Chuyên đề tốt nghiệp
Lời mở đầu 4
Phần 1:Lý thuyết chung về Phân tích tài chính doanh nghiệp.5
1.1.Khái niệm và vai trò của Phân tích tài chính doanh nghiệp 5
1.1.1.Khái niệm và vai trò của Tài chính doanh
nghiệp 5
1.1.2.Vai trò của Tài chính doanh nghiệp
1.1.2.1.Đối với nhà quản lý 8
1.1.2.2.Đối với nhà đầu tư 10
1.1.2.3.Đối với chủ nợ 11
1.1.2.4.Đối với cán bộ công nhân viên 12
1.1.3.Nhiệm vụ của Phân tích tài chính 13
1.2.Thu thập thông tin sử dụng trong Phân tích tài chính doanh
nghiệp 13
1.2.1.Bảng Cân đối kế toán 14
1.2.2.Bỏo cáo kết quả kinh
doanh 14
1.2.3.Bỏo cáo lưu chuyển tiền
tệ 16
1.3.Các bước tiến hành Phân tích tài chính 16
1.3.1.Các bước tiến hành Phân tích tài chính 17
1.3.1.1.Thu thập thông tin 17
1.3.1.2.Xử lý thông tin 17
1.3.1.3.Dự đoán và quyết định 17
1.3.2.Trình tự Phân tích tài chính 18
1.4.Các phương pháp Phân tích tài chính 19
1.4.1.Phương pháp so sánh 19
1
Chuyên đề tốt nghiệp
1.4.2.Phương pháp liên hệ cân đối 20
1.5.Nội dung Phân tích tài chính doanh nghiệp 20
2.2.6.Thị trường và đối thủ cạnh tranh 51
2.3.Đặc điểm cơ cấu tổ chức-nguồn nhân lực 52
2.3.1.Cơ cấu tổ chức 52
2.3.2.Nguồn nhân lực và chính sách đối với Người lao động 57
2.4.Quy trình Sản xuất và phát triển sản phẩm 58
2.4.1.Quy trình sản xuất sản phẩm 58
2.4.2.Trình độ công nghệ 59
2.4.3.Nguồn nguyên liệu 62
2.4.4.Tỡnh hình kiểm tra chất lượng sản
phẩm 62
2.5.Thực trạng phân tích tài chính của công ty 63
2.5.1.Đỏnh giá khái quát tình hình tài chính của Công ty 63
2.5.2.Phõn tớch cỏc chỉ số tài
chính 68
2.5.2.1.Tỷ số về khả năng thanh toán 68
2.5.2.2.Tỷ số về khả năng hoạt động 70
2.5.2.3.Tỷ số về khả năng sinh lợi 73
2.5.2.4.Tỷ số đòn bẩy tài chính 74
2.6.Nhận xét về PTTC của Công ty CP in Diên Hồng 76
2.6.1.Nhận xét về tình hình tài chính của Công ty 76
2.6.2.Nhận xét về PTTC của Công ty 78
3
Chuyên đề tốt nghiệp
Phần 3:Giải pháp hoàn thiện PTTC 79
3.1.Những đánh giá chung vê Công ty Cổ phần in Diên Hồng 79
3.2.Giải pháp hoàn thiện PTTC của Công ty 87
Kết luận 88
Danh mục tài liệu tham khảo 89
Lời mở đầu
Trong nền kinh tế thị trường, tình hình tài chính của doanh nghiệp là một
Tài chính là tất cả các mối liên hệ kinh tế biểu hiện dưới hình thức tiền
tệ phát sinh trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ tồn tại
khách quan trong quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp.
Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các mối liên hệ kinh tế gắn liền với
việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ tại doanh nghiệp để phục vụ cho
hoạt động sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp và góp phần tích luỹ vốn
cho Nhà nước.
Những quan hệ kinh tế thuộc phạm vi tài chính doanh nghiệp:
o Những quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với Nhà nước.
o Những mối quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với thị trường.
5
Chuyên đề tốt nghiệp
o Những quan hệ kinh tế trong nội bộ doanh nghiệp.
Những quan hệ kinh tế trên được biểu hiện trong sự vận động của tiền tệ
thông qua việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ, vì vậy thường được
xem là các quan hệ tiền tệ. Những quan hệ này một mặt phản ánh rõ doanh
nghiệp là một đơn vị kinh tế độc lập, chiếm địa vị chủ thể trong quan hệ kinh
tế, đồng thời phản ảnh rõ nét mối liên hệ giữa tài chính doanh nghiệp với cỏc
khõu khỏc trong hệ thống tài chính.
*Vai trò của Tài chính doanh nghiệp
- Huy động và bảo đảm cung cấp đầy đủ, kịp thời vốn cho hoạt động SXKD
của doanh nghiệp.
Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp thường nảy sinh các nhu cầu
vốn ngắn hạn và dài hạn cho hoạt động SXKD thường xuyên của doanh
nghiệp cũng như cho đầu tư phát triển. Vai trò của tài chính doanh nghiệp
trước hết thể hiện ở chỗ xác định đúng đắn các nhu cầu vốn cần thiết cho
hoạt động của doanh nghiệp trong từng thời kỳ, tiếp đó phải lựa chọn các
phương pháp và hình thức thích hợp huy động vốn từ bên trong và bên
ngoài, đáp ứng kịp thời các nhu cầu vốn cho hoạt động của doanh nghiệp.
Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế đã nảy sinh nhiều hình thức
Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp hay cụ thể hoá là việc
phân tích các báo cáo tài chính của doanh nghiệp là quá trình kiểm tra, đối
chiếu, so sánh các số liệu, tài liệu về tình hình tài chính hiện hành và trong
7
Chuyên đề tốt nghiệp
quá khứ nhằm mục đớch đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như
những rủi ro trong tương lai. Báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp
nhất về tình hình tài sản, vốn và công nợ cũng như tình hình tài chính, kết
quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp. Báo cáo tài chính rất hữu ích đối
việc quản trị doanh nghiệp, đồng thời là nguồn thông tin tài chính chủ yếu
đối với những người bên ngoài doanh nghiệp. Do đó, phân tích báo cáo tài
chính là mối quan tâm của nhiều nhóm người khác nhau như nhà quản lý
doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các cổ đông, các chủ nợ, các khách hàng, các
nhà cho vay tín dụng, các cơ quan chính phủ, người lao động Mỗi nhóm
người này có những nhu cầu thông tin khác nhau.
Phân tích tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác quản
lý tài chính doanh nghiệp. Trong hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở
hữu khác nhau đều bình đẳng trước pháp luật trong việc lựa chọn ngành
nghề, lĩnh vực kinh doanh. Do vậy sẽ có nhiều đối tượng quan tâm đến tình
hình tài chính của doanh nghiệp như : chủ doanh nghiệp, nhà tài trợ, nhà
cung cấp, khách hàng kể cả các cơ quan Nhà nước và người làm công, mỗi
đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp trờn cỏc gúc độ
khác nhau.
1.1.2.1. Đối với người quản lý doanh nghiệp :
Đối với người quản lý doanh nghiệp mối quan tâm hàng đầu của họ là
tìm kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ. Một doanh nghiệp bị lỗ liên tục sẽ bị
cạn kiệt các nguồn lực và buộc phải đóng cửa. Mặt khác, nếu doanh nghiệp
không có khả năng thanh toán nợ đến hạn cũng bị buộc phải ngừng hoạt
động.
Nhà quản lý tài chính phải chịu trách nhiệm điều hành hoạt động tài
chính và dựa trên cơ sở các nghiệp vụ tài chính thường ngày để đưa ra các
quyết định vì lợi ích của cổ đông của doanh nghiệp. Các quyết định và hoạt
động của nhà quản lý tài chính đều nhằm vào các mục tiêu tài chính của
doanh nghiệp : đó là sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, tránh được sự
căng thẳng về tài chính và phá sản, có khả năng cạnh tranh và chiếm được
thị phần tối đa trên thương trường, tối thiểu hoá chi phí, tối đa hoá lợi nhuận
và tăng trưởng thu nhập một cách vững chắc. Doanh nghiệp chỉ có thể hoạt
động tốt và mang lại sự giàu có cho chủ sở hữu khi các quyết định của nhà
quản lý được đưa ra là đúng đắn. Muốn vậy, họ phải thực hiện phân tích tài
chính doanh nghiệp, các nhà phân tích tài chính trong doanh nghiệp là
những người có nhiều lợi thế để thực hiện phân tích tài chính một cách tốt
nhất.
Trên cơ sở phân tích tài chính mà nội dung chủ yếu là phân tích khả
năng thanh toán, khả năng cân đối vốn, năng lực hoạt động cũng như khả
năng sinh lãi, nhà quản lý tài chính có thể dự đoán về kết quả hoạt động nói
chung và mức doanh lợi nói riêng của doanh nghiệp trong tương lai. Từ đó,
họ có thể định hướng cho giám đốc tài chính cũng như hội đồng quản trị
trong các quyết định đầu tư, tài trợ, phân chia lợi tức cổ phần và lập kế
hoạch dự báo tài chính. Cuối cùng phân tích tài chính còn là công cụ để
kiểm soát các hoạt động quản lý.
1.1.2.2. Đối với các nhà đầu tư vào doanh nghiệp
Đối với các nhà đầu tư, mối quan tâm hàng đầu của họ là thời gian
hoàn vốn, mức sinh lãi và sự rủi ro. Vì vậy, họ cần các thông tin về điều kiện
tài chính, tình hình hoạt động, kết quả kinh doanh và tiềm năng tăng trưởng
của các doanh nghiệp.
10
Chuyên đề tốt nghiệp
Trong doanh nghiệp Cổ phần, các cổ đông là người đã bỏ vốn đầu tư
vào doanh nghiệp và họ có thể phải gánh chịu rủi ro. Những rủi ro này liên
thực hiện nhằm mục đớch đánh giá khả năng sinh lợi và tăng trưởng của
doanh nghiệp thì phân tích tài chính lại được các ngân hàng và các nhà cung
cấp tín dụng thương mại cho doanh nghiệp sử dụng nhằm đảm bảo khả năng
trả nợ của doanh nghiệp.
Trong nội dung phân tích này, khả năng thanh toán của doanh nghiệp
được xem xét trên hai khía cạnh là ngắn hạn và dài hạn. Nếu là những khoản
cho vay ngắn hạn, người cho vay đặc biệt quan tâm đến khả năng thanh toán
nhanh của doanh nghiệp, nghĩa là khả năng ứng phó của doanh nghiệp đối
với các món nợ khi đến hạn trả. Nếu là những khoản cho vay dài hạn, người
cho vay phải tin chắc khả năng hoàn trả và khả năng sinh lời của doanh
nghiệp mà việc hoàn trả vốn và lãi sẽ tuỳ thuộc vào khả năng sinh lời này.
Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng, mối quan tâm
của họ chủ yếu hướng vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Vì vậy, họ chú
ý đặc biệt đến số lượng tiền và các tài sản khác có thể chuyển nhanh thành
tiền, từ đó so sánh với số nợ ngắn hạn để biết được khả năng thanh toán tức
thời của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, các chủ ngân hàng và các nhà cho vay
tín dụng cũng rất quan tâm tới số vốn của chủ sở hữu, bởi vì số vốn này là
khoản bảo hiểm cho họ trong trường hợp doanh nghiệp bị rủi ro. Như vậy,
kỹ thuật phân tích có thể thay đổi theo bản chất và theo thời hạn của các
khoản nợ, nhưng cho dù đó là cho vay dài hạn hay ngắn hạn thì người cho
vay đều quan tâm đến cơ cấu tài chính biểu hiện mức độ mạo hiểm của
doanh nghiệp đi vay.
12
Chuyên đề tốt nghiệp
Đối với các nhà cung ứng vật tư hàng hoá, dịch vụ cho doanh nghiệp,
họ phải quyết định xem có cho phép khách hàng sắp tới được mua chịu hàng
hay không, họ cần phải biết được khả năng thanh toán của doanh nghiệp
hiện tại và trong thời gian sắp tới.
1.1.2.4. Đối với người lao động trong doanh nghiệp
Bên cạnh các nhà đầu tư, nhà quản lý và các chủ nợ của doanh nghiệp,
toán.
Các báo cáo tài chính gồm có:
1.2.1. Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán: Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài
chính tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn
hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định.
Bảng cân đối kế toán được chia làm 2 phần: phần tài sản và
phần nguồn vốn
- Phần tài sản: các chỉ tiêu ở phần tài sản phản ánh toàn bộ giá trị
tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo theo cơ cấu tài sản và
hình thức tồn tại trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp. Tài sản được
phân chia như sau:
A: Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn
B: Tài sản cố định và đầu tư dài hạn
- Phần nguồn vốn: Phản ánh nguồn hình thành tài sản hiện có tại
doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo. Các chỉ tiêu nguồn vốn thể hiện trách
14
Chuyên đề tốt nghiệp
nhiệm pháp lý của doanh nghiệp đối với tài sản đang quản lý và sử dụng ở
doanh nghiệp. Nguồn vốn được chia ra:
A: Nợ phải trả
B: Nguồn vốn chủ sở hữu
1.2.2. Báo cáo kết quả kinh doanh
Một loại thông tin không kém phần quan trọng được sử dụng trong
phân tích tài chính là thông tin phản ánh trong báo cáo kết quả sản xuất kinh
doanh. Khác với bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh
cho biết sự dịch chuyển của vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp; nó cho phép dự tính khả năng hoạt động của doanh nghiẹp
trong tương lai. Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh đồng thời cũng giúp
cho nhà phân tích so sánh doanh thu và số tiền thực nhập quỹ khi bán hàng
Nếu số thuế còn phải nộp lớn chứng tỏ tình hình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp là không khả quan.
Như vậy, việc phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh sẽ
giúp ta có những nhận định sâu sắc và đầy đủ hơn về tình hình tài chính của
doanh nghiệp.
1.2.3. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh việc
hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh
nghiệp.
16
Chuyên đề tốt nghiệp
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ phản ánh đầy đủ các dòng thu và chi tiền và
tương đương tiền của doanh nghiệp trong một niên độ kế toán. Nó cung cấp
thông tin về những dòng tiền vào, ra của doanh nghiệp trong một thời kỳ
nhất định.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ còn gọi là báo cáo ngân lưu, được tổng hợp
bởi ba dũng ngõn lưu, từ ba hoạt động của doanh nghiệp:
o Hoạt động kinh doanh
o Hoạt động đầu tư
o Hoạt động tài chính
1.3. Các bước tiến hành phân tích tài chính
1.3.1.Các bước tiến hành phân tích tài chính
1.3.1.1. Thu thập thông tin
Phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lý giải và
thuyết minh thực trạng hoạt động tài chính doanh nghiệp, phục vụ cho quá
trình dự đoán tài chính. Nó bao gồm cả những thông tin nội bộ đến những
thông tin bên ngoài, những thông tin kế toán và những thông tin quản lý
khác, những thông tin về số lượng và giá trị trong đó các thông tin kế toán
phản ánh tập trung trong các báo cáo tài chính doanh nghiệp, là những
nguồn thông tin đặc biệt quan trọng. Do vậy, phân tích tài chính trên thực tế
- Tập hợp các bảng biểu
Xác định các biểu hiện đặc trưng Giải thích và đánh giá các chỉ số,
bảng biểu
- Biểu hiện hoặc hội chứng khó khăn
- Điểm mạnh và điểm yếu
- Cân bằng tài chính
- Năng lực hoạt động tài chính
- Cơ cấu vốn và chi phí vốn
- Cơ cấu đầu tư và doanh lợi
18
Chuyên đề tốt nghiệp
Phân tích thuyết minh
- Nguyên nhân khó khăn
- Phương tiện thành công và điều kiện bất
lợi
Tổng hợp quan sát
Tiên lượng và chỉ dẫn
Xác định :
- Hướng phát triển
- Giải pháp tài chính hoặc GP khác
Tuy nhiên, trình tự phân tích và một số tiểu tiết cũng có thể thay đổi
hoặc bỏ qua một số bước tuỳ thuộc vào từng điều kiện của từng doanh
nghiệp.
1.4. Các phương pháp phân tích tài chính
Để nắm được một cách đầy đủ thực trạng tài chính cũng như tình hình
sử dụng tài sản của doanh nghiệp, cần thiết phải đi sâu xem xét các mối quan
hệ và tình hình biến động của các khoản mục trong từng báo cáo tài chính và
giữa các báo cáo tài chính với nhau.
Việc phân tích báo cáo tài chính thường được tiến hành bằng hai
trên cơ sở đó có thể xác định ảnh hưởng của các yếu tố.
Những liên hệ cân đối thường gặp như:
o Cân đối giữa tài sản và nguồn vốn
o Cân đối giữa nguồn thu và nguồn chi
o Cân đối giữa nhu cầu sử dụng vốn và khả năng thanh
toán
1.5.Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp
20
Chuyên đề tốt nghiệp
1.5.1. Đánh giá khái quát về tài sản và nguồn vốn
Đánh giá khái quát về vốn (tài sản) và nguồn vốn là căn cứ vào các số
liệu phản ánh trên bảng cân đối kế toán để so sánh tổng tài sản và tổng
nguồn vốn giữa cuối kỳ với đầu kỳ để thấy được quy mô vốn mà đơn vị sử
dụng trong kỳ cũng như khả năng sử dụng vốn từ các nguồn vốn khác nhau
của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào sự tăng giảm tổng số tài sản và tổng số
nguồn vốn thì chưa thể thấy rõ tình hình tài chính của doanh nghiệp được.
Vì vậy cần phải phân tích mối quan hệ giữa các khoản mục của bảng cân đối
kế toán.
1.5.2. Phân tích các hoạt động tài chính và phân tích các tỷ lệ tài
chính.
1.5.2.1. Phân tích các tỷ lệ tài chính
Trong phân tích tài chính, các tỷ lệ tài chính chủ yếu thường được
phân thành 4 nhúm chớnh. Đó là : nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán, nhóm
tỷ lệ về khả năng cân đối vốn, nhóm tỷ lệ về khả năng hoạt động, nhóm tỷ lệ
về khả năng sinh lãi. Nhìn chung, mối quan tâm trước hết của các nhà phân
tích tài chính là tình hình tài chính của doanh nghiệp có lành mạnh không?
Liệu doanh nghiệp có khả năng đáp ứng được những khoản nợ đến hạn
không? Nhưng tuỳ theo mục đớch phân tích tài chính mà nhà phân tích tài
chính chú trọng nhiều hơn đến nhóm tỷ lệ này hay nhóm tỷ lệ khác. Chẳng
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp phản ánh mối quan hệ tài
chính giữa các khoản phải có khả năng thanh toán trong kỳ với các khoản
phải thanh toán trong kỳ. Việc phân tích các tỷ lệ về khả năng thanh toán
không những giúp cho các chủ nợ giảm được rủi ro trong quan hệ tín dụng
22
Chuyên đề tốt nghiệp
và bảo toàn được vốn của mình mà cũn giỳp cho bản thân doanh nghiệp thấy
được khả năng chi trả thực tế để từ đó có biện pháp kịp thời trong việc điều
chỉnh các khoản mục tài sản cho hợp lý nhằm nâng cao khả năng thanh toán.
Các tỷ lệ về thanh toán bao gồm :
Hệ số thanh toán hiện hành
Là tỷ lệ được tính bằng cách chia tài sản lưu động cho nợ ngắn hạn.
Tài sản lưu động thường bao gồm tiền, các chứng khoán dễ chuyển nhượng,
các khoản phải thu và dự trữ (tồn kho); còn nợ ngắn hạn thường bao gồm
các khoản vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các khoản phải
trả nhà cung cấp, các khoản phải trả khỏc Cả tài sản lưu động và nợ ngắn
hạn đều có thời hạn nhất định - tới một năm. Tỷ lệ khả năng thanh toán
chung là thước đo khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp, nó cho
biết mức độ các khoản nợ của các chủ nợ ngắn hạn được trang trải bằng các
tài sản có thể chuyển thành tiền trong một giai đoạn tương ứng với thời hạn
của các khoản nợ đó.
Công thức của khả năng thanh toán chung như sau :
Hệ số thanh toán hiện
hành(ngắn hạn)
=
Tài sản lưu động
Nợ ngắn hạn
Tỷ lệ này có giá trị càng cao thì khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của
doanh nghiệp càng tốt và ngược lại. Nờỳ khả năng thanh toán chung nhỏ
hệ số thanh toán tức thời là tốt hay xấu cần xét đến đặc điểm và điều kiện
kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu hệ số này nhỏ hơn 0,5 thì doanh nghiệp
sẽ gặp khó khăn trong việc thanh toán nợ.
1.5.2.1.2.Các tỷ lệ về khả năng cân đối vốn
Tỷ lệ này được dùng để đo lường phần vốn góp của các chủ sở hữu
doanh nghiệp so với phần tài trợ của chủ nợ cho doanh nghiệp. Nú cũn được
coi là tỷ lệ đòn bẩy tài chính và có ý nghĩa quan trọng trong phân tích tài
chính. Bởi lẽ, các chủ nợ nhìn vào số vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp để
24
Chuyên đề tốt nghiệp
thể hiện mức độ tin tưởng vào sự bảo đảm an toàn cho các món nợ. Nếu chủ
sở hữu chỉ đóng góp một tỷ lệ nhỏ trong tổng nguồn vốn thì rủi ro trong hoạt
động sản xuất kinh doanh là do các chủ nợ gánh chịu. Mặt khác, bằng cách
tăng vốn thông qua vay nợ, các chủ doanh nghiệp vẫn nắm được quyền kiểm
soát và điều hành doanh nghiệp. Ngoài ra, các khoản vay cũng tạo ra những
khoản tiết kiệm nhờ thuế do chi phí cho vốn vay là chi phí trước thuế.
Những doanh nghiệp có tỷ lệ này thấp phải chịu rủi ro lỗ ít hơn khi
nền kinh tế suy thoái đồng thời có lợi nhuận kỳ vọng thấp hơn so với doanh
nghiệp có tỷ lệ này cao trong nền kinh tế bùng nổ. Hay nói cách khác, những
doanh nghiệp có tỷ lệ nợ cao có nguy cơ lỗ lớn nhưng lại có cơ hội nhận
được lợi nhuận cao. Tuy lợi nhuận kỳ vọng cao nhưng phần lớn các nhà đầu
tư đều rừ´t so? rủi ro. Vì thế quyết định về sử dụng nợ phải được cân bằng
giữa lợi nhuận và rủi ro.
Trên cơ sở phân tích kết cấu nguồn vốn, doanh nghiệp sẽ nắm được
khả năng tự tài trợ về mặt tài chính, mức độ chủ động trong sản xuất kinh
doanh hay những khó khăn mà doanh nghiệp gặp phải trong việc khai thác
nguồn vốn.
Tỷ lệ nợ trên tổng tài sản
Hệ số nợ =
Nợ