại
trường, tôi thấy trẻ hiểu và khắc sâu hơn giá trị dinh dưỡng – vệ sinh an toàn thực
phẩm của các loại thực phẩm đối với sự phát triển của cơ thể đối với sự phát triển
của con người.Trẻ biết được nhiều loại thực phẩm, các loại thực phẩm đó cung
cấp dinh dưỡng gì, chất dinh dưỡng đó tốt cho cơ thể con người như thế nào. Từ
đó, trẻ có thói quan tốt trong ăn uống:Không kén ăn, lười ăn, ăn uống hợp vệ sinh,
văn minh.
Tôi thấy vấn đề giáo dục dinh dưỡng cho trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi nói riêng và
chuyên môn nghiệp vụ, luôn mạnh dạn tham gia giảng dạy các chuyên đề các cấp
để rút ra kinh nghiệm cho bản thân.
+ Biết phối hợp giữa gia đình và nhà trường, theo dõi sức khoẻ và khả năng học
tập của trẻ để cùng nhau giáo dục và chăm sóc trẻ theo khoa học, để đạt được kết
quả cao nhất.
3. Kiến nghị :
Để giúp trẻ hiểu giá trị dinh dưỡng - vệ sinh an toàn thực phẩm đối với trẻ
thông qua các hoạt động tôi xin có một số kiến nghị sau :
* Đối với trường:
- Tạo điều kiện cho giáo viên tham quan học tập ở các đơn vị bạn nhiều hơn
nữa để trao đổi, học hỏi kinh nghiệm.
- Tăng cường tổ chức các buổi giao lưu với chị em đồng nghiệp trong nhà
trường để cùng trau dồi kiến thức về dinh dưỡng làm thế nào để trẻ có hiểu biết
nhiều hơn về dinh dưỡng vì nó rất cần thiết cho cơ thể.
* Đối với Phòng Giáo dục:
- Đầu tư xây dựng trường mới để có một ngôi trường khang trang, thuận lợi
cho việc chăm sóc giáo dục trẻ.
- Cần tăng cường hơn nữa các lớp tập huấn, bồi dưỡng về chuyên đề giáo
dục dinh dưỡng. - Tổ chức các cuộc thi về giáo dục dinh dưỡng cho trẻ tham gia.
Trên đây là kinh nghiệm nhỏ của tôi, bản thân tôi thấy vẫn cần phải học hỏi
nhiều hơn nữa để áp dụng tốt cho công tác chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non.
Tôi rất mong được sự đóng góp của ban thi đua và các bạn đồng nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tài liệu tham khảo
1. Giáo trình Giáo dục dinh dưỡng.
2. Các hoạt động Giáo dục dinh dưỡng – Sức khỏe cho trẻ mầm non.
3. Giáo dục Mầm non.
4. Tâm lý học trẻ em ở lứa tuổi mầm non.
5. Giáo trình vệ sinh trẻ em.
6. Dinh dưỡng cho trẻ Mầm non.
7. Giáo dục dinh dưỡng – sức khỏe cho trẻ mầm non theo hướng tích hợp.