1 | P a g e
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự ra đời và phát triển của thị trường Tài chính ở nước ta,
các Ngân hàng thương mại (NHTM) đang từng bước thể hiện vai trò
không thể thiếu của mình trong nền kinh tế. Sự lựa chọn đầu tiên của các
tổ chức cá nhân khi thiếu vốn là tìm tới các NHTM, vì vậy mà hoạt động
của các NHTM có ảnh hưởng rất to lớn tới hoạt động cũng như sự phát
triển của các tổ chức kinh tế khác trong nền kinh tế.
Một thành phần kinh tế cơ bản trọng yếu trong nền kinh tế nữa đó
là Doanh nghiệp, cụ thể là Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN). Đặc
điểm nổi bật của các Doanh nghiệp này đó là sự tích luỹ các yếu tố sản
xuất rất phù hợp với tình hình nước ta hiện nay.
Có thể nói, hai tổ chức kinh tế này đang là hai cực lam châm của
nền kinh tế Việt Nam. Với đặc điểm bẩm sinh của mình, các DNVVN
không thể không quan hệ vay vốn với các NHTM. Ngược lại, nó cũng là
Khách hàng thường xuyên của các NHTM.
Như vậy là mối quan hệ giữa hai thành phần kinh tế này là rất đáng
quan tâm. Ở đây là quan hệ tín dụng, quan hệ cung cấp và tiếp nhận vốn
kinh doanh. Chất lượng tín dụng đối với các DNVVN từ trước tới nay
luôn được các NHTM quan tâm hàng đầu.
Trước thực tế đó, trong quá trình thực tập tại Ngân hàng Công
thương Hưng Yên, ngoài việc học hỏi thực tế về các lĩnh vực hoạt động
2 | P a g e
của Ngân hàng, em còn chú tâm nghiên cứu về lĩnh vực“ Nâng cao Chất
lượng tín dụng đối với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng
thương mại, cụ thể là Ngân hàng Công thương Hưng Yên.”
Bài viết gồm có 3 chương:
Chương I: Chất lượng tín dụng đối với Doanh nghiệp vừa và
nhỏ của Ngân hàng thương mại.
Chương II: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với Doanh
nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Công thương tỉnh Hưng Yên.
nhà máy, mua sắm trang thiết bị. Khi Doanh nghiệp và người tiêu dùng
phải thanh toán các khoản mua hàng hoá và dịch vụ, họ thường sử dụng
séc, uỷ nhiệm chi, thẻ tín dụng hay tài khoản điện tử.v.v… và khi họ cần
thông tin tài chính hay lập kế hoạch tài chính, họ thường tới Ngân hàng
để được nhận lời tư vấn. Các khoản tín dụng của Ngân hàng cho chính
phủ (thông qua chứng khoán Chính phủ) là nguồn Tài chính quan trọng
để đầu tư, phát triển. Ngân hàng thực hiện các chính sách kinh tế, đặc biệt
là các chính sách tiền tệ, vì vậy là công cụ quan trọng trong chính sách
kinh tế của Chính phủ nhằm phát triển kinh tế bền vững. Do đó, cần phải
nghiên cứu và hiểu một cách cặn kẽ về loại hình tổ chức này để có thể
vận hành và quản lý một cách có hiệu quả.
Ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng đối với nền kinh tế.
Các Ngân hàng có thể được định nghĩa theo chức năng, các dịch vụ cụ thể
hoặc vai trò mà chúng có thể thực hiện trong nền kinh tế. Vấn đề ở chỗ
các yếu tố trên đang không ngừng thay đổi, thực tế có rất nhiều các Tổ
chức Tài chính – bao gồm cả các Công ty chứng khoán, các Công ty môi
giới chứng khoán, quỹ hỗ trợ và các công ty bảo hiểm hàng đầu đều đang
cố gắng cung cấp các dịch vụ ngân hàng. Ngược lại, ngân hàng cũng
đang mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ về bất động sản và môi giới
chứng khoán, tham gia hoạt động bảo hiểm, đầu tư quỹ hỗ trợ và thực
hiện nhiều dịch vụ mới khác.
5 | P a g e
1.1.2. Các hoạt động cơ bản của một ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là một Doanh nghiệp đặc biệt có rất nhiều
chức năng kinh doanh về tiền tệ. Những chức năng đó được thể hiện cụ
thể qua các hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
NHTM có hoạt động gần gũi nhất với nhân dân và nền kinh tế. Nền
kinh tế càng phát triển cao, hoạt động của NHTM càng đi vào tận ngõ
ngách của đời sống kinh tế đất nước. Hoạt động kinh doanh của NHTM
được chia làm hai loại có tính khác nhau:
1.Công nghệ ngân hàng có xu hướng quốc tế hoá; 2. Các thị trường vốn
mới được mở đã làm biến đổi hệ thống tiền gửi truyền thống; 3. Công
nghệ ngân hàng tại nhiều nước đã bắt đầu đa dạng hoá các dịch vụ; 4.
Ngành công nghiệp ngân hàng đã tìm mọi cách phát triển các tổ chức phi
ngân hàng, tạo điều kiện hoạt động trong lĩnh vực chuyên biệt v.v…
Nghiệp vụ ngân hàng nói chung bao gồm tất cả những việc mà
ngân hàng thường làm trong khuôn khôn khổ nghề nghiệp của họ. tuỳ
7 | P a g e
điều kiện kinh tế và mức độ phát triển kỹ thuật của mỗi nước, các nghiệp
vụ kinh doanh của NHTM bao gồm ba lĩnh vực: nghiệp vụ nợ, nghiệp vụ
có và nghiệp vụ môi giới trung gian. Đó là các nghiệp vụ nằm trong bảng
tổng kết tài sản. Ngoài ra còn có các nghiệp vụ khác không được phản
ánh lên bảng tổng kết tài sản như nghiệp vụ bảo lãnh, nghiệp vụ cho thuê
két sắt, tư vấn… Thị trường các sản phẩm tài chính thay đổi nhanh chóng
gây ra nhiều vấn đề cho công tác quản lý và có thể dẫn đến các rủi ro mới
có tính hệ thống. Vì đó là các trách nhiệm không biết trước được nên nó
được định nghĩa như là sản phẩm ngoài bảng tổng kết tài sản và có thể
các trách nhiệm này nằm ngoài phạm vi các nguyên tắc truyền thống về
các khoản vốn hỗ trợ cần thiết.
Các nghiệp vụ của NHTM có quan hệ chặt chẽ, hộ trợ lẫn nhau để
hình thành hoạt động kinh doanh của NHTM trong nền kinh tế. Khi
NHTM đi vào hoạt động ổn định, các nghiệp vụ được xen kẽ lẫn nhau
trong suốt quá trình hoạt động, tạo thành một chỉnh thể thống nhất.
Dưới đây là hai hoạt động (nghiệp vụ) cơ bản của NHTM.
1.1.2.1. Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại
Nghiệp vụ huy đông vốn của Ngân hàng thương mại được gọi là
nghiệp vụ nợ, những khoản mục nguồn vốn do nghiệp vụ này tạo nên khi
thể hiện trên bảng tổng kết tài sản của Ngân hàng thương mại sẽ nằm bên
tài sản nợ. Đây được coi là nghiệp vụ khởi đầu, tạo nền móng cho mọi
hoạt động tiếp theo của Ngân hàng thương mại. Về sau, khi Ngân hàng đã
Vốn pháp định (hay còn gọi là vốn điều lệ) là số vốn đầu tư ban
đầu khi thành lập ngân hàng và được ghi rõ trong điều lệ của NHTM.
Vốn điều lệ ít nhất phải bằng mức vốn pháp định do NHNN công bố vào
đầu mỗi năm tài chính. Vốn điều lệ quy định cho một ngân hàng nhiều
hay ít tuỳ thuộc vào quy mô và phạm vi hoạt động, cổ đông, ngân sách
cấp, lợi nhuận bổ sung… Vốn này chủ yếu dùng để mua sắm bất động
sản, động sản, trang thiết bị… cho hoạt động ngân hàng, ngoài ra còn
được dùng để đóng góp vốn liên doanh, cho vay, mua cổ phần của các
công ty khác. Không được dùng vốn điều lệ để chia cổ tức, lập quỹ phúc
lợi khen thưởng. Như vậy, đến khi ngân hàng hoạt động, vốn điều lệ có
thể đã nằm dưới dạng trụ sở, văn phòng, kho bãi, xe cộ, trang thiết bị, dự
trữ hay lý quỹ tại NHTW, hoặc đã đầu tư vào một thương vụ nào đó.
Ngoài vốn điều lệ, NHTM còn có các quỹ dự trữ ngân hàng (đây là
các quỹ buộc phải trích lập trong quá trình tồn tại và hoạt động của ngân
hàng), quỹ phát triển kỹ thuật, quỹ khấu hao tài sản cố định, quỹ bảo tồn,
quỹ phúc lợi,.v.v…
10 | P a g e
Tiếp theo là các nguồn vay, chủ yếu bao gồm:
Vay của Ngân hàng trung ương (NHTW).
Để chuẩn bị cho các hoạt động của mình như các hoạt động thanh
toán bù trừ, hoạt động chuyển nhượng lẫn nhau, kể cả quy định dự trữ bắt
buộc do NHTW áp đặt, tất cả các NHTM đều phải lý gửi những khoản
tiền mặt nhất định tại kho của NHTW, khoản dự trữ này không sinh lời.
Trong quá trình hoạt động của mình, có lúc các NHTM gặp những
tình huống thiếu hụt dự trữ hoặc quá kẹt tiền mặt. Đây là điều thường
xuyên xảy ra đối với NHTM ở bất kỳ nước nào. Trong khi có một số
ngân hàng thiếu hụt dự trữ, thì cũng có một số các NHTM khác thừa dự
trữ. Để đảm bảo dự trữ theo quy định của NHTW, các NHTM điện thoại
hoặc liên lạc qua màn hình computer vay lẫn nhau dự trữ trong một ngày
là chuyện bình thường. Thủ tục vay được tiến hành qua viễn ký (fax)
được nguồn vốn vay, đồng thời giúp cho chúng khi dư thanh khoản, có
được cơ hội sinh lời.
12 | P a g e
Vay từ công ty mẹ.
Ở các nước phát triển, mỗi Công ty hoặc Tập đoàn kinh doanh có
thể là chủ của một hay một số NHTM. Thay vì việc phát hành trái phiếu
hoặc giấy nợ để vay tiền từ thị trường tiền tệ, các Công ty mẹ có thể thay
thế nó dưới hình thức phát hành trái phiếu, cổ phiếu công ty hoặc thương
phiếu rồi chuyển vốn đã huy động được này về Ngân hàng này hoạt động.
Việc này sẽ hạn chế được những khó khăn mà các NHTM thường mắc
phải khi tiến hành huy động vốn trên thị trường này.
Ngoài các loại vay đã nên trên, một NHTM để đảm bảo vốn cho
hoạt động kinh doanh của mình, còn tiến hành vay vốn của các Ngân
hàng khác, giữa các NHTM và các tổ chức tín dụng có thể cho vay lẫn
nhau theo nguyên tắc: Các Ngân hàng phải hoạt động hợp pháp; Nguyên
tắc thực hiện việc vay và cho vay theo hợp đồng tín dụng; Nguyên tắc
vốn vay phải có được đảm bảo bằng thế chấp, cầm cố hay xin vay của
NHTW.
Các nghiệp vụ ký thác.
Muốn làm Ngân hàng cần có vốn riêng, tuy nhiên số vốn riêng này
chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ so với tổng số tiền mà Ngân hàng đã cho vay. Số
vốn riêng của Ngân hàng thường chỉ để mua sắm, trang bị trụ sở. Trong
thực tế, số tiền mà Ngân hàng cho vay có nguồn gốc từ tiền gửi của
Khách hàng. Do đó, huy động vốn là hoạt động chủ yếu và thường xuyên
của NHTM, là mối quan tâm chính của các Ngân hàng này.
13 | P a g e
Có thể nói, Ngân hàng là một xí nghiệp kinh doanh đồng vốn,
Ngân hàng vừa là người cung cấp đồng vốn, đồng thời cũng là người tiêu
thụ đồng vốn của Khách hàng. Tất cả những hoạt động mua bán này
thường thông qua một số công cụ và nghiệp vụ Ngân hàng. Chính nhờ
của Ngân hàng đều là vốn vay, nghĩa là Ngân hàng phải trả lãi suất cho
nó đến đúng giờ. Do đó để khỏi bị thiệt hại và có thể thu lợi thì Ngân
hàng phải cho vay hay đầu tư ngay tài sản ấy vào những dịch vụ sinh lời.
Từ lãi thu được, Ngân hàng sẽ dùng nó để trả lãi suất cho số vốn đã huy
động được, phần còn lại sẽ là lợi nhuận của Ngân hàng. Nói cách khác,
nghiệp vụ có của Ngân hàng là những nghiệp vụ thực hiện sử dụng những
khoản vốn đã huy động được nhằm mục đích sinh lợi.
Nghiệp vụ có của Ngân hàng bao gồm nghiệp vụ dự trữ tiền mặt,
đầu tư vào chứng khoán và nghiệp vụ cho vay.
- Nghiệp vụ dự trữ tiền mặt. Là nghiệp vụ nhằm duy trì khả năng
thanh khoản của Ngân hàng để đáp ứng nhu cầu rút tiền và thanh toán
15 | P a g e
thường xuyên của Khách hàng. NHTM phải duy trì một bộ phận vốn
bằng tiền mặt để thực hiện nghiệp vụ dự trữ. Mức dự trữ này cao hay thấp
tuỳ thuộc vào quy mô hoạt động của Ngân hàng, mối quan hệ thanh toán
bằng tiền mặt và chuyển khoản, thời vụ của khoản chi tiền mặt. Các
khoản dự trữ tiền mặt của Ngân hàng không sinh lãi, nhưng Ngân hàng
vẫn phải duy trì do luật Ngân hàng quy định và bản thân Ngân hàng cũng
thấy rõ việc dự trữ tiền mặt trong két là cần thiết. Các NHTM phân loại
dự trữ tiền mặt làm ba phần: Tiền mặt tại kho của Ngân hàng, tiền mặt ký
gửi tại NHTW và tiền mặt đang thu hồi.
- Đầu tư vào chứng khoán. Đây là loại hình phổ biến nhất trong
tài sản có của NHTM tại các nước phát triển, các chứng khoán được các
NHTM đầu tư là: Chứng khoán Nhà nước (tiền của kho bạc, trái phiếu
kho bạc trung và dài hạn, và trái phiếu của Chính phủ địa phương),
chứng khoán công ty…
- Nghiệp vụ cho vay của NHTM. Nghiệp vụ này bao gồm cho vay
tiền, cho vay dựa trên việc chuyển nhượng trái quyền, cho vay qua chữ
ký… Đây là hoạt động chủ chốt của NHTM để tạo ra lợi nhuận. Chỉ có
lãi suất thu được từ cho vay mới bù nổi chi phí tiền gửi, chi phí dự trữ,
1.2 1.1. Khái niệm, đặc điểm của Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam, và tính đến xu thế phát
triển trong thời gian tới, kết hợp với nghiên cứu thực tiễn ở nước ta, ngày
23/11/2001 Chính phủ đã ban hành nghị định số 90/NĐ-CP quy định tiêu
chí để xác định DNVVN là “Doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở sản xuất –
kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có
số vốn đăng ký không quá 10 tỷ Đồng hoặc số lao động trung bình hàng
năm không quá 300 người”. Đây sẽ là khái niệm được sử dụng trong suốt
chuyên để.
Các đặc điểm và lợi thế tiềm năng của các DNVVN bao gồm:
DNVVN giúp sử dụng các yếu tố sản xuất hiệu quả hơn. Một trong
những lý lẽ kinh tế nêu ra để ủng hộ các DNVVN là liên quan đến việc sử
dụng các yếu tố đầu vào( vốn, lao động, tài nguyên…) hiệu quả hơn, có
khả năng tận dụng các nguồn lực mà Doanh nghiệp khác bỏ qua. Tính
hiệu quả kinh tế cao hơn này có thể có do việc lựa chọn các nhân tố phù
hợp, tổng sức sản xuất các các yếu tố hợp thành, hoặc sự kế hợp của cả
hai.
Khả năng tạo việc làm tại các DNVVN là tương đối lớn. Các
DNVVN được xem là cần tập trung sức lao động nhiều hơn các Doanh
nghiệp lớn, điều này có được là do việc sử dụng lao động rẻ hơn, công
18 | P a g e
nghệ đòi hỏi nhiều lao động, do đó làm nảy sinh vấn đề sử dụng nhiều lao
động hơn trên một đơn vị vốn đầu tư. Trong điều kiện hiện nay của Việt
Nam, nếu Chính phủ Việt Nam có sự quan tâm hơn nữa tới khu vực này
thì hàng năm giải quyết đáng kể việc làm của xã hội.
DNVVN giúp tiết kiệm ngoại hối. Vì các DNVVN thường được
hiểu là sử dụng nhiều công nghệ trong nước nên đòi hỏi ít ngoại hối hơn
cho việc nhập khẩu máy móc thiết bị, nhưng có khuynh hướng cho rằng
sự đóng góp của khu vực DNVVN đối với khối lượng hàng xuất khẩu là
không đáng kể, nhưng sản phẩm, dịch vụ xuất khẩu của nó có ý nghĩa xã
được khẳng định thể hiện qua các điểm sau:
- Về số lượng các DNVVN chiếm ưu thế tuyệt đối, ví dụ số
DNVVN chiếm hơn 99% trong tổng số Doanh nghiệp ở Nhật bản và Đức.
- DNVVN có mặt trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực và tồn tại như
một bộ phận không thể thiếu được trong nền kinh tế mỗi nước. Nó là một
bộ phận hữu cơ gắn bó chặt chẽ với các Doanh nghiệp lớn, tác dụng hỗ
20 | P a g e
trợ và bổ xung, thúc đẩy các Doanh nghiệp quốc doanh, các Doanh
nghiệp lớn phát triển.
Sự phát triển của các DNVVN góp phần quan trọng trong việc giải
quyết các mục tiêu kinh tế sau dây:
Một là, Các Doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng góp đáng kể vào sự
phát triển và ổn định kinh tế của mỗi nước. Việc phát triển DNVVN đóng
góp quan trọng vào tốc độ phát triển nên kinh tế, đặc biệt đối với những
nước mà trình độ kỹ thuật còn lạc hậu như ở Việt Nam thì giá trị gia tăng
do các Doanh nghiệp này tạo ra hàng năm chiếm tỷ trọng khá lớn, bảo
đảm thực hiện các chỉ tiêu tăng trưởng của nền kinh tế.
Hai là, Các Doanh nghiệp vừa và nhỏ cung cấp cho toàn xã hội
khối lượng hàng hoá đáng kể.
Ba là, Chúng thu hút lao động, tạo ra nhiều việc làm với chi phí
đầu tư thấp, giảm thất nghiệp.
Bảng 1: BẢNG DỰ ÁN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN
DNVVN Ở VN NĂM 2000
Nước và vùng lãnh thổ Tỷ trọng lao động
thu hút
Giá trị gia tăng tạo ra
(%)
Singgapo 35.2 26.6
Malaixia 47.8 36.4
Hàn quốc 37.2 21.1
- Chi phí trung bình để tạo ra một chỗ làm việc trong các DNVVN
ở Việt Nam khoảng 740.000 đồng, chỉ bằng 3% trong các Doanh
nghiệp lớn (trung bình là 5 – 10 triệu đồng)
Với những lợi thế và thế mạnh của mình, số lượng các DNVVN ở
Viêt Nam ngày càng tăng. Cụ thể, vào năm 2002, số lượng các DNVVN
ở nước ta đã nên tới hơn 45.000 DN, chiếm tỷ trọng hơn 90% (Bảng 2).
Bảng 2: BẢNG SỐ LƯỢNG DNVVN TẠI VIỆT NAM NĂM
2002
Tổng số DN Tổng số lao động Tổng số vốn
Số DN Tỷ trọng (%) số DN Tỷ trọng (%)
46834 97 43772 91
(Nguồn: niên giám thống kê năm 2002 được Tạp chí Kính tế Việt Nam
đăng ngày 29/2/2006)
1.2.1.2. Phân loại Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Việc đưa ra khái niệm chuẩn xác về DNVVN có ý nghĩa rất quan
trọng để xác định đúng đối tượng được hỗ trợ. Nếu phạm vi đối tượng hỗ
trợ quá rộng, sẽ không đủ sức bao quát và tác dụng hỗ trợ sẽ giảm đáng
23 | P a g e
kể, vì hỗ trợ tất cả có nghĩa là không hỗ trợ ai. Còn nếu phạm vi quá hẹp
thì sẽ không có ý nghĩa và ít tác dụng tới nền kinh tế. Chính vì vậy, hầu
hết các nước rất chú trọng nghiên cứu tiêu thức phân loại DNVVN. Tuy
nhiên, không có tiêu thức thống nhất để phân loại cho tất cả các nước vì
điều kiện kinh tế xã hội mỗi nước khác nhau, và ngay trong một nước sự
phân loại khác nhau tuỳ theo từng thời kỳ, từng ngành nghề, từng lãnh
thổ. Có hai tiêu thức phổ biến dùng để phân loại DNVVN: Tiêu thức định
tính và tiêu thức định lượng.
Tiêu thức định tính: Dựa trên những đặc trưng cơ bản của các
DNVVN như: Chuyên môn quá thấp, số đầu mối quản lý ít, mức độ phức
tạp quản lý thấp… các chỉ tiêu này có ưu thế là phản ánh đúng bản chất
của vấn đề nhưng thường khó xác định trên thực tế. Do đó, nó thường chỉ
định vì các khoản tín dụng của Ngân hàng chủ yếu có nguồn gốc từ các
khoản tiền gửi của Khách hàng và các khoản vay mượn. Như vậy Ngân
hàng cũng phải có trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi như đã cam kết với
25 | P a g e
chủ nguồn vốn. Do vậy Ngân hàng luôn yêu cầu người nhận tín dụng phải
thực hiện đúng cam kết này. Đây là điều kiện để Ngân hàng tồn tại và
phát triển.
+ Khách hàng phải cam kết sử dụng khoản tín dụng này theo đúng
mục đích đã ghi trong thoả thuận với Ngân hàng, không trái với quy định
của pháp luật và các quy định khác của Ngân hàng cấp trên. Mục đích tài
trợ được ghi trong hợp đồng tín dụng, đảm bảo Ngân hàng không tài trợ
cho hoạt động trái pháp luật và việc tài trợ này phải phù hợp với cương
lĩnh của Ngân hàng.
+ Ngân hàng tài trợ dựa trên phương án (hoặc dự án) có hiệu quả.
Thực hiện nguyên tắc này là điều kiện để thực hiện nguyên tắc thứ nhất.
Phương án hoạt động có hiệu quả của người vay minh chứng cho khả
năng thu hồi được vốn đầu tư và trả nợ cho Ngân hàng. Các khoản tài trợ
của Ngân hàng phải gắn liền với việc hình thành tài sản của người vay.
Trong trường hợp xét thấy kém an toàn, Ngân hàng đòi hỏi người đi vay
phải có tài sản đảm bảo khi vay.
Như vậy, ta có thể thấy được tầm quan trọng của hoạt động tín
dụng Ngân hàng đối với việc hình thành và phát triển DNVVN:
Thứ nhất, Tín dụng Ngân hàng là đòn bẩy kinh tế hỗ trợ cho sự ra
đời và phát triển của DNVVN
Trong nền kinh tế thị trường, ai cũng muốn đồng vốn của mình
phải sinh lời nhiều hơn. Nhiều Doanh nghiệp mới thành lập, muốn mở