1
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
I.TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ KINH TẾ VIỆT NAM TỪ 2008 – NAY 2
1.Kinh tế thế giới 2
2.Kinh tế Việt Nam 8
II.KHỦNG HOẢNG TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM TỪ 2008 – NAY 13
1.Tổng quan thị trường chứng khoán Việt Nam 2008 – nay 13
3.1.Nguyên nhân khách quan 18
3.2.Nguyên nhân chủ quan 19
III.HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 22
TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
DANH SÁCH NHÓM 24
LỜI NÓI ĐẦU
Thị trường chứng khoán Việt Nam đã chính thức kỷ niệm sinh nhật lần thức 11
ngày 20/7/2011.
Với những nhà đầu tư đã trải qua quãng đường suốt 11 năm trời ròng rã cùng với
thị trường, biết bao nhiêu kỷ niệm vui buồn đã đến và đi. Được đấy và cũng mất đấy, đồ
thị dao động tâm trạng của nhà đầu tư cũng hệt như biến động hình sin của thị trường
trong vòng 10 năm.
2
Con sóng đầu tiên từ thuở "khai sinh lập địa" đã làm cho mỗi nhà giàu ở Hà Nội
được cộng thêm một chiếc Mercedes vào tài sản cá nhân cứ sau một phiên thị trường tăng
nóng. Nó đã mang lại lợi lộc cho không biết bao nhiêu người.
Dĩ nhiên, lợi lộc của người này lại là mất mát của người nọ - quy luật bất biến và
cũng là bài toán bù trừ trong TTCK. Song ít gì, trong 10 năm đầu, thị trường có xuống có
lên, chủ thuyết đầu tư dài hạn ít ra còn có tác dụng đối với những người kiên nhẫn. Tài
sản không đến nỗi đội nón ra đi không bao giờ trở lại. Hoàn toàn không giống với những
gì đã bắt đầu từ ngày sinh nhật 20/7/2010
Đợt khủng hoảng bắt đầu từ cuối năm 2007 và tình trạng đang suy thoái của thị
trường hẳn làm không ít nhà đầu tư phải lo lắng, buồn phiền.
dọa nghiêm trọng cuộc sống của tầng lớp dân nghèo.
Chính sách tiền tệ: Từ chủ trương thắt chặt tiền tệ để chống khủng hoảng, thế giới
đã chuyển sang nới lỏng mạnh mẽ chính sách này để chống khủng hoảng và hỗ trợ tăng
trưởng. Cùng với việc hạ lãi suất, các nước cũng liên tục bơm tiền với khối lượng lớn vào
hệ thống tài chính và nền kinh tế để tăng cường tính thanh khoản cho thị trường.
Hai mặt hàng được quan tâm nhiều là vàng và dầu thô đều cùng đạt đỉnh cao lịch
sử trong năm nay, với mức trên 1.030 USD/oz đối với giá vàng vào thời điểm tháng 3, và
mức trên 147 USD/thùng đối với giá dầu vào giữa tháng 7. Sau đó, giá cả hai mặt hàng
này cùng trượt dốc dài.
Năm 2009
Nền kinh tế thế giới đã dần sáng trở lại sau cơn bão tài chính. Cuộc khủng hoảng
đã khép lại khi các trung tâm kinh tế tài chính lớn phát đi những tín hiệu phục hồi. Những
biện pháp quyết liệt trong chính sách tiền tệ nới lỏng và tài khóa mở rộng của các chính
phủ được nhận định là nguyên nhân chính đem lại sự phục hồi nhanh chóng của kinh tế
thế giới.
4
Các nước trên thế giới đã có sự liên kết hợp tác trong hành động ứng cứu nền kinh
tế, mà đặc biệt quan trọng là chương trình hành động của các quốc gia nhóm G20. Theo
số liệu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) những nước nhóm G20 đã chi tổng cộng khoảng
10 nghìn tỉ USD để kìm hãm đà suy giảm. Trong đó, Anh là nước chi nhiều nhất, đến
94% GDP, kế đến là Mỹ, 25% GDP. Cục dự trữ liên bang Mỹ đã duy trì lãi suất FED ở
mức thấp gần 0% để kích thích tiêu dùng và sản xuất nhằm vực dậy nền kinh tế.
Kinh tế toàn cầu đã bắt đầu có dấu hiệu phục hồi từ trong quý II/2009. Hầu hết các
quốc gia trên thế giới đã có tốc độ tăng trưởng GDP dương trong quý III và quý IV/2009.
Chỉ số giá tiêu dùng CPI của nhiều quốc gia cũng bắt đầu tăng trưởng dương cho thấy
dấu hiệu phục hồi trở lại của nhu cầu tiêu dùng. Nhiều chỉ báo kinh tế khác như chỉ số
lòng tin người tiêu dùng, tăng trưởng công nghiệp,doanh số bán nhà, số đơn đặt hàng
cũng được cải thiện khá tích cực. Các nền kinh tế mới nổi, đặc biệt là Trung Quốc, cũng
khôi phục được đà tăng trưởng, thậm chí còn nhanh hơn mong đợi. Tại Mỹ, hai chỉ số
quan trọng hàng đầu là chỉ số sản xuất công nghiệp và chỉ số “leading” (chỉ số lãnh đạo)
của các nước phát triển (Mỹ, EU và Nhật).
Tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức cao ở hầu hết các nước: Khoảng 27,6 triệu người đã
mất việc từ khi cuộc Đại Suy thoái xảy ra, nâng tổng số người thất nghiệp trên toàn thế
giới lên tới 205 triệu người. Ở các nền kinh tế chủ chốt, dù kinh tế đang phục hồi nhưng
tỷ lệ thất nghiệp vẫn chưa được cải thiện nhiều.
Ngân sách thâm hụt trầm trọng và nợ công gia tăng: Thâm hụt ngân sách lớn hạn
chế Chính phủ thực thi chính sách tài khóa và đẩy một số nước vào nguy cơ khủng hoảng
nợ công, làm tăng chi phí vay vốn và là mầm mống cho bất ổn trong thị trường tài chính.
Thâm hụt ngân sách cũng tạo ra nguy cơ tăng tỷ lệ thất nghiệp khi Chính phủ phải thắt
lưng buộc bụng và sa thải lao động trong khu vực công.
Lạm phát và lãi suất ở mức thấp ở các nước phát triển, ở mức trung bình ở các
nước đang phát triển nhưng tăng mạnh trở lại từ cuối năm 2010: NHTW nhiều nước
cùng với chính sách “nới lỏng định lượng” khẩn cấp đã tiến hành phối hợp cắt giảm
mạnh lãi suất chính sách,và cam kết duy trì lãi suất thấp. Trong suốt năm 2010, lạm phát
ở mức thấp tại các nước phát triển. Theo như ước tính của IMF, tỷ lệ lạm phát toàn phần
6
trung bình cả năm 2010 ở các nước phát triển là 1,5%. Do ảnh hưởng của sự tăng giá của
hàng hóa trên thế giới, kinh tế đang trên đà phục hồi mạnh, cùng với tác động của các
dòng vốn và nguồn tiền nóng, lạm phát toàn phần tại các nước đang phát triển đã trở lại
mức trung bình cao (6,3% theo IMF 2011) và đang có xu hướng tăng lên ở mức đáng
ngại từ cuối năm 2010. NHTW một số nước đang phát triển đã bắt đầu tiến hành nâng lãi
suất và thắt chặt tiền tệ để kiềm chế lạm phát.
Thương mại toàn cầu năm 2010 phục hồi nhưng chưa như mong đợi: Sau khi sụt
giảm trầm trọng hơn 11% vào năm 2009, thương mại toàn cầu năm 2010 đã phục hồi với
mức tăng ước tính khoảng 10,5%. Thương mại toàn cầu đang có xu hướng dịch chuyển
trọng tâm sang các nước đang phát triển đặc biệt là Trung Quốc
WTO và đàm phán thương mại đa phương vẫn bế tắc, đàm phán thương mại khu
vực gia tăng. Trong năm 2010, đặc biệt phải kể đến sự trở lại và phát triển lên một tầm
mới của Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương.
Giá cả hàng hóa biến động và tăng mạnh trở lại từ cuối năm: Việc tăng giá trở lại
toàn cầu năm 2011 bao gồm: sự mất cân bằng kéo dài trong khu vực tài chính và khu vực
tài khóa tại các nền kinh tế phát triển gây ra những bất ổn về kinh tế vĩ mô và hoạt động
tài chính-ngân hàng toàn cầu; giá dầu tăng cao làm tăng chi phí đầu vào và tình trạng thất
nghiệp tại các nước phát triển vẫn chưa được cải thiện nhiều; nguy cơ khủng hoảng nợ
công lan rộng sang nhiều nước tại khu vực châu Âu gây rủi ro đối với hệ thống tài chính
khu vực và toàn cầu; trong khi đó nhiều quốc gia đang phát triển và mới nổi lại đang
bước vào giai đoạn tăng trưởng kinh tế nóng với áp lực lạm phát cao là dấu hiệu của việc
kinh tế có thể tăng trưởng chậm lại.
Lạm phát: đã tăng lên mức cao và đe dọa cản trở tốc độ phục hồi kinh tế thế giới
cũng như sự ổn định kinh tế vĩ mô của các nước. Lạm phát ở các quốc gia phát triển có
dấu hiệu tăng nhanh hơn các quốc gia đang phát triển. Mức tăng của chỉ số giá tiêu dùng
(CPI) so với cùng kỳ năm trước tính đến cuối tháng 5-2011 tại Mỹ là 3,6%, cao nhất kể
từ tháng 7/2008, tại Anh là 4,5%, Singapore là 4,48%, Canada là 3,7%; tính đến cuối
tháng 6-2011 tại khu vực Eurozone là 2,7% và tại Hàn Quốc là 4,4% so với cùng kỳ năm
ngoái. Trung Quốc bất chấp rất nhiều các biện pháp thắt chặt tiền tệ như liên tiếp tăng các
8
mức lãi suất chính sách, tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc nhưng CPI của nước này tính đến cuối
tháng 6-2011 vẫn tăng ở mức kỷ lục 6,4%. Các nước đang phát triển khác như Nga, Ấn
Độ, cũng có tốc độ tăng CPI tính đến cuối tháng 5 ở mức cao, lần lượt là 9,6%, 8,9% so
với cùng kỳ năm ngoái.
Đô la Mỹ liên tục giảm giá so với hầu hết các đồng tiền chủ chốt trên thế giới
ngoại trừ đợt phục hồi nhẹ trong tháng 5-2011.
Tăng lãi suất để ứng phó: NHTƯ nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia
đang phát triển, đều đang điều chỉnh lãi suất chính sách theo chiều hướng tăng dần nhằm
đối phó với áp lực lạm phát.
2. Kinh tế Việt Nam
Tăng trưởng GDP
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Tổng sản phẩm quốc nội
GDP danh nghĩa (tính theo
USD, làm tròn)
15 16 19 25 31 36 44 62 80 69 84
Chênh lệch–nhập siêu (tính
theo tỷ USD, làm tròn)
-1 -1 -3 -5 -5 -4 -5 -14 -18 -12 -13
Sau khi gia nhập WTO, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam đã không ngừng gia
tăng. Việt Nam đã tận dụng được lợi thế và thời cơ trong việc gia tăng giá trị xuất khẩu từ
mức 48 tỷ đô năm 2007 lên 71 tỷ đô năm 2010. Tuy nhiên, tình trạng nhập siêu vẫn hết
sức căng thẳng với các con số hết sức đáng lo ngại với trước khi giai nhập WTO do nhu
cầu nhập khẩu máy móc và nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất tăng cao.
Hoạt động đầu tư
Chất lượng tăng trưởng thấp thể hiện qua chỉ số ICOR cao cơ cấu trong nền kinh
tế thiếu tính bền vững. Tỷ lệ đầu tư trên GDP của Việt Nam luôn ở mức cao so với các
nước trong khu vực. ICOR càng cao đồng nghĩa với hiệu quả đầu tư trong nền kinh tế
càng thấp. Cơ cấu kinh tế Việt Nam không hợp lý thể hiện ở cơ cấu sở hữu (tài sản và
đầu tư tập trung quá lớn vào khối doanh nghiệp nhà nước, trong khi khối này hoạt động
10
không hiệu quả). Sự bất cập trong cơ cấu nền kinh tế còn được thể hiện qua việc lựa chọn
ngành trong chiến lược phát triển công nghiệp chưa tận dụng được lợi thế cạnh tranh của
Việt Nam đang có. Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế cho tới chưa đạt, khối dịch vụ mới
chỉ chiếm 40% GDP.
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FDI-thực hiện (tính theo tỷ
USD, làm tròn)
2.4 2.4 2.5 2.6 2.8 3.3 4.1 8.0 11.5 10 11
Chênh lệch đăng ký-thực
hiện FDI (tính theo tỷ USD,
làm tròn)
-0.4 -0.7 -0.4 -0.5 -1.7 -3.5 -7.9 -13.3 -60.2 -13.1 -7.6
pháp thực thi chủ yếu đều mang tính ngắn hạn, tình thế (chữa cháy), nặng về hành chính,
chưa tập trung xử lý các vấn đề cơ bản như cơ cấu, hiệu quả và sức cạnh tranh.
Việt Nam phát triển không bền vững là do thiếu tư duy kinh tế và quyết tâm chính
trị đủ mạnh. Rất nhiều chính sách của Việt Nam thuộc dạng lỗi thời so với các nước
Đông Nam Á, không chỉ riêng những chính sách về kinh tế, giáo dục hay khoa học công
nghệ. Theo East Asian Bureau of Economic Research, bất ổn trong nền kinh tế vĩ mô của
Việt Nam đã làm suy yếu tính cạnh tranh và hiệu quả kinh tế của quốc gia này. Và sự bất
ổn trong nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam không chỉ là một xáo động ngắn hạn mà thực sự
là một vấn đề nghiêm trọng có hệ thống, bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết về các khái niệm
về nguyên tắc phát triển cũng như sự thiếu hụt về nỗ lực mang tính chiến lược nhằm xây
dựng một nền quản lý hiệu quả.
→ Những vẫn đề tồn tại của nền kinh tế
Nền kinh tế Việt Nam hoạt động kém hiệu quả. Việt Nam trong thời gian vừa qua
phát triển kinh tế theo chiều rộng. Tuy nhiên, chiến lược phát triển kinh tế chủ yếu theo
chiều rộng cũng như bất kỳ một chính sách nào cũng đều có những hạn chế của nó. Phát
triển kinh tế theo chiều rộng thông thường đòi hỏi vốn đầu tư cao và dàn trải. Do vậy,
hiệu quả vốn đầu tư khó có thể cao, biểu hiện chỉ số ICOR của Việt Nam mặc dù có được
12
cải thiện nhưng vẫn ở mức cao so với các nước trong khu vực và thế giới. Hiệu quả đầu
tư không cao và dàn trải được tích tụ qua các năm là nguyên nhân chủ yếu làm cho lạm
phát tăng cao.
Nhu cầu đầu tư lớn dẫn đến tình trạng đầu tư vượt xa khả năng tích lũy của nền
kinh tế, thâm hụt ngân sách luôn ở mức cao. Để bù đắp phần thiếu hụt phải trông cậy vào
đầu tư nước ngoài và vay nợ nước ngoài. Thực tế này đã làm cho nợ quốc gia và nợ công
nước ngoài tăng nhanh trong những năm vừa qua, mặc dù vẫn trong ngưỡng an toàn
nhưng cũng đến lúc phải thận trọng.
Thâm hụt cán cân thương mại, nhập siêu ở mức cao và trở thành căn bệnh kinh
niên của nền kinh tế. Lạm phát cao, nhập siêu lớn là nguyên nhân cơ bản làm mất giá
đồng Việt Nam, suy giảm dự trữ ngoại tệ quốc gia và làm giảm lòng tin của người dân
2008 – NAY
1. Tổng quan thị trường chứng khoán Việt Nam 2008 – nay
Hiện Việt Nam có 2 sở giao dịch chứng khoán, 1 ở Hà Nội và 1 ở thành phố Hồ
Chí Minh. Tại HOSE có 172 cổ phiếu được niêm yết và sử dụng chỉ số giá chứng
khoán Vn-Index; ngoài ra còn có 68 trái phiếu và 4 chứng chỉ quỹ. Tại HNX-Index có
170 cổ phiếu được niêm yết và sử dụng chỉ số HNX-Index; ngoài ra còn có 531 loại trái
phiếu. Bên cạnh cổ phiếu được niêm yết, cổ phiếu chưa niêm yết (ở Việt Nam quen gọi là
cổ phiếu OTC) cũng được giao dịch rất nhiều. Thị trường trái phiếu Việt Nam hiện chỉ có
các loại trái phiếu (định danh bằng đồng hoặc dollar Mỹ) do chính phủ, kho bạc nhà nước
và chính quyền một số tỉnh, thành phố phát hành; chưa có trái phiếu doanh nghiệp. Việt
Nam cũng đã phát hành và niêm yết trái phiếu chính phủ tại thị trường chứng khoán nước
ngoài.
Thống kê quy mô toàn thị trường năm 2008 - 2010
2008 2009 2010
14
Vốn hóa thị trường ('000.000)
Tỉ trọng vốn hóa thị
trường / GDP (%)
Số lượng các DN niêm yết
HO
Số lượng các DN niêm yết HA
Số lượng các DN niêm yết
Upcom
Số lượng công ty chứng khoán
hoạt động
Số lượng tài khoản chứng
khoán, trong đó
Cá nhân
Tổ chức
Nước
doanh nghiệp nhà nước lại thêm một năm thất bại, theo báo cáo của Bộ Tài chính,
11 tháng đầu năm 2008 chỉ cổ phần hóa được 73/262 doanh nghiệp, chỉ đạt 28%
kế hoạch đã được Chính phủ phê duyệt trước đó.Số công ty chứng khoán hiện có
16
là 101, cao hơn số 55 của năm 2006 và 74 của năm 2007. Số công ty quản lý quỹ
hiện có 42,tăng so với 18 của năm 2006 và 24 của năm 2007.
• Tổng khối lượng niêm yết đạt gần 8 tỷ đơn vị cao gấp 1,7 lần năm 2007 và 3,2 lần
năm 2006.
• Giá trị vốn hóa thị trường là một trong những chỉ báo có tầm quan trọng hàng đầu
phản ánh quy mô thị trường chứng khoán, đến nay đã đạt khoảng 219.775 tỷ đồng
(tương đương 13,12 tỷ USD) (sàn TP.HCM 169,346 nghìn tỷ đồng, sàn Hà Nội
50,429 nghìn tỷ đồng). So với GDP tính theo giá thực tế năm 2009 (ước đạt 1.478
nghìn tỷ đồng), thì tổng giá trị vốn hóa thị trường chứng khoán Việt Nam đạt
14,7%, thấp hơn mức cuối năm 2006 (22,6% GDP) và cuối năm 2007 (40% GDP).
Năm 2009
Mặc dù những tháng cuối năm thị trường chứng khoán Việt Nam đã có điều chỉnh
giảm do tác động của chính sách thắt chặt tiền tệ của Chính phủ nhưng nhìn chung với
một chu kì tăng điểm kéo dài hơn 8 tháng trong những tháng giữa năm thì cả năm 2009
thị trường chứng khoán Việt Nam có một năm tăng trưởng khá ấn tượng.
• Nếu tính từ ngày 01/01/2009 đến 31/12/2009 thì VN-Index đã tăng thêm 171,96
điểm lên đến 494,77 điểm tương đương với mức tăng 58%. Đáy thấp nhất trong
năm là 234,66 điểm vào ngày 24/02/2009 còn đỉnh cao nhất là 633,21 điểm vào
ngày 23/10/2009, cao gấp 2.69 lần.
• Ở sàn HNX-Index cũng tăng 60,9%,đáy là 78,06 điểm còn đỉnh là 218,38
điểm,cao gấp 2,79 lần. Thị trường hình thành 2 đợt tăng trưởng là đầu tháng 3 đến
đầu tháng 6 và từ đầu tháng 8 đến cuối tháng 10. Có 3 đợt giảm là đầu năm đến
cuối tháng 2, tháng 7 và từ cuối tháng mười đến giữa tháng 12.
• Theo bộ tài chính,mức vốn hóa của TTCK đầu tháng 12 vào khoảng 669 nghìn tỷ
đồng, tăng gần gấp 3 lần so với năm 2008(225 nghìn tỷ đồng). Toàn bộ thị trường
có 730000 tài khoản CK được mở, tăng 180000 tài khoản so với cuối năm 2008,
• So sánh với nửa cuối năm 2010, thì giao dịch trên thị trường chứng khoán nửa đầu
năm 2011 kém sôi động hơn nhiều.
• 9 tháng đầu năm 2011 đã qua đi, nhìn chung giảm điểm vẫn là xu hướng chính của
thị trường chứng khoán trong suốt thời gian vừa qua. Mặc dù có được hai đợt hồi
phục vào cuối tháng 5 và khoảng giữa tháng 8 nhưng so sánh với thời điểm cuối
18
năm ngoái, VN Index vẫn để mất 11,77% trong khi đó với HNX Index thì mức
giảm thậm chí còn sâu hơn, lên đến 37,55%, chốt phiên 30/09, hai chỉ số này lần
lượt đóng cửa ở 427,60 và 71,34 điểm.Nếu tính chỉ riêng trong quý 3 vừa qua, có
thể xem ngoài thời điểm khởi sắc nhất của thị trường chứng khoán Việt Nam trong
năm nay tính đến thời điểm hiện tại, gồm một đợt tăng điểm khá dài của thị trường
chứng khoán kéo dài khoảng 1 tháng từ giữa tháng 8 đến giữa tháng 9, thì cả hai
sàn vẫn mất điểm khi VN Index và HNX Index lần lượt giảm 3,32% và 5,23%.
3. Nguyên nhân khủng hoảng
3.1. Nguyên nhân khách quan
Mặc dù không chịu ảnh hưởng trực tiếp nhưng TTCK Việt Nam cũng đã chịu tác
động nhất định từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Sự tác động này biểu hiện ở
các phương diện sau:
• Một là, khủng hoảng tài chính với sức lan tỏa mạnh đã nhanh chóng tác động đến
các quốc gia vốn là thị trường xuất khẩu hàng hóa của nhiều doanh nghiệp niêm
yết như Mỹ, EU, Nhật, Hàn Quốc… Thị trường co lại, những đơn hàng chật vật
kiếm được cũng chỉ đủ để DN hòa vốn. Khủng hoảng làm sức mua trên thị trường
giảm sút nghiêm trọng ảnh hưởng tới doanh thu và lợi nhuận của các DN niêm yết
làm cho giá cổ phiếu của các DN này vốn đang sụt giảm lại khó có khả năng phục
hồi.
• Hai là, khủng hoảng đã làm cho các nhà đầu tư nước ngoài bán ròng cổ phiếu, trái
phiếu. Huy động gián tiếp vào thị trường Việt Nam rất khó khăn do các nhà đầu tư
sẽ hướng tới các kênh đầu tư an toàn. Việc bán tháo chứng khoán ra khỏi thị
trường Việt Nam là có thể, mặc dù xác suất không cao do tính thanh khoản và quy
mô của thị trường. Điều này cũng kéo theo việc phát hành chứng khoán huy động
giá với đồng Việt Nam.
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Tăng giảm giá USD
(tăng giảm % so với
3.4 3.8 2.1 2.2 0.4 0.9 1.0 -0.3 6.3 10.7 9.6
20
năm trước)
Giá dầu tăng làm tăng tốc độ trượt giá và qua đó tác động tiêu cực tới thị trường
chứng khoán.
Thị trường bất động sản vẫn leo thang mặc dù các dự án xây dựng phát triển bất
động sản cũng sẽ tăng lên rất nhiều có thể khiến một lượng tiền từ TTCK chuyển
qua bất động sản. Kênh đầu tư bất động sản do đó sẽ vẫn hấp dẫn đối với nhà đầu
tư sức cạnh tranh hút vốn của nó đối với thị trường chứng khoán sẽ tiếp tục diễn ra.
Nguồn vốn cho vay chứng khoán của ngân hàng hầu như đã hết room do mặt bằng
lãi suất ngày càng tăng cao. Lãi suất huy động liên tục tăng trần và vượt trần. Do
vậy sẽ khó có nguồn tiền mới từ ngân hàng cho vay trực tiếp vào TTCK.
Chi phí doanh nghiệp có thể tăng do giá nguyên liệu đầu vào sẽ tăng cùng với sự
phục hồi của nền kinh tế thế giới, trong khi nhiều doanh nghiệp VN chưa có cải
tiến đáng kể về năng suất lao động và giá trị sản phẩm. Điều này làm hạn chế lợi
nhuận sản xuất kinh doanh.
Nhân tố quan trọng nhất giúp thị trường tiếp tục đà tăng là tính thanh khoản cao
của thị trường. Tuy nhiên tính thanh khoản cao này chủ yếu do hoạt động mua bán
với chu kỳ rất ngắn, 2-4 ngày, tạo độ chu chuyển nguồn tiền lớn trong khi nguồn
vốn mới sẽ khó tăng mạnh, đặc biệt nguồn vốn từ ngân hàng sẽ hạn chế.
Ngoài ra, còn có các yếu tố chủ quan khác:
Vấn đề về khung pháp lý: Những người sở hữu cổ phần nắm trong tay cổ phiếu là
một tờ giấy có giá trị ảo chứ không phải là giá trị thật như vàng. Cho nên luật pháp
nhà nước phải nghiêm minh để là công cụ bảo vệ giá trị cho những tờ cổ phiếu đó.
Một nền luật pháp yếu kém như nước ta hiện nay không bảo vệ được giá trị cho
những cổ phiếu Hơn nữa nhiều quy định của TTCK đã đưa ra từ khi mới bắt đầu
đến các thông tin tốt của nền kinh tế trong nước nữa. Cái mà họ quan tâm là diễm
biến tình hình giao dịch ở các TTCK Mỹ, Anh, Nhật thế nào và sẽ có hành vi đầu
tư tương tự. Trong những tháng đầu năm 2009, diễn biến của các chỉ số chứng
khoán Việt Nam luôn cùng chiều với chỉ số của thị trường các nước trên. Vậy
22
khủng hoảng tài chính toàn cầu đã chuyển hướng tâm lý đầu tư của các nhà đầu tư
Việt Nam: từ đầu tư theo các nhà đầu tư nước ngoài sang đầu tư theo các nhà đầu
tư ngoài nước. Tâm lý này đã trở thành một rào cản không nhỏ cho nỗ lực của
Chính phủ nhằm vực dậy TTCK.
III. HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
IMF khuyến nghị cơ quan chức năng cần thắt chặt hơn nữa những biện pháp duy
trì an toàn, đặc biệt nhấn mạnh vào việc quản lý rủi ro đối với các ngân hàng thương mại
từ TTCK. Về nguyên tắc, chỉ những ngân hàng có cơ chế quản lý rủi ro thị trường và rủi
ro tín dụng tốt, có cán bộ được đào tạo tốt mới được cấp phép tín dụng để mua chứng
khoán hoặc chấp nhận những rủi ro liên quan đến TTCK.
Bên cạnh đó, bản khuyến nghị cũng khuyến cáo chính phủ nên tiếp tục chính sách
tích lũy đủ dự trữ để đảm bảo cán cân thanh toán trong trường hợp luồng vốn đầu tư gián
tiếp hiện tại đảo chiều trong tương lai khi thâm hụt cán cân vãng lại vẫn còn kiểm soát
được và dòng vốn chảy vào vẫn mạnh. Tuy nhiên cùng với chính sách đó, NHNN cũng
cần thắt chặt tiền tệ và kiếm chế sự tăng trưởng cho vay của ngân hàng. NHNN có thể
linh hoạt hơn trong việc quản lý VND, cho phép tỷ giá giảm giá hơi nhanh hơn nếu dòng
vốn đối chiểu để giảm áp lực đối với dự trữ.
Về chính sách quản lý nợ và ngân sách, bản khuyến nghị cho biết chính sách quản
lý nợ và ngân sách cần thận trọng để giữ vai trò hỗ trợ quan trọng trong việc kiềm chế
thâm hụt cán cân vãng lai đối ngoại và bảo vệ tính bền vững của nợ trung hạn.
Chính phủ cũng cần nỗ lực hơn nữa cải thiện tính minh bạch và cũng cổ việc thực
thi những quy định liên quan đến các giao dịch chứng khoán, cần đặc biệt duy trì tiêu
chuẩn niêm yết nghiêm ngặt, đảm bảo rằng các công ty niêm yết đạt yêu cầu công bố
thông tin phù hợp với những chuẩn mực quốc tế, tăng cường tính an toàn và xử phạt các
giao dịch nội gián.