Giá trị năng lượng trao đổi có hiệu chỉnh nito và tỷ lệ tiêu hoá các chất dinh dưỡng trong
một số loại thức ăn cho gà
Hồ Lê Quỳnh Châu, Hồ Trung Thông,
1
Vũ Chí Cương, Đàm Văn Tiện
Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Huế;
1
Viện Chăn Nuôi
Tóm tắt
Nghiên cứu này đã được triển khai nhằm xác định sự biến động về giá trị năng lượng trao đổi có hiệu chỉnh
nitơ (MEN) và tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng tổng số trong bột sắn, khô dầu đậu tương, đậu tương nguyên dầu
và bột cá khi được sử dụng làm thức ăn nuôi gà. Các chất kháng dinh dưỡng trong hạt đậu tương được xử lý theo 03
phương pháp khác nhau (rang, luộc và ép đùn). Thí nghiệm được tiến hành trên gà Lương Phượng 35 ngày tuổi.
Khẩu phần cơ sở được thiết kế đảm bảo đáp ứng đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng cho gà giai đoạn thí nghiệm. 13 khẩu
phần được thiết lập bằng cách thay thế 20% khẩu phần cơ sở bằng thức ăn thí nghiệm. Giá trị MEN và tỉ lệ tiêu hóa
các chất dinh dưỡng tổng số trong các thức ăn thí nghiệm được tính toán bằng phương pháp sai khác. Kết quả cho
thấy giá trị MEN của bột sắn dao động từ 10,94 đến 13,59 MJ/kg nguyên trạng (MJ/kg NT). Giá trị MEN của đậu
tương nguyên dầu cao nhất khi xử lý bằng phương pháp ép đùn (17,30 MJ/kg NT) và thấp nhất khi xử lý bằng cách
rang (11,95 MJ/kg NT). Trong khi đó, giá trị MEN trong khô dầu đậu tương chỉ đạt 7,46 MJ/kg NT. Kết quả nghiên
cứu cũng đã chỉ ra rằng giá trị MEN trong 05 mẫu bột cá biến động từ 7,37 đến 8,36 MJ/kg NT, thấp hơn nhiều so
với kết quả ước tính. Kết quả đánh giá tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng tổng số trong 04 loại thức ăn thí nghiệm
(bột sắn KM94 Hồng Hạ, khô dầu đậu tương, đậu tương nguyên dầu ép đùn và bột cá cơm) cho thấy cả 04 loại đều
được tiêu hóa tốt. Tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến CP ở hồi tràng của bột sắn, khô dầu đậu tương, đậu tương ép đùn và bột
cá cơm lần lượt là 77,60%; 84,07%; 83,64% và 88,28%. Trong khi đó tỉ lệ tiêu hóa OM hồi tràng của các loại thức
ăn trên thấp nhất là 76,84%. Tỷ lệ tiêu hóa xơ thô toàn phần dao động từ 64,59% (cá cơm) đến 80,99% (bột sắn).
Ngược lại, tỷ lệ tiêu hóa NDF toàn phần cao nhất ở bột cá cơm (92,17%) và thấp nhất ở bột sắn (80,63%). Tỷ lệ tiêu
hóa NfE toàn phần cao nhất ở đậu tương nguyên dầu xử lý bằng phương pháp ép đùn (96,20%).
1. Đặt vấn đề
Giá trị tiềm năng của một loại thức ăn có thể được xác định thông qua các phân tích hóa
ngẫu nhiên vào 105 cũi trao đổi chất, tỉ lệ trống/mái ở mỗi cũi là 1/1. 14 khẩu phần được sử dụng
trong thí nghiệm gồm 1 khẩu phần cơ sở (KPCS) và 13 khẩu phần chứa các thức ăn thí nghiệm
khác nhau. Mỗi thí nghiệm được tiến hành với 5 lần lặp lại. Nguồn gốc của các loại thức ăn thí
nghiệm được trình bày ở bảng 1.
Bảng 1. Nguồn gốc của các thức ăn thí nghiệm
Thức ăn thí nghiệm
Ký hiệu
Nguồn gốc
Phương pháp xử lý
Sắn KM94 Hồng Hạ
BS1
Hồng Hạ - A Lưới
Sắn nếp
BS2
Hồng Hạ - A Lưới
Sắn KM94 Hương Trà
BS3
Hương Trà
Sắn Ba trăng
BS4
Hương Trà
Khô dầu đậu nành
SBM
Ấn Độ
Đậu tương 3 (nguyên dầu)
Cá ong
BC5
Quảng Nam Khẩu phần cơ sở được thiết kế đáp ứng đầy đủ nhu cầu của gà thịt theo khuyến cáo của
NRC (1994) (Viện Chăn nuôi, 2001) và TCVN (1994) (Viện Chăn nuôi, 2001) (bảng 2). Các
khẩu phần chứa thức ăn thí nghiệm được thiết lập bằng cách thay thế 20% khẩu phần cơ sở bằng thức ăn thí nghiệm. Celite (Celite
®
545RVS, Nacalai Tesque, Japan) được bổ sung vào các khẩu
phần với tỉ lệ 1,5% để tăng lượng khoáng không tan trong acid chlorhydric (chất chỉ thị). Để đảm
bảo độ chính xác của kết quả thí nghiệm, chất lượng thức ăn được giữ nguyên trong suốt thời
gian thí nghiệm. Các loại thức ăn nguyên liệu được tính toán và mua một lần trước khi bắt đầu
thí nghiệm, sau đó trộn thật đồng đều ngay trong cùng một loại nguyên liệu, lấy mẫu đại diện để
phân tích thành phân dinh dưỡng. Các khẩu phần thí nghiệm được ép viên và sấy khô ở 60
o
C.
Thức ăn thí nghiệm được lấy mẫu để phân tích thành phần các chất dinh dưỡng tổng số.
Bảng 2. Thành phần nguyên liệu của khẩu phần cơ sở
TT
Thành phần nguyên
liệu
Tỉ lệ (%)
TT
Thành phần nguyên liệu
Tỷ lệ (%)
1
0,51
* Bio-pharmachemie (Bio-ADE+B.complex premix), 1kg chứa: 3.100.000 UI vitamine A, 1.100.000 UI
vitamine D3, 300 UI vitamine E, 320 mg B1, 140 mg B2 1.000 mg niacinamide, 600 mg B6, 1.200 mcg B12,
1.000 mg vitamine C, 130 mg acid folic. ** Bio-pharmachemie (Bio-chicken minerals), 1 kg chứa: 10.800 mg
Mn, 2.160 mg Fe, 7.200 mg Zn, 1.260 mg Cu, 144 mg Iodine, 21,6 mg Co, 14,4 mg Se, 40 mg acid folic, 4.800
mcg biotin, 20.000 mg Choline chloride
2.2. Nuôi gà và thu mẫu
Thí nghiệm được kéo dài trong 7 ngày, trong đó 4 ngày đầu tiên là giai đoạn thích nghi và
3 ngày sau là giai đoạn thu gom mẫu. Chế độ cho ăn được áp dụng là cho ăn tự do. Trong giai
đoạn thu gom mẫu, chất thải ở từng cũi trao đổi chất được thu gom 2 lần/ ngày, cho vào hộp
đựng bảo quản mẫu, vặn chặt nắp và bảo quản ở nhiệt độ -20
o
C. Khi kết thúc giai đoạn thu gom,
trộn đều mẫu chất thải của gà ở 3 cũi trao đổi chất trong cùng 1 lần lặp lại đã thu được trong 3
ngày và bảo quản ở -20
o
C cho đến khi phân tích. Vào ngày thứ 8 của thí nghiệm, toàn bộ gà
được giết mổ. Xác định vị trí hồi tràng và thu mẫu hồi tràng được tiến hành theo phương pháp
được mô tả bởi Bryden và Li (2004). Hồi tràng được xác định từ túi thừa Meckel đến điểm cách
van hồi – manh tràng 4 cm. Dịch tiêu hóa ở phần nửa sau hồi tràng của 6 con gà ở 3 cũi trao đổi
chất trong cùng 1 lần lặp lại được cho vào cùng một hộp đựng mẫu, vặn chặt nắp và giữ ở -20
o
C
ngay sau khi thu mẫu.
2.3. Phân tích hóa học và tính kết quả
Mẫu chất thải và mẫu dịch hồi tràng được sấy khô ở 60
o
C. Mẫu thức ăn, mẫu chất thải và
dịch hồi tràng được nghiền qua sàng 0,5 mm trước khi đem phân tích. Tất cả các phân tích đều
được tiến hành tại Phòng Thí nghiệm Trung tâm, Khoa Chăn nuôi – Thú y, Trường Đại học
là
hàm lượng khoáng không tan trong acid trong khẩu phần (%DM), AIA
e
là hàm lượng khoáng
không tan trong acid trong chất thải (%DM).
Giá trị năng lượng trao đổi biểu kiến được hiệu chỉnh bằng lượng nitơ tích lũy với hệ số f =
8,22 kcal/g theo công thức sau: ME
N
= ME - 8,22 × NR; với NR = (N
d
– N
e
× AIA
d
/AIA
e
) ×
1000/100 (Lammers et al., 2008). Trong đó, ME
N
là năng lượng trao đổi được tính bằng kcal/kg
DM, 8,22 là năng lượng của uric acid (kcal/g) (Hill, Anderson, 1958), NR là lượng nitơ tích lũy
(g/kg), N
d
là lượng nitơ trong khẩu phần (%DM), N
e
là lượng nitơ trong chất thải (%DM).
Tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng trong một khẩu phần được tính theo công thức: DD =
(1 - [(ID × AF) / [(IF × AD)] ) × 100 (Huang et al., 2005). Trong đó, DD là tỷ lệ tiêu hóa hồi
tràng (hoặc toàn phần) biểu kiến của chất dinh dưỡng trong khẩu phần (%), ID là hàm lượng AIA
trong khẩu phần (mg/kg), AF là hàm lượng chất dinh dưỡng trong dịch hồi tràng (hoặc chất thải)
liệu
Thành phần dinh dưỡng
DM
(%)
CP
(%DM)
EE
(%DM)
Ash
(%DM)
CF
(%DM)
NfE
(%DM)
GE
(kcal/kg DM)
BS1
91,41
1,79
0,40
1,42
2,33
94,05
4057,85
BS2
90,34
2,68
0,78
1,95
2,67
6,07
8,93
31,33
5555,07
ĐN4
88,68
40,48
21,35
5,60
7,33
25,24
5688,93
ĐN5
93,12
38,34
21,54
5,44
6,58
28,11
5666,57
BC1
86,74
79,99
5,50
13,84
0,52
0,15
5085,90
BC2
86,33
Đậu tương là nguồn thức ăn protein thực vật quan trọng trong dinh dưỡng động vật.
Ngoài hàm lượng protein cao có giá trị sinh học, chất béo từ đậu tương nguyên dầu còn góp phần
cung cấp năng lượng cho quá trình sinh tổng hợp protein (Varga-Visi et al., 2006). Hàm lượng
protein tổng số của các mẫu đậu tương nguyên dầu dao động từ 35,05% DM (đậu tương rang)
đến 40,48% DM (đậu tương luộc). Hàm lượng chất béo trong đậu tương nguyên dầu đạt từ 18,64
đến 21,54% DM. Trong khi đó hàm lượng protein tổng số và chất béo trong khô dầu đậu tương
lần lượt là 49,85% DM và 8,00% DM. Trong các mẫu đậu tương thí nghiệm, giá trị năng lượng
tổng số thấp nhất ở khô dầu đậu tương (4475,80 kcal/kg DM) và cao nhất ở đậu tương nguyên
dầu xử lý bằng cách luộc ở 100
o
C trong 40 phút (5688,93 kcal/kg DM). Tuy nhiên, sự chênh lệch
giữa hàm lượng năng lượng tổng số trong 03 mẫu đậu tương nguyên dầu là không đáng kể.
Kết quả phân tích ở bảng 3 cho thấy hàm lượng protein trong 05 loại bột cá thí nghiệm
chiếm tỷ lệ cao, biến động từ 63,58 - 79,99% DM. Hàm lượng protein thô cao nhất ở bột cá 1
(cá cơm) và thấp nhất ở bột cá 5 (cá ong). Ngược lại hàm lượng khoáng tổng số đạt tỷ lệ cao nhất
ở bột cá 5 (27,72% DM) và thấp nhất ở bột cá 1 (13,84% DM) trong 5 loại bột cá. Điều này là do
cá ong có nhiều xương, nhiều vảy lược nhỏ. Bột cá 4 có tỷ lệ mỡ khá cao (10,31% DM), các loại
bột cá còn lại có tỷ lệ mỡ biến động trong khoảng 4,65% – 5,50% DM. Năng lượng tổng số đạt giá trị cao nhất ở bột cá 1 (5085,90 kcal/kg DM), cao hơn so với kết quả phân tích trước đây của
Lã Văn Kính (2003) (4926 kcal/kg DM).
Bảng 4. Thành phần dinh dưỡng của các khẩu phần thí nghiệm
Khẩu
phần
Thành phần dinh dưỡng
DM
(%)
CP
(%DM)
KBS2
86,33
17,40
3,34
6,44
3,94
4422,76
2,02
KBS3
88,30
18,42
2,92
6,24
4,01
4437,24
1,97
KBS4
86,62
18,10
4,11
6,28
3,98
4424,73
2,04
KSBM
87,10
27,89
13,19
4750,68
1,91
KBC1
88,27
33,62
4,68
8,71
3,18
10,99
4587,15
1,97
KBC2
90,13
30,46
4,33
10,66
2,80
4444,12
2,70
KBC3
89,27
30,46
4,84
11,12
2,90
4431,13
3,36
của các khẩu phần chứa bột sắn thí nghiệm dao động từ 2866,89 kcal/kg DM (ở KBS4) đến
2998,97 kcal/kg DM (ở KBS1).
Bảng 5. Giá trị ME
N
của các khẩu phần chứa bột sắn
Chỉ số
Đơn vị tính
KPCS
KBS1
KBS2
KBS3
KBS4
ME
Kcal/kg DM
2974,87
a
±
53,33
3083,25
a
±
33,62
3022,53
a
±
24,68
3019,82
a
±
33,24
Kcal/kg DM
2860,65
ac
±
45,33
2998,97
b
±
27,22
2946,76
ab
±
13,03
2913,19
ab
±
26,66
2866,89
c
±
16,85 MJ/kg DM
11,97
ac
± 0,19
12,55
b
23,54
2483,30
c
±
14,60
MJ/kg NT
10,34
ac
± 0,16
11,03
b
±
0,10
10,64
a
±
0,05
10,76
ab
± 0,10
10,39
c
±
0,66
(DM: vật chất khô, NT: nguyên trạng; Các giá trị trung bình trong cùng một hàng có ít nhất một chữ cái giống
nhau thì sự sai khác không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05)
Kết quả tính toán giá trị năng lượng trao đổi có hiệu chỉnh nitơ của các mẻ bột sắn thí
3552,26
a
± 136,08
3291,83
a
± 65,16
3123,38
ab
± 133,28
2891,85
b
± 84,25
MJ/kg DM
14,86
a
± 0,57
13,77
a
± 0,27
13,07
ab
± 0,56
12,10
ab
± 0,50
10,94
b
± 0,32
ME
N
*
Kcal/kg DM
3288,99
3238,24
3289,59
3318,88
ME
N
**
Kcal/kg DM
3667,17
3644,25
3675,15
3689,48
(DM: vật chất khô, NT: nguyên trạng; MEN*: giá trị MEN ước tính từ công thức của Janssen (1989)(tdt NRC,
1994): MEN (kcal/kg DM) = 39,14 × DM – 39,14 × Ash – 82,78 × CF; MEN**: giá trị MEN ước tính từ công
thức của Lã Văn Kính (2003): MEN (kcal/kg DM) = 38,6 × CP + 66,2 × EE – 14,1 × CF + 36,4 × NfE +
181; Các giá trị trung bình trong cùng một hàng có ít nhất một chữ cái giống nhau thì sự sai khác không có ý
nghĩa thống kê với p > 0,05)
KĐN4
KĐN5
ME
Kcal/kg
DM
2974,87
ab
± 53,33
2808,97
a
±
21,66
3032,36
b
±
31,07
3228,42
c
±
19,95
3300,76
d
± 16,87
Nitơ tích
lũy
g/kg DM
13,896
a
11,28
2918,23
a
±
19,37
3111,73
c
±
18,44
3176,79
d
± 15,98
MJ/kg DM
11,97
a
± 0,19
11,19
b
± 0,05
12,21
a
± 0,08
13,02
c
± 0,08
9,75
b
± 0,04
10,83
a
± 0,07
12,06
c
± 0,07
11,69
d
± 0,06
DM: vật chất khô, NT: nguyên trạng; Các giá trị trung bình trong cùng một hàng có ít nhất một chữ cái giống
nhau thì sự sai khác không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05)
Giá trị năng lượng trao đổi có hiệu chỉnh nitơ của các mẻ đậu tương thí nghiệm được tính
toán bằng phương pháp sai khác. Kết quả ở bảng 8 cho thấy giá trị ME
N
thấp nhất ở khô dầu đậu
tương (1932,87 kcal/kg DM hay 1783,04 kcal/kg NT) và cao nhất ở đậu tương nguyên dầu ép
đùn (4441,36 kcal/kg DM hay 4135,77 kcal/kg NT). Sự sai khác giữa các loại đậu tương thí
nghiệm là có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Trong khi đó, theo Viện Chăn nuôi (2001) và Lã Văn
Kính (2003), giá trị năng lượng trao đổi của khô dầu đậu tương Ấn Độ là 2361,7 kcal/kg và 2534
kcal/kg tính theo nguyên trạng, cao hơn lần lượt là 32,45% và 42,12% so với kết quả trong
nghiên cứu này. Tương tự đối với đậu tương rang, giá trị năng lượng trao đổi tham khảo từ Viện
Chăn nuôi (2001) và Lã Văn Kính (2003) cao hơn từ 17,69% - 18,04% so với kết quả của chúng
Bảng 8. Giá trị ME
N
của khô dầu đậu tương và đậu tương nguyên dầu
Chỉ số
Đơn vị tính
Khô dầu
đậu tương
Đậu tương
rang
Đậu tương
luộc
Đậu tương
ép đùn
ME
N
Kcal/kg DM
1932,87
a
± 56,41
3148,56
b
± 96,84
4116,05
c
± 92,22
4441,36
c
± 81,78
4135,77
d
± 74,42
MJ/kg NT
7,46
a
± 0,22
11,95
b
± 0,37
15,27
c
± 0,34
17,30
d
± 0,31
ME
N
*
Kcal/kg DM
2913,43
-
của khô dầu đậu tương là 2085
kcal/kg NT (hay 8,72 MJ/kg NT), cao hơn so với kết quả trong nghiên cứu này (7,46 MJ/kg NT).
Một số nhóm nghiên cứu khác như De Avila và đồng tác giả (2006), Nouri-Emamzadeh và đồng
tác giả (2008), Donkoh và Attoh-Kotoku (2009) thông báo rằng, giá trị năng lượng trao đổi trong
khô dầu đậu tương lên đến 8,91 – 10,05 MJ/kg NT. Đối với đậu tương nguyên dầu, kết quả
nghiên cứu Zonta và đồng tác giả (2004) cho thấy giá trị ME
N
của đậu tương rang là 4296
kcal/kg DM, cao hơn kết quả trong nghiên cứu này (3148,56 kcal/kg DM). Ngược lại, theo nhóm
tác giả trên, năng lượng trao đổi có hiệu chỉnh nitơ trong đậu tương ép đùn chỉ đạt 3674 kcal/kg
DM, thấp hơn so với kết quả nghiên cứu của chúng tôi (4441,36 kcal/kg NT). Kết quả nghiên
cứu của Kan và đồng tác giả (1988) trên gà broiler cũng chỉ ra rằng giá trị năng lượng trao đổi
của đậu tương nguyên dầu đạt từ 3251 - 3692 kcal/kg DM hay từ 13,60 – 15,45 MJ/kg DM.
3.4. Giá trị năng lượng trao đổi có hiệu chỉnh nitơ trong bột cá Kết quả ở bảng 9 cho thấy năng lượng trao đổi của các khẩu phần chứa bột cá thí nghiệm
dao động từ 2819,38 kcal/kg DM (KBC3) đến 2917,74 kcal/kg DM (KBC1). Lượng nitơ tích lũy
từ các khẩu phần chứa bột cá thí nghiệm đạt giá trị thấp nhất là 17,025 g/kg DM (KBC3) và cao
nhất là 22,378 g/kg DM (KBC1). Giá trị ME
N
ở các khẩu phần chứa bột cá thí nghiệm biến động
từ 2679,43 – 2751,47 kcal/kg DM trong đó giá trị thấp nhất ở khấu phần chứa bột cá ngát
(KBC3) và cao nhất ở khẩu phần chứa bột cá liệt (KBC2). Tuy nhiên, trong trường hợp tính theo
trạng thái thức ăn, năng lượng trao đổi có hiệu chỉnh nitơ đạt giá trị thấp nhất ở khẩu phần chứa
bột cá elap (2339,19 kcal/kg NT).
Bảng 9. Giá trị ME
N
của các khẩu phần chứa bột cá
Chỉ số
2837,07
ab
± 22,50
Nitơ
tích lũy
g/kg DM
13,896
a
± 1,243
22,378
b
± 1,859
18,600
ac
±
1,384
17,025
bc± 0,979
17,200
ab
± 0,603
17,942
ab
± 13,83
MJ/kg DM
11,97
a
± 0,19
11,44
b ± 0,05
11,51
ab
± 0,05
11,21
c
± 0,04
11,21
bc
± 0,08
11,25
bc
± 0,06
Kcal/kg
NT
2471,04
10,10
a
± 0,04
10,37
b
± 0,05
10,01
cd
± 0,04
9,79
cd
± 0,07
9,80
d
± 0,05
DM: vật chất khô, NT: nguyên trạng; Các giá trị trung bình trong cùng một hàng có ít nhất một chữ cái giống
nhau thì sự sai khác không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05)
Bảng 10. Giá trị ME
N
của các loại bột cá thí nghiệm
Chỉ số
Đơn vị tính
Cá cơm
Cá liệt
± 0,24
9,68
a
± 0,26
8,18
b
± 0,22
8,18
ab
± 0,41
8,39
ab
± 0,29
Kcal/kg NT
1931,14
a
± 49,19
1996,94
a
± 52,63
1762,34
b
ME
N
*
Kcal/kg DM
2870,83
2533,73
2547,11
2904,33
2550,36
ME
N
**
Kcal/kg DM
3632,66
3169,37
3060,82
3324,61
2985,07
DM: vật chất khô, NT: nguyên trạng; MEN* : giá trị MEN ước tính từ công thức của Janssen (1989)(tdt NRC,
1994): MEN (kcal/kg DM) = 35,87× DM – 34,08 × Ash + 42,09 × EE; MEN**: giá trị MEN ước tính từ công thức của Lã Văn Kính (2003): MEN (kcal/kg DM) = -348 + 44,7 × CP + 72,3 × EE + 4,17 × CF + 37,0 ×
NfE; Các giá trị trung bình trong cùng một hàng có ít nhất một chữ cái giống nhau thì sự sai khác không có ý
nghĩa thống kê với p > 0,05)
Kết quả tính toán giá trị năng lượng trao đổi có hiệu chỉnh nitơ trong 05 loại bột cá thí
nghiệm theo phương pháp sai khác được trình bày ở bảng 10. Giá trị ME
N
(2003), giá trị ME
N
thu được bằng phương pháp thí nghiệm trực tiếp trên gà thấp hơn so với giá
trị ước tính từ 27,01 – 41,19%. Độ chênh lệch giữa giá trị năng lượng trao đổi ước tính từ 02
công thức trên dao động từ 12,64% đến 20,97%.
3.5. Tỉ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng của bột sắn, khô dầu đậu tương, đậu tương ép đùn
và bột cá cơm
Tỉ lệ tiêu hóa chất dinh dưỡng tổng số của các loại thức ăn thí nghiệm được xác định ở 2
mức độ là hồi tràng (tỉ lệ tiêu hóa hồi tràng) và toàn bộ đường tiêu hóa (tỉ lệ tiêu hóa toàn phần)
bằng phương pháp sai khác. Do hoạt động của vi sinh vật tập trung ở ruột sau và các vị trí hấp
thu chính của amio acid là ở không tràng và hồi tràng, từ năm 1968, Payne và đồng tác giả đã
cho rằng phân tích hồi tràng là phương pháp đáng tin cậy hơn so với phân tích chất thải khi đánh
giá tiêu hóa protein và amino acid (tdt Bryden, Li, 2004). Tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến protein tổng số
ở hồi tràng đạt giá trị cao nhất là 88,28% đối với bột cá cơm (bảng 12). Đối với 02 loại thức ăn
cung cấp protein thực vật là khô dầu đậu tương và đậu tương nguyên dầu ép đùn, tỷ lệ tiêu hóa
biểu kiến CP ở hồi tràng lần lượt là 84,07% và 83,64%, thấp hơn so với bột cá cơm. Hệ số tiêu
hóa protein tổng số trong bột sắn KM94 Hồng Hạ là thấp nhất (77,60%). Xu hướng này hoàn
toàn phù hợp với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác như Kan và đồng tác giả (1988),
Bryden và Li (2004), Donkoh và Attoh-Kotoku (2009). Bảng 11. Tỉ lệ tiêu hóa biểu kiến các chất dinh dưỡng của các khẩu phần thí nghiệm
Chỉ số
KPCS
KBS1
KSBM
KĐN5
KBC1
TLTH
hồi tràng
± 0,32
14,89
± 0,14
NfE (%)
74,09
± 0,60
75,60
± 1,32
73,47
± 0,67
77,65
± 0,15
71,32
± 0,77
TLTH
toàn phần
EE (%)
69,22
± 3,90
65,40
± 0,45
69,28
± 0,10
71,30
± 0,45
69,22
± 3,90
CF (%)
13,85
± 0,31
Bảng 12. Tỉ lệ tiêu hóa biểu kiến các chất dinh dưỡng của các thức ăn thí nghiệm
Chỉ số
Sắn KM94
Hồng Hạ
Khô dầu
đậu tương
Đậu tương ép
đùn
Cá cơm
TLTH
hồi tràng
CP (%)
77,60 ± 1,60
84,07 ± 1,55
83,64 ± 1,02
88,28 ± 2,18
EE (%)
52,04 ± 3,61
67,81 ± 0,43
72,56 ± 2,33
48,94 ± 1,41
CF (%)
72,76 ± 3,37
63,05 ± 1,24
63,93 ± 1,62
47,86 ± 0,68
NfE (%)
81,67 ± 6,59
71,01 ± 1,25
Theo Amipig (2000), tỷ lệ tiêu hóa CP biểu kiến trong bột cá ở gia cầm là 87,30%, thấp
hơn so với kết quả trong nghiên cứu này (88,28%). Trong khi đó, kết quả nghiên cứu của
Donkoh và Attoh-Kotoku (2009) trên gà broiler cho thấy tỷ lệ tiêu hóa CP hồi tràng đối với bột
cá loại I lên đến 91,8%. Đối với khô dầu đậu tương và đậu tương nguyên dầu, kết quả xác định tỷ
lệ tiêu hóa protein tổng số trong thức ăn thí nghiệm của các nhóm tác giả khác cũng cho giá trị cao hơn kết quả của chúng tôi. Theo Bryden và Li (2004), Huang và đồng tác giả (2007) cho
thấy tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến CP hồi tràng trong khô dầu đậu tương ở gà broiler đạt từ 85 – 86%.
Kan và đồng tác giả (1988) cũng thông báo rằng tỷ lệ tiêu hóa CP trong đậu tương nguyên dầu ở
gà broiler dao động từ 87 – 91%.
Kết quả ở bảng 12 cũng cho thấy tỷ lệ tiêu hóa hồi tràng các chất dinh dưỡng tổng số
trong các thức ăn thí nghiệm có xu hướng thấp hơn so với tỷ lệ tiêu hóa toàn phần. Điều này
hoàn toàn hợp lý do các chất dinh dưỡng được tiếp tục tiêu hóa và hấp thu ở ruột già nhờ hoạt
động của vi sinh vật. Tuy nhiên, mức độ tiêu hóa các chất dinh dưỡng ở ruột già là không giống
nhau. Lipid chủ yếu được tiêu hóa và hấp thu ở ruột non. Chính vì vậy, sự chênh lệch giữa tỷ lệ
tiêu hóa lipid tổng số khi đánh giá ở hồi tràng so với trên toàn bộ đường tiêu hóa là không đáng
kể (bảng 12). Ngược lại, mức độ tiêu hóa NfE tính trên toàn đường tiêu hóa cao hơn nhiều so với
ở hồi tràng. Tỷ lệ tiêu hóa NfE toàn phần thấp nhất ở bột cá cơm (89,13%) và cao nhất ở đậu
tương nguyên dầu ép đùn (96,20%). Tương tự, do sự phân giải xơ xảy ra chủ yếu ở manh tràng
nhờ hoạt động của các vi sinh vật nên tỷ lệ tiêu hóa xơ trong các thức ăn thí nghiệm ở hồi tràng
thấp hơn đáng kể so với tỷ lệ tiêu hóa toàn phần (bảng 12). Tỷ lệ tiêu hóa xơ thô toàn phần đạt
giá trị cao nhất là 80,99% đối với bột sắn KM94 Hồng Hạ và thấp nhất là 64,59% đối với bột cá
cơm. Tỷ lệ tiêu hóa xơ thô toàn phần của khô dầu đậu tương và đậu tương nguyên dầu ép đùn
chênh lệch không đáng kể (72,43% ở khô dầu đậu tương và 74,36% ở đậu tương ép đùn). Tỷ lệ
tiêu hóa NDF toàn phần trong các thức ăn thí nghiệm dao động từ 80,63% (đối với bột sắn
KM94 Hồng Hạ ) đến 92,17% (đối với bột cá cơm). Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy
chất hữu cơ trong 04 loại thức ăn thí nghiệm đã được tiêu hóa tốt. Tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ ở
hồi tràng đạt từ 76,84% (ở khô dầu đậu tương) đến 85,48% (ở bột cá cơm).
4. Kết luận
MJ/kg NT (cá liệt), thấp hơn nhiều so với kết quả ước tính. Độ chênh lệch giữa giá trị ME
N
thu
được từ thí nghiệm in vivo thấp hơn giá trị ước tính từ 8,70 – 32,68% (trong trường hợp sử dụng
công thức của Janssen, 1989) hay từ 27,01 – 41,19% (trong trường hợp áp dụng công thức của
Lã Văn Kính, 2003).
5. Tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến CP ở hồi tràng của sắn KM94 Hồng Hạ, khô dầu đậu tương,
đậu tương ép đùn và bột cá cơm lần lượt là 77,60%; 84,07%; 83,64% và 88,28%. Trong khi đó tỉ
lệ tiêu hóa OM hồi tràng của các loại thức ăn trên lần lượt là 81,27%; 76,84%; 82,20% và
85,48%.
6. Tỷ lệ tiêu hóa xơ thô toàn phần dao động từ 64,59% (cá cơm) đến 80,99% (sắn KM94
Hồng Hạ). Ngược lại tỷ lệ tiêu hóa NDF toàn phần cao nhất ở bột cá cơm (92,17%) và thấp nhất
ở bột sắn KM94 Hồng Hạ (80,63%)
7. Tỷ lệ tiêu hóa NfE ở hồi tràng thấp hơn so với tỷ lệ tiêu hóa toàn phần. Tỷ lệ tiêu hóa
NfE toàn phần cao nhất ở đậu tương nguyên dầu xử lý bằng phương pháp ép đùn (96,20%).
Tài liệu tham khảo
1. Aina ABJ and Fanimo AO (1997). Substitution of maize with cassava and sweet potato meal as the energy
source in the rations of layer birds. Pertanika J Trop Agric Sci, 20, p. 163-167.
2. Amipig (2000). Ileal standardised digestibility of animal acids in feedstuffs for pigs. Ajinomoto
Eurolysine, Aventis Animal Nutrition, INRA-UMRVP and ITCF, France.
3. AOAC (1990). Official methods of analysis. Fifteenth edition. Published by the Association of Official
Analytical Chemists, Inc., Arlington-Virginia-USA. 1223pp.
4. Balagopalan C (2002). Cassava Utilization in Food, Feed and Industry. In: Cassava: Biology, Production
and Utilization. Hillocks RJ, Thresh JM, and Bellotti AC (eds). CABI Publishing. 332pp.
5. Bryden WL and Li X (2004). Utilisation of digestible amino acids by broilers. RIRDC Publication No
04/030.
6. De Avila VS, Paula A, De Brum PAR, Júnior WB, Maier JC (2006). Uso da metodologia de coleta total de
excretas na determinação da energia metabolizável em rações para frangos de corte ajustadas ou não
quanto aos níveis de vitaminas e minerais. R Bras Zootec, 35(4), p.1691-1695 (supl.)
19. Nouri-Emamzadeh A, Yaghobfar A, Sadeghi AA, Mirhadi SA, and Chamani M (2008). Determination of
metabolizable energy in soybean, sunflower and canola meals using caecectomised and intact adult
cockerels. J Anim Vet Adv, 7(3), p. 235-238.
20. NRC (1994). Nutrition requirements of poultry. Ninth revised edition. National Academy Press,
Washington D.C.
21. Onimisi PA, Dafwang II, Omage JJ, and Onyibe JE (2008). Apparent digestibility of feed nutrients, total
tract and ileal amino acids of broiler chicken fed quality protein maize (Obatampa) and normal maize. Int
J Poult Sci, 7(10), p.959-963.
22. Ravindran V and Bryden WL (1999). Amino acid availability in poultry - in vitro and in vivo
measurements. Aust J Agric Res, 50(5), p.889 – 908.
23. Stevenson MH (2006). The nutritional value of cassava root meal in laying hen diets. J Sci Food Agric,
35(1), p. 36 – 40.
24. Tôn Thất Sơn, Nguyễn Thị Mai (2007). Xác định giá trị năng lượng trao đổi (ME) của một số giống đỗ
tương làm thức ăn cho gia cầm bằng phương pháp trực tiếp. Tạp chí KHKT Nông nghiệp, 4, p.33-37.
25. Varga-Visi É, Albert Cs, Lóki K, and Csapó J (2006). Evaluation of the inactivation of heat sensitive
antinutritive factors in fullfat soybean. Krmiva, 48(4), p. 201-205.
26. Viện Chăn nuôi (2001). Thành phần và giá trị dinh dưỡng thức ăn gia súc - gia cầm Việt Nam. NXB Nông
nghiệp Hà Nội.
27. Vogtmann H, Pfirter HP, and Prabucki AL (1975). A new method of determining metabolisability of
energy and digestibility of fatty acids in broiler diets. Br Poult Sci, 16(5), p.531-534.
28. Vũ Duy Giảng, Nguyễn Thị Mai, Tôn Thất Sơn (2000). Kết quả xác định giá trị năng lượng trao đổi (ME)
của một số loại ngô đỏ làm thức ăn cho gia cầm bằng phương pháp trực tiếp. Tạp chí Khoa học Nông
nghiệp, 9, p.95-104. 29. Zarei A (2006). Apparent and True Metabolizable Energy in Artemia Meal. Int J Poult Sci 5 (7), p. 627-
628.
30. Zonta MCM, Rodrigues PB, Zonta A, De Freitas RTF , Bertechini AG, Fialho ET, Pereira CR (2004).
Energia metabolizável de ingredientes protéicos determinada pelo método de coleta total e por equações de
predição. Ciênc. agrotec., Lavras, 28(6), p. 1400-1407.