CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển, hàng loạt công ty mới ra
đời. Nhu cầu về vốn là một trong những nhu cầu cấp thiết của các doanh
nghiệp do vậy sự đi lên của thị trường chứng khoán là cấp thiết trong những
năm gần đây. Thị trường chứng khoán là nơi huy động vốn đầu tư dài hạn có
hiệu quả tương đối cao, Nền kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển do vậy sự
phát triển của thị trường chứng khoán là một tất yếu Sự phát triển của thị
trường chứng khoán kéo theo sự thành lập các công ty chứng khoán- chuyên
kinh doanh và đầu tư chứng khoán. Công ty chứng khoán kinh doanh, mua
bán một thứ hàng hóa vô hình- giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu tài sản
nhưng lại có giá trị lớn. Các công cụ tài chính có giá cả thay đổi liên tục, được
mua bán thường xuyên cho nên các nghiệp vụ phát sinh rất phong phú, phức
tạp. Ngoài ra nó còn có những nghiệp vụ rất đặc trưng như bão lãnh phát hành
chứng khoán, cầm cố cổ phiếu, cho vay…. Từ những đặc điểm nêu trên, chế
độ kế toán cho Công ty chứng khoán phải được quy định phù hợp với tính đặc
thù hoạt động kinh doanh chứng khoán. Sự phát triển của các Công ty chứng
khoán kéo theo sự đa đạng của các công cụ tài chính được sử dụng, Việt Nam
lại chưa có một chuẩn mực cụ thể nào quy định về kế toán các công cụ tài
chính. Do vậy ta cần phải nâng cao về chất lượng kế toán công cụ tài chính
trong các Công ty chứng khoán. Nhận biết được tính cấp thiết của vấn đề, em
đã tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài: “ Kế toán công cụ tài chính trong
các công ty chứng khoán ở Việt Nam” để củng cố cơ sở lý luận,thực tại
hoạt động của công cụ tài chính trong công ty chứng khoán và đưa ra các giải
pháp hoàn thiện để đảm bảo tính trung thực, hợp lý, hợp lệ của các công cụ tài
chính trong công ty chứng khoán.
1
1.2. Tổng quan về đề tài
Quy định về kế toán công cụ tài chính trong chuẩn mực kế toán quốc
tế IAS 32 “ công cụ tài chính: trình bày”, IFRS 7 “công cụ tài chính: thuyết
minh”, IAS 39 “công cụ tài chính: ghi nhận và đo lường”. Quy định ban hành
thế giới. Đánh giá tình hình phát triển hiện nay và xu hướng phát triển của các
công cụ tài chính trong các công ty chứng khoán.
Hai là: Tìm hiểu thực trạng kế toán công cụ tài chính trong công ty Chứng
khoán hiện đang được áp dụng tại Việt Nam và theo chuẩn mực kế toán quốc
tế. Từ đó đưa ra đánh giá khái quát về thực trạng công tác kế toán công cụ tài
chính tại Việt Nam
Ba là: Đề xuất các giải pháp về kế toán công cụ tài chính (cả về chuẩn mực và
thực hành) trong các công ty chứng khoán ở Việt Nam để phục vụ nhu cầu
phát triển và quản lý. Các vấn đề hoàn thiện kế toán công cụ tài chính để phù
hợp với chuẩn mực quốc tế tạo niềm tin cho các nhà đầu tư và tăng cường
tính minh bạch của các thông tin tài chính, Tạo điều kiện tối đa cho việc giám
sát tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đáp
ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và hội nhập quốc tế.
1.4. Câu hỏi nghiên cứu
Đề nghiên cứu và đưa ra các giải pháp hoàn thiện kế toán công cụ tài chính
trong công ty chứng khoán thì trong đề tài nghiên cứu ta cần giải quyết những
câu hỏi sau:
- Công cụ tài chính là gì, ý nghĩa đối với hoạt động kinh doanh của các công
ty chứng khoán?Thế nào là công cụ tài chính truyền thống và công cụ tài
chính phái sinh.
3
- Đặc điểm, vai trò của công cụ tài chính trong các công ty chứng khoán ở
Việt Nam?
- Phân loại và việc định giá công cụ tài chính truyền thống và công cụ tài
chính phái sinh?
- Lý luận về kế toán công cụ tài chính trong các công ty chứng khoán ở Việt
Nam? (Về chứng từ, tài khoản và hạch toán công cụ tài chính trong các công
ty chứng khoán)
- Chuẩn mực kế toán quốc tế liên quan đến công cụ tài chính và sự áp dụng
của các công ty chứng khoán Việt Nam?
tài chính, cũng như các chuẩn mực có liên quan nhằm đưa ra các điểm chưa
phù hợp tình hình hiện tại của các công ty chứng khoán ở Việt Nam.
Đề tài nhằm đi sâu vào việc hoàn thiện về chuẩn mực và trong việc hạch
toán kế toán công cụ tài chính trong các công ty chứng khoán, giúp các công
ty chứng khoán quản lý một cách đồng bộ và khoa học hơn, giúp các nhà
quản lý và các nhà đầu tư đánh giá chính xác được tình hình hoạt động của
các công ty chứng khoán từ đó đưa ra các quyết định đầu tư phù hợp.
1.8. Kết cấu của đề tài nghiên cứu
Luận văn được chia ra làm 4 chương với nội dung từng chương như sau:
Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận về kế toán công cụ tài chính trong các công ty chứng
khoán
Chương 3: Thực trạng kế toán các công cụ tài chính trong các công ty Chứng
khoán ở Việt Nam
Chương 4: Kết quả nghiên cứu, các giải pháp đề xuất hoàn thiện kế toán các
công cụ tài chính trong các công ty Chứng khoán ở Việt Nam và kết luận.
5
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CÔNG CỤ TÀI CHÍNH
TRONG CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
2.1. Những vấn đề kinh tế - tài chính cơ bản về công cụ tài chính
2.1.1. Khái niệm và phân loại công cụ tài chính
2.1.1.1. Khái niệm công cụ tài chính[1.112]
Công cụ tài chính là bất kỳ hợp đồng nào mang lại một tài sản tài chính
cho doanh nghiệp và một khoản nợ tài chính hoặc công cụ vốn cổ phần cho
một doanh nghiệp khác.
Tài sản tài chính là loại tài sản vô hình mà giá trị của nó thể hiện ở trái quyền
hay quyền thụ hưởng một số tiền trong tương lai. Bao gồm:
- Tiền (Ví dụ: tiền gửi ngân hàng)
- Quyền theo hợp đồng để nhận tiền hoặc tài sản tài chính khác từ đơn vị
khác (Ví dụ một khoản thu nợ và công cụ phái sinh)
+ Các công cụ vốn bao gồm cổ phiếu ưu đãi và cổ phiếu phổ thông
+ Ngoài ra còn các công cụ chuyển đổi hay các công cụ phát sinh như các
khoản tín dụng cầm cố, các khoản tín dụng thương mại và chứng chỉ quỹ đầu
tư.
Công cụ tài chính phái sinh
- Những công cụ tài chính phái sinh: là công cụ mà việc giao dịch và giá trị
của nó phụ thuộc vào giao dịch và giá cả của tài sản cơ sở
Tài sản cơ sở là: hàng hóa, chứng khoán, ngoại tệ, chỉ số chứng khoán
Các công cụ phái sinh là: Hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng hoán đổi, hợp đồng
giao sau và hợp đồng quyền chọn.
Công cụ tài chính phái sinh là công cụ được phát hành dựa vào công cụ tài
chính đã có trước dưới hình thức các hợp đồng phái sinh cụ thể. Công cụ phái
7
sinh luôn “ăn theo” và với mục tiêu tránh rủi ro từ công cụ tài chính chính
thức. Giá cả của hợp đồng tài chính phái sinh là hiệu số giữa mức rủi ro dự
tính trong tương lai với rủi ro thực tế qua thời gian dự tính từ khi hợp đồng có
hiệu lực đến khi hợp đồng đáo hạn hoặc có trường hợp giá cả của hợp đồng
đơn giản là chi phí đặt cọc nhưng kỳ vọng sẽ không bị mất trong tương lai.
Công cụ tài chính phái sinh được hiểu là những công cụ được phát hành
trên cơ sở những công cụ tài chính đã có nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như
phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo ra lợi nhuận. Giá trị của công cụ
phái sinh bắt nguồn từ một số công cụ cơ sở khác như tỉ giá, trị giá cổ phiếu,
trái phiếu, chỉ số chứng khoán, lãi suất….Công cụ tài chính phái sinh xuất
hiện lần đầu tiên nhằm giảm thiểu hoặc loại bỏ hoàn toàn rủi ro, trong đó
thường được sử dụng cao nhất là hợp đồng kỳ hạn (forward contracts), hợp
đồng tương lai (future contracts). Những công cụ trên còn có thể kết hợp với
nhau, với những khoản vay hoặc những chứng khoán truyền thống để tạo nên
các công cụ lai tạo.
- Các công cụ tài chính phái sinh
+ Hợp đồng kỳ hạn: là công cụ tài chính lâu đời nhất. Là loại hợp đồng giữa
hại kinh tế đáng kể nếu trong thời hạn hợp đồng giá cả của tài sản cơ sở có sự
biến động không có lợi cho mỗi bên.
Giống như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng giao sau cũng có rủi ro hai chiều, rủi
ro tín dụng, tức người sở hữu hợp đồng hoặc là người được nhận hoặc là
người phải chi trả. Nhưng khác biệt rõ nhất với thị trường kỳ hạn là thị trường
giao sau sử dụng hai công cụ để loại bỏ rủi ro này.
Thứ 1, Thay vì giao nhận giá trị hợp đồng vào một ngày thông qua mua bán
đơn thuần vào ngày đáo hạn, thay đổi trong giá trị hợp đồng giao sau được
thực hiện thanh toán vào cuối ngày giao dịch. Điều này có nghĩa hợp đồng
giao sau có tính chất thanh toán tiền mặt hay điều chỉnh theo ngày, tức thời
hạn giao sau được rút ngắn lại. Nhờ thế mà rủi ro trong thanh toán được giảm
đi.
9
Thứ 2, Hợp đồng giao sau yêu cầu tất cả các thành viên tham gia thị trường,
người bán và người mua đều như nhau, phải thực hiện một khoản ký gửi gọi
là ký quỹ. Nếu hợp đồng giao sau của bạn tăng giá trị trong ngày giao dịch,
mức tăng này sẽ được công vào tài khoản ký quỹ của bạn vào cuối ngày.
Ngược lại, nếu hợp đồng của bạn giảm giá trị, thua lỗ sẽ được trừ ra.Và nếu
số dư tài khoản ký quỹ của bạn giảm xuống mức tối thiểu đã thoả thuận trước
đó, bạn sẽ bị yêu cầu nộp một khoản ký gửi bổ sung, tài khoản ký quỹ của bạn
phải được bổ sung như cũ hoặc là vị thế của bạn sẽ bị đóng.
Hợp đồng giao sau rất giống với một danh mục các hợp đồng kỳ hạn.
Tuy nhiên, hợp đồng giao sau và một danh mục các hợp đồng kỳ hạn chỉ
giống nhau khi lãi suất là có thể xác định trước, tức là biết được một cách
chắc chắn. Vào lúc đóng cửa mỗi ngày, các hợp đồng giao sau mang tính kỳ
hạn đang tồn tại sẽ được thanh toán cũng như một hợp đồng mới được ký kết.
Tính chất thanh toán hàng ngày kết hợp với yêu cầu ký quỹ cho phép hợp
đồng giao sau giảm thiểu đáng kể rủi ro tín dụng vốn có của hợp đồng kỳ hạn.
+ Quyền chọn: Là hợp đồng giữa hai bên, người mua và người bán, trong đó
cho người mua quyền nhưng không phải nghĩa vụ, để mua hoặc bán một tài
như hợp đồng kỳ hạn, các hoán đổi cũng gánh chịu những rủi ro nếu một bên
bị vỡ nợ. Hoán đổi được xem như là kết hợp giữa các hợp đồng kỳ hạn. Nó là
cải tiến tài chính mới nhất nhưng về thực chất không phức tạp hơn một danh
mục các hợp đồng kỳ hạn và rủi ro tín dụng hiện diện trong hoán đổi cũng có
phần thấp hơn so với rủi ro tín dụng của hợp đồng kỳ hạn có cùng kỳ hạn.
2.1.2. Vai trò của công cụ tài chính
Đối với hoạt động kinh doanh và hoạt động tài chính của các doanh nghiệp
Công cụ tài chính có vai trò rất quan trọng trong quá trình kinh doanh
và hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Nó giúp doanh nghiệp tạo cung
hàng hóa cho thị trường, đa dạng hóa công cụ đầu tư nhằm thỏa mãn nhu cầu
11
đầu tư đa dạng của nhà đầu tư. Nó hỗ trợ cho việc thực hiện các quyết định
chủ yếu về tài chính của công ty. Hơn thế nữa nó giúp phần thúc đẩy sự phát
triển hệ thống tài chính và phát triển nên kinh tế.
Đối với thị trường tài chính
Thị trường tài chính là nơi mua bán các công cụ tài chính nhờ đó mà
vốn được chuyển giao một cách trực tiếp hay gián tiếp từ các chủ thể dư thừa
vốn đến các chủ thể nhu cầu vốn.
Trong nền kinh tế, nhu cầu về vốn để đầu tư và các nguồn tiết kiệm có
thể phát sinh từ những chủ thể khác nhau. Nhiều người có cơ hội đầu tư sinh
lời thì thiếu vốn, nhiều người có vốn nhàn rỗi thì lại không có cơ hội đầu tư.
Do đó có một cơ chế chuyển đổi từ tiết kiệm sang đầu tư. Cơ chế đó được
thực hiện trong khuôn khổ thị trường tài chính. Những người thiếu vốn huy
động vốn bằng cách phát hành các công cụ tài chính như cổ phiếu, trái phiếu.
Những người có vốn dư thừa thay vì đầu tư vào máy móc thiết bị nhà xưởng
để sản xuất hàng hóa hay cung cấp dịch vụ sẽ đầu tư vào các tài sản tài chính
được phát hành bởi các công ty huy động vốn.
2.2 Kế toán công cụ tài chính trong các công ty chứng khoán
2.2.1. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của các công ty chứng khoán có ảnh
hưởng đến kế toán công cụ tài chính
việc đầu tư của công ty chứng khoán và trả một khoản phí cho công ty chứng
khoán theo thỏa thuận.
13
Ba là: Nghiệp vụ Tự doanh chứng khoán:
Bản chất nghiệp vụ: Tự doanh chứng khoán là việc công ty chứng khoán tự
tiến hành các giao dịch mua bán các chứng khoán cho chính mình.Hoạt động
tự doanh của doanh nghiệp có thể thực hiện trên các thị trường giao dịch tập
chung hoặc thị trường OTC. Mục đích của hoạt động tự doanh là thu lợi cho
chính mình.
Thông thường chức năng chính của Công ty chứng khoán là cầu nối
giữa nhà đầu tư với Trung tâm giao dịch chứng khoán, người chơi chứng
khoán sẽ phải đến các Công ty chứng khoán để thực hiện một số thủ tục như
mở tài khoản chứng khoán, lưu ký chứng khoán. Khi đã là thành viên của
Trung tâm Lưu ký Chứng khoán, sẽ phải mở tài khoản lưu ký của bản thân
công ty tại Trung tâm này và đồng thời mở tài khoản lưu ký cho khách hàng
của mình. Tất nhiên với dịch vụ này, Công ty chứng khoán sẽ thu được một
mức phí nhất định. Song, với nghiệp vụ tự doanh, Công ty chứng khoán sẽ
tham gia mua bán chứng khoán như một tổ chức độc lập bằng chính nguồn
vốn của công ty, chứ không phải bằng tài khoản của khách hàng. Để thực hiện
nghiệp vụ này thành công, ngoài đội ngũ nhân viên phân tích thị trường có
nghiệp vụ giỏi và nhanh nhậy với những biến động của thị trường, Công ty
chứng khoán còn phải có một chế độ phân cấp quản lý và đưa ra những quyết
định đầu tư hợp lý, trong đó việc xây dựng chế độ phân cấp quản lý và ra
quyết định đầu tư là một trong những vấn đề then chốt, quyết định sự sống
còn của Công ty chứng khoán.
Bốn là: Nghiệp vụ Bảo lãnh phát hành:
Bản chất nghiệp vụ: Quy định các điều khoản nhằm đảm bảo hồ sơ đăng ký
phát hành và bản cáo bạch chứa đựng các thông tin đầy đủ về tình hình tài
chính và kinh doanh của tổ chức phát hành và bảo vệ các tổ chức bảo lãnh
14
- Dàn xếp các giao dịch tài chính.
- Tái cấu trúc nợ, cấu trúc tài chính, sáp nhập doanh nghiệp
Sáu là: Các nghiệp vụ hỗ trợ khác:
Nhìn chung, các nghiệp vụ hỗ trợ giao dịch nhằm mục đích tạo thuận lợi cho
nhà đầu tư, giúp nhà đầu tư không bỏ lỡ các cơ hội đầu tư, nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn.
+ Nghiệp vụ tín dụng là hoạt dộng thông dụng tại các thị trường chứng khoán
phát triển. Còn ở thị trường mới nổi hoạt động này bị hạn chế, chỉ các định
chế tài chính đặc biệt mới được phép cấp vốn vay.
+ Nghiệp vụ tư vấn đầu tư và tư vấn tài chính công ty có thể do bất kỳ công ty
chứng khoán hay cá nhân tham gia thông qua: khuyến cáo, lập báo cáo, tư vấn
trực tiếp, thông qua ấn phẩm về chứng khoán để thu phí
+ Nghiệp vụ quản lý thu nhập chứng khoán (quản lý cổ tức): xuất phát từ
nghiệp vụ quản lý hộ chứng khoán cho khách hàng.
2.2.1.2 Hoạt động tài chính
Hoạt động tài chính của công ty chứng khoán bao gồm việc xác định
kinh doanh cái gì để thu nhiều lợi nhuận, sử dụng các loại tài sản cố định gì,
lấy nguồn tài chính dài hạn nào để chi phí cho các khoản đầu tư của mình.
Hoạt động tài chính có quan hệ mật thiết với hoạt động nghiệp vụ. Số lượng
16
nghiệp vụ và quy mô kinh doanh lớn thế nào thì ứng với nó là mảng tài chính
công ty như vậy.
- Vốn của công ty chứng khoán nhiều hay ít phụ thuộc vào loại tài sản cần tài
trợ. Số vốn cần cố để thực hiện nghiệp vụ chứng khoán được xác định bằng
việc cân đối giữa yêu cầu về vốn pháp định và các nhu cầu vốn kinh doanh
của công ty.
- Cơ cấu vốn: là sự pha trộn của các khoản nợ và vốn cổ đông hoặc vốn góp
của các thành viên mà công ty sử dụng để hoạt động của mình.
- Quản lý vốn và hạn mức kinh doanh: Ngoài việc xác định tỷ lệ nợ như đã
nói trên, các công ty chứng khoán thường phải duy trì một mức vốn khả dụng
tài chính, các công cụ tài chính phái sinh cũng được sử dụng nhiều hơn để tìm
kiến lợi nhuận và thực hiện các hoạt động đầu cơ. Chính vì những biến thái
như nên không phải lúc nào sử dụng công cụ tài chính phái sinh để phòng
ngừa rủi ro cũng có hiệu quả. Các công cụ phái sinh ngày càng tinh vi và
mang theo một số rủi ro gây gián đoạn lớn hơn độ rủi ro thông thường. Sự sụp
đổ của thị trường tài chính cổ phiếu Mỹ năm 1987 chính được đẩy nhanh nhờ
sử dụng rộng rãi kỹ thuật tự bảo hiểm Delta, được mua bán các hợp đồng bảo
hiểm danh mục đầu tư. Những người bảo hiểm này đã đầu tư, mạnh hơn vào
thị trường mà nếu như không có kỹ thuật này thì có thể họ đã không làm như
vậy. Khi sự sụt giảm của thị trường kích hoạt bảo hiểm, khối lượng bán đột
ngột gây ra một gián đoạn và thị trường sụp đổ. Hay như Great Britain’s
Bearing, một trong những ngân hàng lâu đời nhất thế giới đã phá sản năm
1995 khi đầu cơ các hợp đồng tương lai trong một thương vụ ở Singapore.
Tuy vậy, các công cụ tài chính phái sinh vẫn phát triển mạnh mẽ và được sử
dụng rộng rãi tại các thị trường tài chính lớn của thế giới. Nguyên nhân không
nằm ngoài việc đó là phương thức duy nhất để các chủ thể trên thị trường
18
phòng chống rủi ro. Theo điều tra đối với 500 công ty lớn nhất thế giới tai 26
quốc gia khác nhau thì có tới 92 % các công ty trả lời rằng họ thường xuyên
sử dụng công cụ tài chính phái sinh để phòng ngừa và quản lí rủi ro
Thị trường phái sinh là thị trường dành cho các công cụ tài chính phái
sinh, những công cụ mang tính hợp đồng, mà thành quả của chúng được xác
định trên một hoặc một số công cụ tài sản khác. Chúng ta xem các công cụ
phái sinh như là các hợp đồng, và giống như tất cả hợp đồng, chúng được thoả
thuận giữa hai bên, người mua và người bán, trong đó mỗi bên sẽ thực hiện
nghĩa vụ gì đó cho bên kia. Các hợp đồng này có giá cả và người mua sẽ cố
gắng mua với giả rẻ và người bán cố gắng bán với giá cao nhất. Các loại công
cụ phái sinh khác nhau bao gồm: Hợp đồng kỳ hạn, Hợp đồng giao sau, quyền
chọn, hoán đổi và chứng khoán lai tạp.
- Yêu cầu đối với kế toán công cụ tài chính:
chứng khoán. Theo cách này, giá trị bị tác động bởi ba nhân tố:
- Độ lớn và thời điểm của những luồng tiền dự tính trong tương lai của tài sản.
Với trái phiếu, độ lớn và thời điểm của luồng thu nhập phụ thuộc vào mệnh
giá, lãi suất danh nghĩa, phương thức trả gốc lãi, kỳ hạn
- Mức độ rủi ro của luồng tiền hay độ không chắc chắn của luồng thu nhập
- Tỷ lệ lợi tức yêu cầu của nhà đầu tư đối với việc thực hiện đầu tư. Tỷ lệ lợi
tức này phụ thuộc vào mức độ rủi ro, vào ý muốn chủ quan của nhà đầu tư.
Có thể nói, hai nhân tố đầu thuộc về đặc điểm của tài sản, nhân tố thứ ba là
tỷ lệ lợi tức tối thiểu càn thiết để thu hút nhà đầu tư mua hoặc giữ một chứng
khoán. Tỷ lệ này phải đủ cao để bù đắp cho nhà đầu tư vì rủi ro chứa đựng
20
trong những luồng tiền tương lai của tài sản vì vậy đây là tỷ lệ lợi tức cân
bằng với rủi ro.
- Việc xác định giá trị hiện tại của khoản thanh toán trong tương lai được
thực hiện theo phương pháp chiết khấu dòng tiền bằng cách quy đổi giá trị
danh nghĩa của khoản thanh toán trong tương lai theo lãi suất thực tế tại thời
điểm hiện tại.
- Khi sử dụng phương pháp chiết khấu dòng tiền, doanh nghiệp phải xác định
các yếu tố sau:
+ Giá trị danh nghĩa của khoản thanh toán trong tương lai: Là giá trị bằng tiền
của khoản thanh toán trong tương lai. Trường hợp khoản thanh toán trong
tương lai là ngoại tệ thì trước khi chiết khấu về giá trị hiện tại, doanh nghiệp
phải quy đổi giá trị danh nghĩa của khoản thanh toán trong tương lai bằng
ngoại tệ về đồng tiền kế toán theo tỷ giá giao dịch thực tế hoặc tỷ giá bình
quân liên ngân hàng tại thời điểm báo cáo.
+ Lãi suất thực tế dùng để chiết khấu dòng tiền (lãi suất chiết khấu)
+ Thời gian chiết khấu dòng tiền: Là khoảng thời gian còn lại kể từ thời điểm
ghi nhận tài sản hoặc nợ phải trả đến thời điểm đáo hạn hợp đồng.
+ Kỳ chiết khấu dòng tiền: Là khoảng thời gian được tính theo kỳ hạn lãi suất
thực tế (tháng, quý, năm) dùng để chiết khấu. Số lượng kỳ chiết khấu dòng
72.727.272,73
31/12/N+1 80.000.000
1/(1+10%)^2 =
0,826446281
66.115.702,48
31/12/N+2 80.000.000
1/(1+10%)^3 =
0,751314801
60.105.184,07
31/12/N+3 80.000.000
1/(1+10%)^4 =
0,683013455
54.641.076,43
31/12/N+4 1.080.000.000
1/(1+10%)^5 =
0,620921323
670.595.028,90
Giá trị hợp lý 924.184.264,61
Biểu 2.1 Định giá công cụ tài chính theo phương pháp chiết khấu dòng
tiền
Định giá các công cụ tài chính phái sinh
- Trường hợp công cụ tài chính phái sinh được phân loại là tài sản
+ Giá trị hợp lý công cụ tài chính phái sinh được xác định dựa trên giá niêm
yết trên thị trường.
22
+ Trường hợp không có giá niêm yết trên thị trường, doanh nghiệp phải tự
xác định giá trị hợp lý bằng các kỹ thuật định giá để xác định giá trị của tài
sản phái sinh vào ngày xác định giá trị trong một giao dịch trao đổi ngang giá.
- Các kỹ thuật định giá có thể bao gồm:
+ Sử dụng giá của các giao dịch ngang giá trên thị trường giữa các bên có đầy
các chỉ tiêu, phải rõ ràng, trung thực với nội dung nghiệp vụ kinh tế, tài chính
phát sinh. Chữ viết trên chứng từ phải rõ ràng, không tẩy xóa, không viết tắt.
Số tiền bằng chữ phải khớp đúng với số tiền bằng số.
Trong kế toán công cụ tài chính thì những chứng từ sau được sử dụng:
- Chứng từ sử dụng trong công cụ tài chính truyền thống
+ Phiếu nhập kho (khi mua chứng khoán), phiếu xuất kho (Khi bán chứng
khoán)
+ Bảng kê chứng khoán gửi lưu ký trong ngày
+ Bảng kê chứng khoán lưu ký rút ra trong ngày
+ Phiếu thu, phiếu chi
- Chứng từ sử dụng trong công cụ tài chính phái sinh: Bao gồm những
chứng từ sử dụng trong công cụ tài chính truyền thống và một số chứng từ
sau: hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng hoán đổi, quyền chọn, hợp đồng giao sau.
2.2.4.2. Tài khoản sử dụng
Hệ thống tài khoản kế toán áp dụng đối với công ty chứng khoán thực hiện
theo qui định tại Quyết định 15/2006/QĐ-BTC và các sửa đổi, bổ sung.
Các công ty chứng khoán căn cứ vào hệ thống tài khoản Kế toán quy định
trong chế độ kế toán công ty chứng khoán, tiến hành nghiên cứu, vận dụng và
24
chi tiết hóa hệ thống tài khoản kế toán phù hợp với đặc điểm kinh doanh, yêu
cầu quản lý của từng công ty nhưng phải phù hợp với nội dung, kết cấu và
phương pháp hạch toán của các tài khoản tổng hợp tương ứng.
Hệ thống tài khoản của công ty chứng khoán bao gồm các tài khoản cấp 1 và
tài khoản cấp 2, tài khoản trong bảng cân đối kế toán và tài khoản ngoài bảng
cân đối kế toán. Trường hợp công ty cần bổ sung tài khoản cấp 1, cấp 2 hoặc
sửa đổi tài khoản cấp 1, cấp 2 về tên, ký hiệu, nội dung và phương pháp hạch
toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đặc thù thì phải được sự chấp thuận bằng
văn bản của Bộ Tài chính trước khi thực hiện.
Các công ty có thể mở thêm các tải khoản cấp 2, cấp 3 đối với những tài
khoản không có quy định tài khoản cấp 2 và cấp 3 tại danh mục hệ thống tài