luận văn tài chính ngân hàng Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tại công ty TNHH Phong Nam - Pdf 27

LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam đang trong giai đoạn đổi mới, bước sang nền kinh tế thị trường. Kinh tế
nước ta đang ngày càng phát triển, cùng với định hướng đúng đắn của Đảng và nhà nước
đã đưa nước ta trở thành một trong những nước có tốc độ phát triển cao nhất thế giới. bên
cạnh đó chính sách vĩ môi của Nhà nước đã tạo điều kiện mở rộng mối quan hệ kinh tế
với nhiều nước trên thế giới, mở ra nhiều cơ hội mới cho doanh nghiệp Việt Nam.
Tuy nhiên, chính sự mở của nền kinh tế với các nước trong khu vực cũng như
với các quốc gia trên thế giới mang lại nhiều thách thức cho các doanh nghiệp Việt
Nam. Đòi hỏi doanh nghiệp cần quan tâm nhiều hơn đến hoạt động quản trị rủi ro,
nhằm hạn chế những rủi ro ảnh hưởng tói hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
Hoạt động của doanh nghiệp luôn chịu nhiều rủi ro từ các yếu tố bên ngoài
( kinh tế, chính trị - pháp luật, thiên tai…) và các yếu tố bên trong nội bộ doanh
nghiệp. Rủi ro không chỉ ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh gây thiệt hại về
tài sản, uy tín của doanh nghiệp mà còn có thể ảnh hưởng đến cả một hệ thống các
doanh nghiệp trong ngành kinh tế nói chung. Do vậy, quản trị rủi ro là hoạt động cần
thiết và rất quan trọng đối với doanh nghiệp.
Công ty TNHH Phong Nam là một công ty chuyên gia công các sản phẩm cơ
khí chính xác và các sản phẩm nhựa công nghiệp – một ngành tương đối trẻ ở Việt
Nam đòi hỏi sức cạnh tranh mạnh với các nước có công nghệ phát triển do vậy chịu
khá nhiều rủi ro. Qua nghiên cứu tình hình công ty em quyết định chọn đề tài “ Hoàn
thiện công tác quản trị rủi ro tại công ty TNHH Phong Nam “.
Do hạn chế về thời gian và kiến thức nên bài báo cáo còn nhiều thiếu sót. Em
mong nhận được sự đánh giá, góp ý của thầy cô nhằm giúp em củng cố kiến thức và
hoàn thiện hơn bài báo cáo của mình.
Qua đây em xin gửi lời cảm ơn tới cô Nguyễn Thị Quỳnh Mai – giáo viên
hướng dẫn khóa luận tốt nghiệp, cùng toàn thể cán bộ, công nhân viên công ty TNHH
Phong Nam đã giúp đỡ em để em có thể hoàn thành khóa luận này.
Khóa luận tốt nghiệp bao gồm các nội dung chính như sau:
Chương 1: Một số lý luận chung về rủi ro và quản trị rủi ro trong kinh doanh.
Chương 2: Thực trạng công tác quản trị rủi ro tại công ty TNHH Phong Nam.

rất lớn cho nền kinh tế đất nước trong việc mở rộng thị trường và thúc đẩy nền kinh tế
phát triển nhưng đồng thời nó cũng mang lại không ít những khó khăn cho các doanh
nghiệp Việt Nam.
Công ty TNHH Phong Nam là một công ty có qui mô vừa, hoạt động trong lĩnh
vực cơ khi chính xác do vậy chịu rất nhiều rủi ro trong quá trình sản xuất và bán hàng.
Tuy nhiên do hạn chế về nguồn lực, chi phí, cũng như qui mô doanh nghiệp nên công
ty chưa thực sự quan tâm tới hoạt động quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh. Do
vậy, các dự án và chiến lược của công ty gặp phải những rủi ro mà công ty không chủ
động phòng ngừa, dẫn đến những thiệt hại đáng tiếc. Những rủi ro mà công ty gặp phải
là những rủi ro thuần túy nhưng do công ty không có các biện pháp đề phòng, né tránh
cũng như kiểm soát nó cho nên thường phải chịu những hậu quả do những rủi ro đó
mang lại.
Một trong những khó khăn của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và Công
ty TNHH Phong Nam nói riêng đó là môi trường cạnh tranh rất cao. Trong lĩnh vực cơ
khí chính xác và sản phẩm nhựa công nghiệp, công ty TNHH Phong Nam phải đối mặt
với rất nhiều đối thủ cạnh tranh lớn trong nước như công ty cổ phẩn cơ khí xuất khẩu,
công ty cổ phẩn HTMP, công ty cổ phần cơ khí Quang Minh và các doanh nghiệp cơ
khí của các nước như: Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ… Như vậy, để có thể đứng vững
được trên thị trường thì công ty cần có những chính sách cũng như các biện pháp
nhằm làm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của thị trường
Để làm được điều đó thì một trong những vấn đề quan trọng đặt ra đối với bất kì
công ty nào đó là việc làm thế nào để có thể kinh doanh một cách hiệu quả nhất. Như vậy,
doanh nghiệp cần phải làm thật tốt tất cả các khâu trong quy trình sản xuất và bán hàng
của mình, hạn chế các tổn thất từ rủi ro mang lại, chủ động phòng ngừa rủi ro.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên cùng với việc nghiên cứu công tác quản trị
rủi ro tại công ty TNHH Phong Nam cũng như lợi ích của nó đem lại cho hiệu quả
5
kinh doanh của công ty vì thế em xin chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác quản trị rủi
ro tại công ty TNHH Phong Nam” để nghiên cứu sâu hơn các vấn đề và từ đó có thể
đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện quá trình quản trị rủi ro tại công ty này.

văn trước đó do công ty mà em thực tập trong thời gian qua là công ty TNHH Phong
Nam, vấn đề mà khóa luận đi sâu nghiên cứu là: Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tại
công ty TNHH Phong “.
Ngoài ra, từ trước cho tới nay chưa có luận văn nào nghiên cứu về đề tài: “Hoàn
thiện công tác quản trị rủi ro tại công ty TNHH Phong Nam”. Chính vì thế em mong
muốn đi sâu nghiên cứu đề tài này của mình để có thể đưa ra những biện pháp tốt nhất
nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro cho công ty.
3. Mục tiêu nghiên cứu.
Nghiên cứu về các vấn đề còn tồn tại công tác quản trị rủi ro của công ty TNHH
Phong Nam, từ đó đưa ra một số các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro
tại công ty TNHH Phong Nam giúp công ty né tránh những rủi ro và hạn chế những
tổn thất trong quá trình kinh doanh của công ty.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đề tài nghiên cứu: Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tại công ty TNHH Phong
Nam.
Phạm vi nghiên cứu: Tại công ty TNHH Phong Nam
Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản trị rủi ro
5. Phương pháp nghiên cứu.
5.1. Phương pháp thu thập dữ liệu.
5.1.1. Dữ liệu sơ cấp.
Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp là phương pháp điểu tra xã hội học, sử
dụng phiếu điều tra trắc nghiệm và phương pháp phỏng vấn chuyên gia.
Phương pháp điều tra xã hội học: phiếu điều tra được thiết kế bao gồm hệ
thống 9 câu hỏi, tập trung vào vấn đề quản trị rủi ro nói chung của công ty TNHH
Phong Nam. Các câu hỏi được thiết kế cho phép dễ dàng phân tích và tổng hợp các
thông tin thu được. Phiếu điều tra trắc nghiệm này được tiến hành phát cho 10 cán bộ,
nhân viên thuộc phòng kế toán tài chính, phòng kinh doanh và phòng kế hoạch, đây là
những người trực tiếp tham gia vào công tác quản trị rủi ro trong công ty. Việc thu thập
7
thông tin thông qua phiếu điều tra trắc nghiệm đã cung cấp rất nhiều thông tin quan

1.1. Một số khái niệm cơ bản.
1.1.1. Khái niệm rủi ro trong kinh doanh.
Trong cuộc sống hàng ngày, cũng như trong hoạt động kinh tế của con người
thường có những tai nạn, sự cố bất ngờ, ngẫu nhiên xảy ra, gây thiệt hại về người và
tài sản. Những tai họa, tai nạn, sự cố xảy ra một cách bất ngờ, ngẫu nhiên như vậy gọi
là rủi ro. Như vậy, theo quan điểm này có thể định nghĩa “rủi ro là những sự kiện bất
lợi, bất ngờ xảy ra và gây tổn thất cho con người”.
Rủi ro có thể xảy ra với các doanh nghiệp bất cứ khi nào, đặc biệt đối với
những doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu thì rủi ro càng đa đạng và phức tạp hơn.
Rủi ro trong kinh doanh là điều tất yếu, không thể loại bỏ hẳn được rủi ro nhưng có thể
phòng ngừa và hạn chế được tác động của rủi ro biến rủi ro thành cơ hội cho doanh
nghiệp.
Theo Flank Knight, một học giả Mỹ định nghĩa: “Rủi ro là những bất trắc có
thể đo lường được”.
Theo Willet, một học giả Mỹ khác cho rằng: “Rủi ro là một bất trắc cụ thể liên
quan đến một biến cố không mong đợi”.
Inrving Perfer (Mỹ) lại cho rằng: “Rủi ro là tổng hợp những sự cố ngẫu nhiên
có thể đo lường được bằng xác suất”.
Ngoài ra, còn có một số các định nghĩa khác về rủi ro:
Rủi ro là sự bất trắc gây mất mát.
Rủi ro là sự biến động tiềm ẩn ở kết quả.
Rủi ro là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Theo từ điển Tiếng Việt: “Rủi ro là điều không lành, không tốt, bất ngờ xảy
đến”.
Như vậy, rủi ro là sự biến động tiềm ẩn ở những kết quả. Rủi ro hiện diện trong
hầu hết hoạt động của con người, sự tồn tại khách quan của rủi ro do sự vận động ngẫu
nhiên và bất ngờ của sự vận hiện tượng, hạn chế trong nhận thức con người, so sự bất
cẩn của con người. Khi có rủi ro người ta không thể dự đoán được chính xác kết
9

10
Tất nhiên việc mua bảo hiểm không đồng nghĩa với quản trị rủi ro nhưng có thể
nói quản trị rủi ro xuất phát từ hoạt động mua bảo hiểm.Vì lợi ích bảo hiểm mà cả
người mua bảo hiểm và người bán bảo hiểm phải nghiên cứu kỹ về rủi ro và những tổn
thất có thể xuất hiện trong đời sống cũng như quá trình kinh doanh. Đối với người mua
bảo hiểm họ phải biết được bản chất của bảo hiểm, rủi ro và quy luật vận động của rủi
ro. Từ đó xác định rủi ro nào cần mua bảo hiểm và rủi ro nào có thể mạo hiểm chấp
nhận mà không mua bảo hiểm. Còn những rủi ro cần mua bảo hiểm thì phải mua ở
mức độ nào sao cho an toàn nhất, với một chi phí có thể chấp nhận được.
Đối với các công ty bảo hiểm, để đạt được hiệu quả cao trong kinh doanh của
mình thì họ phải có những biện pháp giảm thiểu rủi ro và hạn chế tổn thất cho khách
hàng, qua đó làm giảm trách nhiệm bồi thường của mình.Những hoạt động trên đây là
nguyên nhân, là sự khởi đầu cho hoạt động quản trị rủi ro.
Thứ hai: Giai đoạn từ năm 1960 đến nay.
Sau năm 1960, mặc dù bảo hiểm vẫn được sử dụng một cách rộng rãi nhưng
các tổ chức ngày càng muốn giảm dần sự phụ thuộc vào các nhà bảo hiểm. Hoạt động
nghiên cứu rủi ro ở các tổ chức được đẩy mạnh và các nhà nghiên cứu phát hiện ra
rằng một số rủi ro không thể được bảo hiểm hoặc bảo hiểm không đáp ứng được nhu
cầu của mình, hay một số hoạt động trong nội bộ của tổ chức có thể dự đoán được một
số rủi ro và kiểm soát các tác động của chúng. Điều này dẫn đến quyết định tự bảo
hiểm rủi ro và đầu tư nghiên cứu rủi ro khiến những hoạt động ngăn ngừa tổn thất
trong các tổ chức ngày càng có hiệu quả.Những hoạt động này dần dần được hoàn
thiện và đến giai đoạn này thì khái niệm quản trị rủi ro đã được nhiều người chấp nhận
và biết đến.
Từ nền tảng của hoạt động quản trị rủi ro, lĩnh vực này bắt đầu giành được sự
chấp nhận rộng lớn trong những thập niên tiếp theo. Theo giáo sư H.Wayne Snide
thuộc đại học Temple, hoạt động của quản trị rủi ro chính thức đi vào giai đoạn mang
tính quốc tế từ giữa những năm 1970- giai đoạn này được ông gọi là “giai đoạn toàn
cầu hóa”. Chính trong giai đoạn này, Hiệp hội quản trị rủi ro và bảo hiểm (viết tắt là
RIMS) ra đời và bắt đầu xuất bản định kỳ các tài liệu, các công trình nghiên cứu về

nghiệp.
Đối với hầu hết các doanh nghiệp, quản trị rủi ro xem xét đến những khía cạnh
tích cực và tiêu cực của rủi ro. Nói cách khác, quản trị rủi ro được sử dụng để đánh giá
12
các cơ hội có thể đem lại các lợi ích cho doanh nghiệp (tác động tích cực) cũng như
quản trị những nguy cơ có thể tác động bất lợi đến doanh nghiệp (tác động tiêu cực).
Điều này có nghĩa là quản trị rủi ro có thể không chỉ được áp dụng theo một cách
chung chung mà nó có thể sử dụng từ việc đưa ra các chiến lược ban đầu, đến các dự
án và các quyết định đầu tư cho đến các quy trình và các hoạt động thực hiện.
Như vậy, vai trò của quản trị rủi ro đối với doanh nghiệp là:
Xây dựng khuôn khổ nhằm giúp doanh nghiệp thực hiện kế hoạch tương lai có
tính nhất quán và có thể kiểm soát.
Tăng cường năng lực trong việc ra quyết định, lập kế hoạch và sắp xếp thứ tự
ưu tiên công việc trên cơ sở hiểu biết thấu đáo và chặt chẽ về hoạt động kinh doanh,
môi trường kinh doanh, cơ hội và thách thức của doanh nghiệp.
Góp phần phân bổ và sử dụng hiệu quả những nguồn lực trong doanh nghiệp.
Giảm thiểu những sai sót trong mọi khía cạnh của doanh nghiệp.
Bảo vệ và tăng cường tài sản cũng như hình ảnh của doanh nghiệp.
Phát triển và hỗ trợ nguồn nhân lực và nền tảng tri thức của doanh nghiệp.
Tối ưu hóa hiệu quả hoạt động.
1.2. Nội dung nghiên cứu của đề tài.
1.2.1. Những rủi ro mà doanh nghiệp gặp phải.
1.2.1.1. Rủi ro sự cố và rủi ro cơ hội.
Rủi ro sự cố: là rủi ro gắn liền với những sự cố ngoài dự đoán, đây là những rủi
ro khách quan khó tránh khỏi (nó gắn liền với yếu tố bên ngoài)
Rủi ro cơ hội: là rủi ro gắn liền với quá trình ra quyết định của chủ thể. Nếu xét
theo quá trình ra quyết định thì rủi ro cơ hội bao gồm:
Rủi ro liên quan đến giai đoạn trước khi ra quyết định: Liên quan đến việc thu
thập và xử lý thong tin, lựa chọn cách thức ra quyết định
Rủi ro trong quá trình ra quyết định: Rủi ro phát sinh do ta chọn quyết định này

“doanh thu max” không tương hợp với tốc độ phát triển của “chi phí min”.
Rủi ro trong giai đoạn suy vong:là những rủi ro trong giai đoạn cuối của chu kỳ
sống của doanh nghiệp. Ví dụ như rủi ro phá sản.
1.2.1.5. Rủi ro do các yếu tố tác động của môi trường kinh doanh.
• Yếu tố luật pháp:
Có nhiều sự bất định và rủi ro phát sinh từ yếu tố luật pháp. Luật pháp không
phải chỉ đề ra các chuẩn mực và các biện pháp trừng phạt, vấn đề là bản thân xã hội có
sự tiến hóa và các chuẩn mực này có thể không tiên liệu được hết. Ở phạm vi quốc tế
chuẩn mực luật pháp còn phức tạp hơn có thể thay đổi rất nhiều.
14
Môi trường luật pháp cũng tạo ra các kết quả tích cực như cung cấp môi trường
xã hội ổn định, bảo vệ quyền công dân, định hướng phát triển và tạo điều kiện cho một
số ngành kinh doanh.
• Yếu tố kinh tế:
Mặc dù môi trường kinh tế vận động theo môi trường chính trị, sự phát triển
rộng lớn của thị trường toàn cầu tạo ra một môi trường kinh tế chung cho cả nước.
Tình trạng lạm phát, suy thoái kinh tế là các yếu tố thuộc hệ thống kinh tế có
ảnh hưởng tới doanh nghiệp, khiến doanh nghiệp gặp nhiều rủi ro gây tổn thất về
doanh thu, lợi nhuận cũng như đình trệ hoạt động kinh doanh.
Lãi suất, và hoạt động tín dụng cũng áp đặt lên doanh nghiệp các rủi ro thuần
túy và suy đoán đáng kể lên các tổ chức.
• Yếu tố văn hóa- xã hội:
Sự thay đổi các chuẩn mực giá trị, hành vi của con người, cấu trúc xã hội, các
định chế là nguồn rủi ro đối với doanh nghiệp. Nếu tham gia vào thị trường nào đó mà
doanh nghiệp không tìm hiểu yếu tố văn hóa – xã hội của thị trường đó thì doanh
nghiệp dễ gặp phải những rủi ro khiến doanh nghiệp có thể bị tẩy chay khỏi thị trường.
Tuy nhiên sự thay đổi các chuẩn mực giá trị cũng có thể tích cực, chẳng hạn
quan niệm về phụ nữ trong lực lượng lao động đã mở ra nguồn lao động mới.
• Yếu tố tự nhiên:
Yếu tố tự nhiên bao gồm động đất, hạn hán, thiên tai đều có thể dẫn đến tổn thất

bao nhiêu ? Số lần xuất hiện của loại rủi ro đó trong thời gian nhất định?Những biện
pháp phòng ngừa, những ý kiến đánh giá, đề xuất công tác quản trị rủi ro.
Thứ hai: Phân tích các báo cáo tài chính, đây là phương pháp thông dụng, mọi
tổ chức đều được thực hiện nhưng ở mức độ và sử dụng vào những mục đích khác
nhau. Trong quản trị rủi ro bằng cách phân tích các báo cáo tài chính, các báo cáo hoạt
động kinh doanh, các tài liệu hổ trợ khác.Chúng ta có thể xác định được mọi nguy cơ
rủi ro của tổ chức về tài sản, nguồn nhân lực và trách nhiệm pháp lý.
Thứ ba: Phương pháp lưu đồ, đây là phương pháp quan trọng để nhận dạng rủi
ro, để thực hiện phương pháp này trước hết cần xây dựng lưu đồ trình bày tất cảcác
hoạt động của tổ chức.
Thứ tư là phương pháp thanh tra hiện trường. đây là phương pháp thông qua
việc quan sát, cảm nhận, đánh giá sự vận động của môi trương bên ngoài và bên trong
doanh nghiêp của bộ phận, cá nhân để nhận dạng rủi ro có thể xảy đến.
16
1.2.2.2. Phân tích và đo lường rủi ro.
Phân tích rủi ro: là quá trình nghiên cứu các hiểm họa, xác định nguyên nhân
gây ra rủi ro và định lượng những tổn thất trong hoạt động kinh doanh. Phân tích rủi ro
bao gồm các công việc phân tích hiểm họa, phân tích mối nguyên nhân rủi ro, phân
tích các nhân tố ảnh hưởng, phân tích tổn thất và đo lường rủi ro. Đo lường rủi ro là
tính toán xác định tần số và biên độ rủi ro.
Trong phân tích rủi ro sử dụng các phương pháp gồm:
Thứ nhất là phương pháp thống kê kinh nghiệm. Phương pháp là thu thập được
từ các tài liệu thống kê hoặc kết quả quan sát, thực nghiệm đưa ra kết quả phân tích.
Thứ hai là phương pháp xác xuất thống kê. Phương pháp là việc thu thập được
từ các tài liệu thống kê để đưa ra kết quả.
Thứ ba là phương pháp chuyên gia. Phương pháp là việc gửi các bảng hỏi liên
quan đến công tác hoặc hoạt động cần tư vấn đến các nhà chuyên môn sau đó tổng hợp
các ý kiến và cứ thực hiện lặp lại quy trình cho các vấn đề khác nhau để đưa ra kết
quả nghiên cứu.
Thứ tư là phương pháp sắp xếp các nhân tố ảnh hưởng. Phương pháp là biện

thất xảy ra nói cách khác là làm giảm mức độ nghiêm trọng của tổn thất. Đây là những
biện pháp được tiến hành sau khi tổn thất đã xảy ra.Các biện pháp này cũng chứng tỏ
một số tổn thất đã xảy ra mặc dù đã có những nỗ lực ngăn chặn nhất định. Do vậy, các
biện pháp này cần được tiến hành một cách nghiêm túc và chặt chẽ.
Thứ tư là chuyển giao rủi ro: là biện pháp tìm các chủ thể khác để cùng gánh chịu
rủi ro.
Thứ năm là đa dạng rủi ro: là việc phân chia các rủi ro, các hoạt động thành các
dạng khác nhau. Tận dụng sự khác biệt, dùng lợi ích từ hoạt động này bù đắp tổn thất
cho các hoạt động khác.
Tài trợ rủi ro
Khái niệm: Tài trợ rủi ro là việc cung cấp những phương tiện để bù đắp những
tổn thất khi rủi ro xảy ra.
Các công cụ của tài trợ rủi ro gồm:
Thứ nhất là tự khắc phực rủi ro: việc các nhân hoặc tổ chức tự thanh toán các
chi phí tổn thất.
Thứ hai là chuyển giao rủi ro: biện pháp chuyển các chi phí tổn thất cho các các
nhân hoặc tổ chức kinh tế khác.
18
Thứ ba là bảo hiểm: biện pháp trong đó hang bảo hiểm chấp nhận chịu một
phân hoặc toàn bộ các tổn thất tài chính khi rủi ro xảy ra.
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới quản trị rủi ro trong kinh doanh.
1.3.1. Nhân tố khách quan.
1.3.1.1. Nhân tố kinh tế.
Bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ
các yếu tố thuộc môi trường kinh tế. Nói một cách tổng quát nền kinh tế ổn định, tăng
trưởng mạnh sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
nói chung.
Khi nền kinh tế ổn định, quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn
ra bình thường, không chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố lạm phát, khủng hoảng, suy thoái
kinh tế. Ngược lại nếu kinh tế không ổn định ảnh hưởng tới nhu cầu, sức mua của

Ngược lại những công ty qui mô nhỏ, tiềm lực tài chính yếu ít quan tâm tới
quản trị rủi ro thì việc quản trị rủi ro chưa tốt, do vậy dễ gặp phải những rủi ro gây tổn
thất cho doanh nghiệp.
1.3.2.2. Quan điểm của nhà quản trị.
Mỗi nhà quản trị có nhận thức quan điểm quản trị riêng. Có những nhà quản trị
rất coi trọng việc quản trị rủi ro do đó họ đầu tư và quan tâm nhiều hơn tới hệ thống
quản trị rủi ro cho công ty. Vì vậy công tác quản trị rủi ro cũng trở nên tốt hơn.
Tuy nhiên có những nhà quản trị không coi trọng quản trị rủi ro, họ cho rằng
quản trị rủi ro là không cần thiết hay lãng phí do đó họ không đầu tư vào hệ thống
quản trị rủi ro do vậy, công tác quản trị rủi ro không thực hiện được.
1.3.2.3. Sự phát triển của thị trường.
Thị trường càng phát triển, cạnh tranh càng trở nên mạnh mẽ và gay gắt. Chính
sự phát triển này đã tác động đến tâm lý phòng ngừa rủi ro của các doanh nghiệp.
Cạnh tranh càng gay gắt càng tiềm ẩn nhiều nguy cơ khiến cho doanh nghiệp dễ
dàng gặp phải những rủi ro gây tổn thất đối với doanh nghiệp. Từ đó doanh nghiệp sẽ
có tâm lý phòng ngừa rủi ro, đầu tư nhiều hơn vào quản trị rủi ro.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TẠI
CÔNG TY TNHH PHONG NAM.
2.1. Giới thiệu khái quát về công ty TNHH Phong Nam.
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty.
Tên công ty: Công ty trách nhiệm hữu hạn Phong Nam
Tên giao dịch: Công ty trách nhiệm hữu hạn Folin
Văn phòng giao dịch: nhà số 8 – khu đô thị mới Trung Yên – Phường Trung
Hòa – Quận Cầu Giấy – Hà Nội.
20
Trụ sở chính: Lô 40G – khu công nghiệp Quang Minh – huyện Mê Linh – Hà
Nội.
Công ty được thành lập ngày 15 tháng 8 năm 1995, theo giấy phép kinh doanh
số: 1902000551 do sở KHĐT tỉnh Vĩnh Phúc cấp. Trụ sở chính của công ty đặt tại Lô
40G – Khu công nghiệp Quang Minh – Mê Linh – Vĩnh Phúc ( hiện nay là Hà Nội ).

tiến trình phát triển của công ty.
Cơ cấu tổ chức của công ty là cơ cấu tổ chức trực tuyến. Trong đó mọi hoạt
động đều chịu sự giám sát và quản lý trực tiếp của giám đốc. Cơ cấu tổ chức của công
ty là khá hợp lý, phù hợp với một công ty tư nhân quy mô vừa, giúp tiết kiệm chi phí
quản lý, truyền đạt thông tin giữa các cấp nhanh chóng, chính xác, hiệu quả. Tiết kiệm
được chi phí.
2.1.4. Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
Bảng 1: Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty TNHH Phong Nam
ĐVT: VNĐ
Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
Tổng doanh thu 56.662.670.403 70.228.069.774 85.351.136.110
Tổng chi phí 53.813.480.879 65.885.623.818 79.019.663.617
Lợi nhuận trước thuế 2.849.189.524 4.342.445.956 6.331.472.493
Thuế thu nhập doanh nghiệp 569.837.904 868.489.191 1.266.294.498
Lợi nhuận sau thế 2.279.351.620 3.473.956.765 5.065.177.995
Ban kiểm soátTỔNG GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM ĐỐC KINH DOANH PHÓ GIÁM ĐỐC KỸ THUẬT
Phòng cơ
điện
Phòng
quản lý
chất lượng
Phòng kỹ
thuật
Phòng tài
chính – kế
toán
Phòng kế
hoạch sản
xuất

Mẫu phiếu điều tra được đính kèm trong phụ lục 1. Phỏng vấn được tiến hành từ ngày
20/5 – 22/5 đối với đối tượng phỏng vấn gồm 2 người là các nhà quản trị ( giám đốc,
phó giám đốc ) của công ty. Câu hỏi phỏng vấn được đính kèm trong phụ lục 2.
2.2.1. Kết quả phân tích thực trạng công tác quản trị rủi ro qua dữ liệu sơ cấp.
Dựa vào kết quả của phiếu điều tra trắc nghiệm, có thể thấy được thực trạng công tác
quản trị rủi ro tại công ty như sau:
Biểu hình 2: Các loại rủi ro mà công ty thường gặp phải.
Biểu hình 3: Mức độ gây tổn thất của các loại rủi ro cho doanh nghiệp.
Biểu hình 4: Mức độ tiến hành các quá trình quản trị rủi ro tại công ty
23
Biểu hình 5: Các công cụ kiểm soát rủi ro mà công ty đã tiến hành.
Biểu hình 6: Các nhân tố ảnh hưởng tới quản trị rủi ro trong công ty.
Biểu hình 4: Mức độ hiểu quả của công tác quản trị rủi ro của công ty TNHH Phong Nam
24
Giám đốc Nguyễn An
Phong
Phó giám đốc kinh doanh
Câu 1: Theo ông công ty
thường gặp phải loại rủi ro
nào?
Rủi ro thuần túy và rủi ro suy
đoán
Rủi ro theo chiều dọc và rủi
ro thuần túy
Câu 2: Theo ông loại rủi ro
nào gây tổn thất lớn nhất
cho công ty ?
Rủi ro thuần túy Rủi ro thuần túy
Câu 3: Theo ông công ty đã
tiến hành những quá trình

những suy nghĩ chủ quan của nhà quản trị. Quan điểm của nhà quản trị công ty TNHH
Phong Nam cũng không quá coi trọng quản trị rủi ro do những rủi ro mà công ty gặp
phải gây tổn thất không lớn và hậu quả không nghiêm trọng.
2.2.2. Kết quả phân tích thực trạng công tác quản trị rủi ro qua dữ liệu thứ cấp.
2.2.2.1. Những rủi ro mà doanh nghiệp gặp phải.
• Rủi ro cơ hội.
Rủi ro cơ hội được đánh giá là rủi ro mà công ty thường gặp phải chiếm 20%
phiếu đánh giá. Theo như nhận định của các đôí tượng tham gia điều tra, rủi ro cơ hội
thường xảy ra trước khi ra quyết định. Do quá trình tìm kiếm, xử lý và thu thập thông
tin chưa hiệu quả. Việc thu thập thông tin từ thị trường, đối thủ cạnh tranh đều do
phòng kinh doanh đảm nhận.
Do có sự chồng chéo về chức năng và hạn chế về nguồn lựu nên chức năng này
thực hiện không hiệu quả. Hơn nữa phòng kinh doanh được đặt tại văn phòn đại diện
cách xa trụ sở chính làm cho việc truyền đạt thông tin gặp nhiều khó khăn, dẫn đến xử
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status