Thực trạng nhu cầu chăm sóc sức khỏe sinh viên và khả năng đáp ứng hoạt động y tế trường học tại Trường Đại học Y Hà Nội - Pdf 26

ĐẶT VẤN ĐỀ
Con nguời là người là nguồn tài nguyên quý báu của xã hội, con người
quyết định sự phát triển của đất nước trong đó sức khỏe là vốn quý nhất của
mỗi con người. Đảng và Chính phủ ta đã có nhiều chính sách chăm sóc và
bảo vệ sức khỏe nhân dân đặc biệt là chăm sóc sức khỏe tuổi thanh thiếu niên,
học sinh, sinh viên là nguồn lực chủ yếu cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện
đại hóa đất nước.
Môi trường sống như điều kiện tự nhiên, lối sống hay nghề nghiệp là
yếu tố thường xuyên tác động ảnh hưởng đến sức khỏe của tất cả mọi người
trong đó có học sinh sinh viên đặc biệt trong thời kỳ tiến hành công nghiệp
hóa hiện đại hóa của đất nước ta hiện nay [7]. Nhận thức rõ thực tế đó, Đảng
và Chính phủ đã chỉ đạo chặt chẽ công tác chăm sóc sức khỏe bảo vệ nhân
dân thông qua chiến lược chăm sóc sức khỏe nhân dân đến năm 2010. Đồng
thời ngày 22/10/2002, BCHTW Đảng đã ra chỉ thị số 06-CT/TW vê củng cố
và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở nhằm tăng cường hơn nữa công tác chăm
sóc sức khỏe ban đầu, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế. Do đó phát triển y tế
trường học là một trong những nhiệm vụ cơ bản của chiến lược.
Công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe học sinh tại nước ta được triển
khai rất rộng rãi trên khắp đất nước nhưng các hoạt động thường tập trung
vào khối học sinh phổ thông như công tác dinh dưỡng – thực phẩm, công tác
nha học đường, phòng chống các bệnh mắt hột, nước sạch và vệ sinh môi
trường, phòng chống tai nạn thương tích, nghiờn cứu về cong vẹo cột sống.
Trong khi đó những nghiên cứu về sức khỏe của sinh viên các trường đại học
thường rất ít và đặc biệt là ở sinh viên trường đại học Y còn rất hạn chế.
Sinh viên trường đại học Y là những thanh niên được đào tạo để trở
thành những cán bộ chăm sóc sức khỏe cho đất nước trong tương lai, chương
1
trình đào tạo đặc biệt về thời gian cũng như nội dung và phương pháp học tập.
Ngay trong quá trình học tập tại hầu khắp các khoa phòng của các bệnh viện,
họ dã tiếp xúc với rất nhiều yếu tố nguy cơ ảnh hưởng tới sức khỏe như các
bệnh truyền nhiễm: Lao, HIV/AIDS, Viêm gan…Mặc dù được trang bị kiến

chuyên khoa. Trọng tâm công tác và phòng chống bệnh dịch trong nhà
trường, tổ chức quản lí cụng tác tiêm phòng.
Đến thế kỉ 20 , Y tế học đường đã phát triển tiến bộ với nhiều nghiên
cứu có giá trị như phát hiện ra hiện tượng “ gia tốc” phát triển cơ thể trẻ em ở
lứa tuổi học đường; nghiên cứu về xây dựng trường sở, chiếu sáng và trang
thiết bị đồ dùng học tập giảng dạy; nghiên cừu về sự mệt mỏi của trẻ em trong
học tập; những công trình qui mô về sức chịu đựng về sinh lí của trẻ em trong
luyện tập thể thao.
Bảo vệ và nâng cao sức khỏe trường học trong những năm gần đây đã
trở nên phổ biến và chiếm vị trí vững chắc trong sức khỏe cộng đồng. Năm
3
1995 tổ chức WHO đã tổ chức hội thảo quốc tế nghiên cứu như: Giáo dục vệ
sinh trong nhà trường. Dịch vụ y tế trong trường học và ngoài trường học.
Dịch vụ y tế trong trường học, các loại hình dịch vụ y tế cần thiết nhất. Cơ
quan hỗ trợ cho y tế trường học tốt nhất là vai trò của Bộ y tế và Bộ giáo dục.
1.1.3 Hoạt động y tế trường học ở Việt Nam
o Hình thành, phát triển
Trong nhiều năm, kể từ năm 1960 y tế học đường đã được sự quan tâm
chỉ đạo của Liên Bộ Y Tế - Giáo Dục và đó cú những nghiên cứu về sức khỏe
học sinh.
Thông tư liên Bộ y tế - Giáo dục số 32/TTLB ngày 27/2/1964 quy định
vệ sinh trường học. Thông tư cũng đã hướng dẫn tổ chức y tế trong các
trường nội trú và quy định nhiệm vụ cho các trạm y tế xã chăm lo sức khỏe
học sinh trong các trường học ở xã.
Trong những năm chiến tranh y tế học đường vẫn được Chính phủ hết
sức quan tâm.
Từ những năm 70 đến những năm 90, liên Bộ y tế - Giáo dục đã ra
nhiều chỉ thị, hướng dẫn phát triển y tế học đường cũng như tiến hành các đợt
điều tra về sức khỏe học sinh. Bắt đầu từ năm 1998 Bộ y tế có chủ trương
khôi phục lại và phát triển y tế trường học là một nội dung nằm trong chiến

dự án trường học nhằm nâng cao sức khỏe học đường dựa trên 4 thành tố
chính: Giáo dục sức khỏe, dịch vụ y tế, điều kiện môi trường, chính sách đồng
thời triển khai các chương trình phòng chống tai nạn thương tích trường học
đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể.
5
o Mục tiêu đến năm 2010 của y tế trường học
Bước vào những năm đầu thế kỷ 21, công tác y tế học đường đang
được các cấp có thẩm quyền và dư luận xã hội quan tâm. Chắc chắn sẽ có
những chủ trương, chính sách cũng như kế hoạch, đề án có khả năng thực thi
nhằm giữ gìn, bảo vệ và nâng cao sức khỏe của thế hệ tuổi học đường, chuẩn
bị cho nguồn nhân lực quan trọng một cách toàn diện trong công cuộc công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Mục tiêu:
- Xây dựng củng cố và kiện toàn y tế trường học được bảo đảm thực hiện
công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu tại trường học, đến năm 2005
mạng lưới y tế trường học được phát triển và trải rộng trờn cỏc tỉnh
thành phố.
- Từng bước nâng cao chất lượng hoạt động y tế trường học, lấy BHYT
học sinh làm cơ sở xã hội hóa công tác y tế trường học, tạo điều kiện
thuận lợi cho các hoạt động CSSK ban đầu tại trường học.
1.1.4 Bảo hiểm y tế trường học và các hoạt động [23]
Bảo hiểm y tế (BHYT) ở Việt Nam được hình thành từ năm 1992 với
mô hình BHYT bắt buộc cho những người làm công ăn lương. Với mức phí
BHYT là 3% lương trong đó chủ lao động đóng 2% còn người lao động đóng
1%. Năm 1995 phương thức thanh toán dịch vụ y tế được chuyển đổi từ thu
bình quân sang thu theo thực tế sử dụng.
Năm 2002, thủ tướng Chính phủ chuyển cơ quan BHYT từ Bộ Y tế
sang Bảo hiểm xã hội Việt Nam với mục tiêu tăng cường, phát triển BHYT
tiến tới BHYT toàn dân. Đến nay, qua hơn 10 năm thực hiện, nhiều hình thức
BHYT đã được triển khai rộng mang lại một số kết quả cụ thể:

cao, chi phí lớn sau 180 ngày kể từ ngày đóng BHYT nếu tham gia lần đầu,
hoặc tham gia lại sau một thời gian gián đoạn vì bất cứ lý do gì; phải tham gia
đủ 36 tháng BHYTTN liên tục mới được BHYT thanh toán 50% chi phí các
thuốc điều trị ung thư, thuốc chống thải ghép ngoài danh mục qui định của Bộ
Y tế
Năm học 2008-2009 mức đóng BHYT được điều chỉnh là 100.000đ –
120.000đ một em. Tuy nhiên mức phí tham gia BHYT của HS-SV vẫn chỉ
bằng 1/3 so với người lớn. [31]
1.1.5 Nhiệm vụ của trạm y tế trường Đại học Y Hà Nội [24]
Trạm y tế là đơn vị chức năng có nhiệm vụ tham mưu, giúp việc cho
hiệu trưởng về công tác bảo vệ, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, khám chữa
bệnh cho cán bộ, viên chức và học viên, sinh viên; công tác vệ sinh, phòng
dịch trong trường đại học Y Hà Nội. Trạm y tế do hiệu trưởng quản lý toàn
diện và được sự chỉ đạo về chuyên môn, nghiệp vụ của cơ sở y tế tuyến trên
thuộc ngành y tế.
Trạm y tế cú cỏc nhiệm vụ cụ thế sau:
1. Xây dựng nội dung và kinh phí hoạt động của trạm y tế cho từng năm
học, từng khóa học.
2. Tổ chức thực hiện công tác quản lý, chăm sóc sức khỏe cho học viên,
sinh viên, cán bộ và viên chức nhà trường, cụ thể:
a. Tổ chức khám sức khỏe định kỳ hàng năm và phân loại sức khỏe.
b. Quản lý và lưu hồ sơ sức khỏe.
c. Sơ cứu, cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh theo phân tuyến kỹ thuật, chăm
sóc sức khỏe ban đầu, cấp thuốc thông thường; chuyển bệnh nhân lên cơ
sở y tế tuyến trên trong các trường hợp cần thiết.
8
3. Tuyên truyền, giáo dục, tư vấn các vấn đề liên quan đến sức khỏe; vận
động học viên, sinh viên tham gia BHYT.
4. Tổ chức thực hiện vệ sinh học đường, vệ sinh môi trường, phòng chống
các bệnh dịch, bệnh tật học đường, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm,

1.2.2 Khái niệm nhu cầu CSSK [17]
Nhu cầu CSSK của cộng đồng được xác định qua gánh nặng bệnh tật
và các nguy cơ tới sức khỏe.
Gánh nặng bệnh tật được đo lường bằng các chỉ số mắc bệnh và tử
vong cũng như bằng chỉ số hỗn hợp như số năm sống mất đi vì bệnh tật, tàn
phế và chết non.
Nguy cơ mắc bệnh được đo lường bằng các chỉ số ô nhiễm môi trường,
tỷ lệ được tiếp cận với nước sạch và công trình vệ sinh, tỷ lệ người có các
hành vi ảnh hưởng tới sức khỏe ( lối sống, nghiện hỳt…)
Như vậy việc đo lường nhu cầu CSSK (KCB khi ốm đau, phòng bệnh
khi chưa ốm và truyền thông tư vấn sức khỏe là khỏ khó )
Thông thường phải dựa vào rất nhiều nguồn số liệu điều tra y tế hộ gia
đình, khám sàng lọc, kiểm tra sức khỏe cộng đồng, đây là những phương pháp
có giá trị khoa học song lại rất tốn kém và cũng chứa đựng nhiều tồn tại về
phương pháp. Nguồn số liệu từ cơ sở KCB của nhà nước nhất là ở bệnh viện
được thu thập thường kỳ và báo cáo 3 tháng 1 lần nờn tớnh sẵn có cao. Số
liệu từ báo cáo bệnh viện về các bệnh, nhóm bệnh theo phân loại bệnh quốc tế
ICD 10 và thống nhất sử dụng trong hệ thống báo cáo hàng chục năm, cùng
với việc tăng cường năng lực chẩn đoán của các bệnh viện, nguồn số liệu từ
báo cáo bệnh viện cho phép phân tích khá chính xác cơ cấu bệnh tật trong
10
cộng đồng. Thêm vào đó số liệu này được lưu trữ khá tốt và không tốn kém
cho các điều trị hồi cứu.
Về số trường hợp mắc bệnh, tỷ lệ người ốm (ở mọi mức độ ) đến các cơ
sở bệnh viện để khám bệnh, chữa bệnh ngoại trú, nội trú bệnh viện chỉ chiếm
khoảng 10% (điều tra y tế quốc gia 2000-2001) như vậy chỉ là “ phần nổi của
tảng băng”. Tuy nhiên đây cũng chính là yêu cầu KCB của cộng đồng cần
được các cơ sở y tế đáp ứng vì vậy cho dù chưa phản ánh toàn bộ gánh nặng
bệnh tật cũng như nhu cầu KCB của cộng đồng, nguồn số liệu từ báo cáo địa
phương và bệnh viện, hoàn toàn có thể sử dụng làm các chỉ điểm ( Index ) về

tượng đến các cơ sở y tế trong 6 tháng qua là 28,8% và số lượng đến một vài
lần là 20,29%. Cách xử trí đầu tiên trong lần ốm gần đây nhất 54,45% là tự
mua thuốc điều trị, và đến trạm y tế xã phường là 3,11%, khám sức khỏe định
kỳ chủ yếu là ở trường học(75,78%). Loại hình dịch vụ được lứa tuổi vị thành
niên thích sử dụng là tự mua thuốc uống (28,87%), trong khi đó đến khám
chữa bệnh tại các bệnh viện chiếm 22,7% với lý do chính là thuận tiện về
khoảng cách và thời gian (29,61%). [16]
Như đã nói ở phần đặt vấn đề, phần lớn các chương trình CSSK tập
trung vào khối học sinh phổ thông, các chương trình cho khối sinh viên vẫn
còn hạn chế. Mặt khác, do đối tượng sinh viên nằm trong nhóm nguy cơ mắc
các bệnh về sức khỏe sinh sản và HIV/AIDS nờn cỏc chương trình thường tập
trung vào tuyên truyền, nâng cao kiến thức về phòng chống các bệnh trên.
Một nghiên cứu năm 2006 về kiến thức và thực hành HIV/AIDS và
phơi nhiễm nghề nghiệp với HIV của sinh viên 8 trường đại học Y toàn quốc
cho thấy phần lớn sinh viên chỉ đánh giá kiến thức của mỡnh vói HIV ở mức
độ trung bình. Có đến 87,6 - 95,6% sinh viên trả lời sai hoặc không đầy đủ
12
các triệu chứng lâm sàng, 8,5 – 24,4% sinh viên cho rằng mồ hôi, nước tiểu
và nước bọt là dịch sinh học có nguy cơ lây nhiễm HIV cao. 90,9% sinh viên
trả lời sai về cỏc nhúm thuốc kháng, trong đó 40,8% sinh viên trả lời là biết.
12% sinh viên cho rằng có thể dự phòng lây nhiễm bằng Vitamin.
Trên 60% sinh viên đánh giá đúng về các nguy cơ phơi nhiễm và 57,8 –
73% sinh viên biết cách phòng tránh phơi nhiễm HIV. Đa số sinh viên
(91,7%) đã từng tiếp tiếp xúc với máu, chế phẩm của máu và dịch sinh học
chứa máu. 11,2 % sinh viên không xử lý gì sau khi bị tiêm hay vật sắc nhọn
đâm. Tỷ lệ sinh viên có nguy cơ nhiễm nghề nghiệp với HIV/AIDS là 57,8%. [7].
Tại trường ĐHYHN đó cú một số nghiên cứu liên quan đến sức khỏe
sinh viên trong trường như: Nghiên cứu về thực trạng hút thuốc lá trong sinh
viên đại học Y Hà Nội ( kết quả: 38,3% theo báo cáo của Tổ chức y tế thế
giới năm 1983).Năm 2003 tỷ lệ hút thuốc lá chung trong sinh viên là 23,9%,

vụ chăm sóc sức khỏe phù hợp trong từng hoàn cảnh. Mặt khác sinh viên có
thể quá chủ quan với bệnh tật của mình vì vậy sẽ không đi khám bệnh thường
xuyên và định kỳ mặc dù phơi nhiễm với bệnh tật rất cao hoặc có thể họ quá
lạm dụng kiến thức của mình để tự điều trị một số bệnh tật và dùng thuốc sai
chỉ định do thiếu kinh nghiệm.
Như vậy với những đặc điểm được phân tích nêu trên ta thấy rằng việc
thành lập và phát huy tối đa vai trò, chức năng của trạm y tế trong trường đại
học Y thực sự là rất cần thiết để khắc phục những điểm yếu, cải thiện và chăm
sóc sức khỏe của sinh viên trương đại học Y.
14
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Trường Đại học Y Hà Nội
2.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Sinh viên trường Đại học Y Hà nội từ Y1 đến Y6
Cán bộ trạm y tế trường
Sổ sách, báo cáo, hoạt động y tế sẵn có
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang
2.3.2 Mẫu nghiên cứu
2.3.2.1 Cỡ mẫu tính theo công thức:
Z
2
1- α/2
.pq
n: cỡ mẫu
p: tỷ lệ sinh viên có nhu cầu CSSK trong 4 tuần qua theo nghiên cứu trước
(p = 0,4); q = 1- p
d: độ chính xác mong muốn ( sai số cho phép) 0,03

- Nhu cầu KCB của sinh viên trong 12 tháng qua
+ Tỷ lệ ốm của sinh viên theo khối, giới, nơi ở
+ Mô hình bệnh thường mắc của sinh viên: Tỷ lệ % từng bệnh trong số
các bệnh sinh viên tự kể khi bị ốm trong 12 tháng qua.
- Các nhu cầu CSSK dự phòng của sinh viên:
+ Các nhu cầu về dự phòng, tuyên truyền về sức khỏe.
+ T ỷ lệ sinh viên mắc tật khúc xạ: theo giới và theo khối
+ Mức độ quan tõm tới sức khỏe của bản thõn: Quan tõm thường xuyên
kiểm tra sức khỏe, quan tõm nhưng không đi kiểm tra, không quan tõm…
2.3.3.3 Nhận xét của sinh viên về khả năng đáp ứng hoạt động CSSK
của trạm y tế trường.
- Lựa chọn CSYT của sinh viên khi bị ốm: Tỷ lệ % lựa chọn các cơ sở y
tế theo các cấp như: trạm y tế trường, phường, tư nhõn, bệnh viên TW… so
sánh giữa các nhúm như: có/ không có BHYT; nội trú/ ngoại trú.
16
- Lý do lựa chọn cách xử trí khi bị ốm
- Tình hình KCB tại trạm y tế trường: So sánh giữa nhóm có và không có
BHYT, giữa nội trú và ngoại trú, tỷ lệ sử dụng thẻ BHYT của sinh viên.
- Tình hình và lý do không muốn KCB tại trạm y tế trường của sinh viên.
- Nhận xét của sinh viên về đáp ứng CSSK của trạm y tế: Kể tên hoạt
động trạm y tế sinh viên biết đến; ý kiến về hoạt động KSK, KCB của trạm
theo các mức tốt ( hài lòng), trung bình, kém ( không hài lòng).
- Các ý kiến đóng góp nhằm cải thiện hoạt động CSSK cúa sinh viên.
2.3.4 Thu thập số liệu:
Công cụ: Sổ sách sẵn có, phiếu điều tra
Phương pháp thu thập: Phát phiếu điều tra, thống kê số liệu
Nội dung: - Tỷ lệ sinh viên có nhu cầu CSSK trong 4 tuần qua
- Các hình thức sử dụng dịch vụ y tế của sinh viên
- Tỷ lệ sinh viên có tham gia BHYT và sử dụng thẻ BHYT
- Kiến thức, thái độ, hành vi về phũng cỏc bệnh học đường

- Tỷ lệ sinh viên nội trú chiếm 34,8%; số sinh viên ngoại trú gần
gấp đôi số nội trú (65,2%).
-Tỷ lệ sinh viên mua BHYT chiếm 73,7%.
3.2 NHU CẦU CSSK CỦA SINH VIÊN
3.2.1 Nhu cầu KCB của sinh viên trong 1 tháng qua
3.2.1.1 Tình hình ốm của sinh viên trong 4 tuần qua
Bảng 3.2. Tỷ lệ ốm chung và tỷ lệ ốm theo giới của sinh viên
Số lượng ( n ) Tỷ lệ ( % )
Nam 119 43,1
Nữ 174 53,7
Tổng 293 48,8
18
Nhận xét: Tỷ lệ sinh viên bị ốm trong vòng 4 tuần qua chiếm 48,8%
tổng số sinh viên. Xét theo giới có 43,1% số sinh viên nam bị ốm và 53,7% số
sinh viên nữ bị ốm. Sự khác biệt về tỷ lệ ốm giữa 2 giới là có ý nghĩa thống
kê với p< 0,05.
Nhận xét: 50,75 % sinh viên nội trú ốm (106 sinh viên), 47,8% số sinh
viên ngoại trú ốm (187 sinh viên ). Sự khác biệt về tỷ lệ ốm của sinh viên nội
trú và ngoại trú không có ý nghĩa thống kê.
19
Nhận xét: Tỷ lệ sinh viên bị ốm giữa các khối chiếm từ 43%-56%, cao
nhất ở khối Y2 và thấp nhất ở khối Y6.
3.2.1.2 Mức độ ốm và cỏc nhúm bệnh thường gặp
Nhận xét: Mức độ ốm của sinh viên chủ yếu ở mức độ nhẹ 229sv (78,1%).
Mức độ trung bình chỉ chiếm (21,2 %) số sinh viên bị ốm, còn ở mức độ nặng
rất ít chỉ có 2 sinh viên.
Thời gian bị bệnh trung bình của sinh viên: X= 6,13 ±4,638 ( ngày )
20
Nhận xét: Nhóm bệnh khi bị ốm của sinh viên chủ yếu thuộc nhóm bệnh
nội khoa mới mắc chiếm 81,8% chủ yếu là các bệnh cảm cúm, cảm lạnh,

9
18,0
4
9,3
88
30,0
Tự
điều trị
21
40,4
28
53,9
15
32,6
24
52,2
34
66,0
32
74,4
153
52,2
Không
điều trị
12
23,1
9
16,1
10
21,7

Nam 133 48,2
Nữ 165 50,9
Nơi ở
Nội trú 106 50,7
Ngoại trú 192 49,1
Tổng 298 49,7
Nhận xét: Trong vòng 12 tháng qua tỷ lệ sinh viên có nhu cầu CSSK là
298 sinh viên chiếm 49,7% tổng số sinh viên. Trong đó không có sự khác biệt
có ý nghĩa thống kê giữa nhúm về giới, nơi ở và khối học.
22
Nhận xét: Các loại bệnh sinh viên mắc trong vòng 12 tháng qua chủ
yếu tập trung vào nhóm bệnh: Sốt, cảm lạnh, cảm cúm chiếm tới 24,5%, sau
đó là viêm họng (11,4 ), các loại sốt virus, sốt phát ban (9,7 ), viêm loét dạ
dày cũng chiếm 1 tỷ lệ (5,7% ).
Ngoài ra còn 1số các bệnh khác như: bệnh răng miệng, viêm amydal, viêm
tai giữa, RL điều tiết, vận mạch
3.2.3 Nhu cầu CSSK dự phòng của sinh viên
3.2.3.1 Tình hình sinh viên mắc tật khúc xạ trong sinh viên
Bảng 3.5. Tỷ lệ sinh viên mắc tật khúc xạ chung và theo giới
Số lượng ( n ) Tỷ lệ ( % )
Nam 148 53,6
Nữ 209 64,5
Tổng 357 59,5
Nhận xét: Trong tổng số 600 sinh viên chúng tôi thấy có 357 sinh viên
(59,5%) có tật khúc xạ trong đó cận thị là chủ yếu (91%) với mức độ cận
trung bình là 2,58 diop. So sánh theo giới tỷ lệ mắc tật khúc xạ ở nữ cao hơn
nam. Khi tiến hành kiểm định ta thấy sự khác biệt về tỷ lệ mắc tật khúc xạ
giữa 2 giới có ý nghĩa thống kê (p<0.05).
23
Nhận xét: So sánh theo khối tỷ lệ mắc tật khúc xạ thấp nhất ở khối Y1

(n =88 sv đi khám)
Tỷ lệ %
(n =293 sv ốm)
Hỏi bác sỹ tại viện 26 29,5 8,9
Y tế tư nhân 22 25,0 7,5
25

Trích đoạn xuất cải thiện, nâng cao khả năng đáp ứng CSSK sinh viên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status