CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP-PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC - Pdf 28

Bài thu hoạch chuyên đề bồi dưỡng thường xuyên
CHUYÊN ĐỀ: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC
Mã mô đun THPT 18 – BDTX – Năm học 2013 - 2014
Giáo viên: Trần Thị Minh Phúc
Giáo viên tổ Ngữ văn – Trường THPT Quỳnh Lưu 2
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Vấn đề phát huy tính tích cực của người học đã được đặt ra trong ngành giáo dục
nước ta từ thập niên 60 của thế kỉ trước. Thời kì này, trong các trường sư phạm đã có khẩu
hiệu: “ Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”. Những lần cải cách giáo dục tiếp
theo, phát huy tính tích cực là một trong các phương hướng cải cách , nhằm đào tạo ra
những con người năng động, sáng tạo, làm chủ bản thân và đất nước.
Tuy nhiên, cho đến nay sự chuyển biến về PPDH trong các loại hình nhà trường còn diễn
tiến chậm; chủ yếu vẫn là cách dạy truyền thống : thày thông báo các kiền thức có sẵn , trò
thu nhận chúng một cách thụ động ; xen kẽ trong các bài dạy có sử dụng các phương pháp
vấn đáp tái hiện hoặc giải thích- minh hoạ với sự hỗ trợ của đồ dùng trực quan
Nếu cứ tiếp tục cách dạy và học thụ động như thế, giáo dục sẽ không đáp ứng được yêu
cầu đòi hỏi của xã hội. Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước ( 2000-2020), việc
Việt Nam chúng ta ra nhập WTO năm 2006 là thách thức thực tế không nhỏ đối với đòi hỏi
phải cải cách toàn diện nền giáo dục nước nhà , trong đó có sự đổi mới căn bản về PPDH.
Định hướng đổi mới PPDH đã được xác định trong các Nghị quyết TW từ năm 1996,
được thể chế hoá trong Luật giáo dục(12-1998), đặc biệt tái khẳng định trong điều 5, Luật
giáo dục (2005):” Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư
duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực
hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên.”
Như vậy, có thể nói, vấn đề chủ yếu của việc đổi mới PPDH là hướng tới các hoạt động
học tập chủ động, sáng tạo chống lại thói quen học tập thụ động, giáo điều. Chú ý tới việc
rèn luyện kỹ năng, đặc biệt là kỹ nãng vận dụng vào thực tiễn, hình thành và phát triển các
phẩm chất tư duy độc lập, sáng tạo. DH tạo nên các trạng thái tinh thần, tâm lý tích cực cho
người học.
Đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng đã nêu, vấn đề quan trọng hàng đầu là
PPDH tích cực.

khám phá tri thức, được trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề theo
suy nghĩ của bản thân, động não tư duy các phương án giải quyết khác nhau trong một thời
gian nhất định Từ đó, không những nắm được tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mà còn nắm được
cách thức và con đường đi tới tri thức, kĩ năng, kĩ xảo đó.
b. Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
Rèn luyện phương pháp tự học là mục tiêu, nhiệm vụ và là cách thức, con đường của
PPDHTC. Không đi theo con đường của cách dạy học truyền thống, mang tính nhồi nhét tri
thức cho người học, mà tiếp cận với cách dạy học hiện đại- tự bản thân người học tìm kiếm,
khám phá tri thức thông qua các kênh thông tin đa dạng hóa khác nhau.
Trong sự bùng nổ thông tin của khoa học công nghệ và khoa học xã hội, xu thế dạy
học truyền thống mang tính áp đặt tri thức từ phía người dạy không còn phát huy hiệu quả
tích cực, thì phương pháp tự học được coi là phương pháp học tập cơ bản.Người học là một
kênh tự thông báo các thông tin khác nhau,thu nạp từ nhiều nguồn và bước đầu tự xử lý,
chọn lọc các đơn vị tri thức, nhằm phục vụ cho mục đích của bản thân.
Chúng ta thử tưởng tượng xem, từ 2 đến 3 năm, lượng thông tin khoa học công nghệ
tăng lên 2 lần; còn 3-4 năm, thông tin khoa học xã hội tăng 2 lần.Như vậy, khoảng 3 năm,
thông tin về khoa học nói chung tăng gấp 2 lần. Không phải ngẫu nhiên, xu hướng một số
nước tiên tiến trên thế giới giảm thời gian đào tạo bậc đại học xuống còn 3 năm hoặc hơn
một chút(thời gian đào tạo tại một số trường đại học ở Vương quốc Anh là 3 năm). Những
người được đào tạo- sản phẩm của giáo dục sẽ đáp ứng phù hợp với sự phát triển của xã hội.
Chú trọng rèn luyện phương pháp tự học là tạo cho người học động cơ hứng thú học
tập, rèn kĩ năng, thói quen ý chí tự học để từ đó khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi người,
chất lượng và hiệu quả học tập sẽ được nâng cao.
c. Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác
Dưới góc độ lý thuyết của lý luận dạy học, nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức chung
và tính vừa sức riêng luôn được thực hiện trong quá trình dạy học. Theo nguyên tắc dạy học
này, tri thức truyền tải phải nằm trong vùng ngưỡng phát triển trí tuệ của người học, tức là
không quá thấp và không quá cao(Vưgotxki). Trong khi đó, trình độ nhận thức của người
học trong một lớp là không đồng đều cũng như tư duy luôn có sự khác biệt, do vậy khi áp
dụng PPDHTC phải tính đến sự phân hóa về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập

Đất nước ta đang hội nhập một cách mạnh mẽ vào nền kinh tế thị trường, có sự
hợp tác trên nhiều lĩnh vực với các nước trên thế giới, vì vậy năng lực hợp tác phải trở
thành nhiệm vụ giáo dục trong nhà trường, chuẩn bị bước đường tương lai cho người học.
d. Kết hợp đánh giá của người dạy với tự đánh giá của người học
Vấn đề kiểm tra-đánh giá là một khâu không thể thiếu của quá trình dạy học. Nó
giúp cho người dạy điều chỉnh quá trình dạy, còn người học tự điều chỉnh quá trình học của
bản thân; từ đó mở ra một chu trình dạy học tiếp theo.
Trong quá trình dạy học, kiểm tra là phương tiện để đánh giá.Theo quan điểm dạy
học truyền thống, ngừơi dạy giữ độc quyền đánh giá ngừơi học. Điều này dẫn đến, nhiều khi
các em không hiểu tại sao mình được điểm số như vậy. Ý nghĩa giáo dục trong đánh giá bị
giảm sút đáng kể.
Theo lý thuyết của PPDHTC, người dạy tổ chức hướng dẫn cho người học phát
triển các kĩ năng tự đánh giá; tự điều chỉnh hoạt động học. Ở đây, người dạy cần tạo điều
kiện thuận lợi để người học được tham gia tương tác, đánh giá lẫn nhau.Tự đánh giá đúng
bản thân để từ đó điều chỉnh hành vi, hoạt động của mình là yếu tố cần thiết trong cuộc
sống. Phẩm chất này của mỗi người sẽ dần được hình thành thông qua việc dạy và học tích
cực trong nhà trường.
Theo định huớng của PPDHTC, nhằm đào tạo những con người năng động, sáng
tạo, dễ hoà nhập và thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra- đánh gía không chỉ
dừng lại ở mức độ, yêu cầu tái hiện các tri thức đã học (tư duy tái hiện là tư duy mang tính
thụ động, không tích cực) mà phải kích thích khả năng tìm kiếm của ngưòi học các thách
thức thông qua các bài toán nhận thức, các tình huống có vấn đề, các yêu cầu mang tính
sáng tạo điển hình
Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực
trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực
trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy.
Giáo viên: Trần Thị Minh Phúc – Trường THPT Quỳnh Lưu 2
3
Bài thu hoạch chuyên đề bồi dưỡng thường xuyên
Với sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn là một

Chú trọng cung cấp tri thức, kĩ năng,
kĩ xảo. Học để đối phó với thi cử. Sau
khi thi xong những điều đã học thường
bị bỏ quên hoặc ít dùng đến.
Chú trọng hình thành các năng lực
(sáng tạo, hợp tác,…) dạy phương
pháp và kĩ thuật lao động khoa học,
dạy cách học. Học để đáp ứng những
yêu cầu của cuộc sống hiện tại và
tương lai. Những điều đã học cần thiết,
bổ ích cho bản thân học sinh và cho sự
phát triển xã hội.
Nội dung
Từ sách giáo khoa + giáo viên Từ nhiều nguồn khác nhau: SGK, GV,
các tài liệu khoa học phù hợp, thí
nghiệm, bảng tàng, thực tế…: gắn với:
- Vốn hiểu biết, kinh nghiệm và nhu
cầu của HS.
- Tình huống thực tế, bối cảnh và môi
trường địa phương
- Những vấn đề học sinh quan tâm.
Phương
pháp
Các phương pháp diễn giảng, truyền
thụ kiến thức một chiều.
Các phương pháp tìm tòi, điều tra, giải
quyết vấn đề; dạy học tương tác.
Hình thức
tổ chức
Cố định: Giới hạn trong 4 bức tường

giải quyết một vấn đề xác định. Trong vấn đáp tìm tòi, giáo viên giống như người tổ chức sự
tìm tòi, còn học sinh giống như người tự lực phát hiện kiến thức mới. Vì vậy, khi kết thúc
cuộc đàm thoại, học sinh có được niềm vui của sự khám phá trưởng thành thêm một bước
về trình độ tư duy.
b. Quy trình thực hiện
- Trước giờ học: xác định nội dung bài dạy, đối tượng học sinh xây dựng hệ thống câu hỏi
cho bài học. Đồng thời cũng dự kiến những tình huống và câu hỏi phụ để gợi ý cho HS
- Trong giờ học: Sử dụng hệ thống câu hỏi đã chuẩn bị và thu nhận thông tin phản hồi từ
học sinh
- Sau giờ học: Rút kinh nghiệm về hệ thống câu hỏi đã sử dụng
c. Một số lưu ý
- Câu hỏi phải chính xác, rõ ràng, sát yêu cầu đề bài
- Câu hỏi phải phù hợp với từng đối tượng
- Cùng một nội dung, giáo viên có thể sử dụng nhiều dạng câu hỏi
d. Ví dụ minh họa
- Khi dạy bài “Vợ nhặt” (Tiết 1) để hướng dẫn học sinh tìm hiểu về tình huống truyện, GV
xây dựng hệ thống câu hỏi như sau:
+ Truyện “Vợ nhặt” xoay quanh sự kiện nào?
+ Sự kiện ấy tác động đến tâm lí các nhân vật ra sao (người dân, lũ trả, bà cụ Tứ, Tràng)?
+ Tại sao việc Tràng lấy vợ lại nhận được sự quan tâm đặc biệt của người dân xóm ngụ cư?
+ Em nhận xét gì về tình huống trong tác phẩm này?
+ Ý nghĩa của tình huống truyện trong tác phẩm “Vợ nhặt”?
2. Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề
a. Khái niệm
- Vấn đề là những câu hỏi hay nhiệm vụ đặt ra mà việc giải quyết chúng chưa có quy luật
sẵn cũng như những tri thức, kỹ năng sẵn có chưa đủ giải quyết mà còn khó khăn, cản trở
cần vượt qua.
- Một vấn đề được đặc trưng bởi ba thành phần:
• Trạng thái xuất phát: không mong muốn
Giáo viên: Trần Thị Minh Phúc – Trường THPT Quỳnh Lưu 2

- Khi dạy bài “Vợ nhặt”, Gv nêu vấn đề: bài học nhân sinh rút ra từ truyện ngắn này?
3. Phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ
a. Khái niệm
Lớp học được chia thành từng nhóm nhỏ từ 4 đến 6 người. Tuỳ mục đích, yêu cầu của
vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hay có chủ định, được duy trì ổn định
hay thay đổi trong từng phần của tiết học, được giao cùng một nhiệm vụ hay những nhiệm
vụ khác nhau.
Nhóm tự bầu nhóm trưởng nếu thấy cần. Trong nhóm có thể phân công mỗi người một
phần việc. Trong nhóm nhỏ, mỗi thành viên đều phải làm việc tích cực, không thể ỷ lại vào
một vài người hiểu bết và năng động hơn. Các thành viên trong nhóm giúp đỡ nhau tìm hiêu
vấn đề nêu ra trong không khí thi đua với các nhóm khác. Kết quả làm việc của mỗi nhóm
sẽ đóng góp vào kết quả học tập chung của cả lớp. Để trình bày kết quả làm việc của nhóm
trước toàn lớp, nhóm có thể cử ra một đại diện hoặc phân công mỗi thành viên trình bày một
phần nếu nhiệm vụ giao cho nhóm là khá phức tạp.
Phương pháp hoạt động nhóm có thể tiến hành :
*Làm việc chung cả lớp :
- Nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức
- Tổ chức các nhóm, giao nhiệm vụ
- Hướng dẫn cách làm việc trong nhóm
Giáo viên: Trần Thị Minh Phúc – Trường THPT Quỳnh Lưu 2
6
Bài thu hoạch chuyên đề bồi dưỡng thường xuyên
* Làm việc theo nhóm
- Phân công trong nhóm
- Cá nhân làm việc độc lập rồi trao đổi hoặc tổ chức thảo luận trong nhóm
- Cử đại diện hoặc phân công trình bày kết quả làm việc theo nhóm
* Tổng kết trước lớp
- Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả
- Thảo luận chung
- Giáo viên tổng kết, đặt vấn đề cho bài tiếp theo, hoặc vấn đề tiếp theo trong bài

* Nhóm 1: Dưới ngòi bút Nguyễn Tuân, những vách đá sông Đà, quãng mặt ghềnh Hát
Loóng được miêu tả như thế nào (liệt kê chi tiết, nghệ thuật miêu tả, tác dụng)?
* Nhóm 2: Hình ảnh hút nước, thác nước và thạch trận sông Đà được miêu tr có gì đặc sắc
(liệt kê chi tiết, nghệ thuật miêu tả, tác dụng)?
*Nhóm 3: Nhà văn Nguyễn Tuân có dụng ý gì khi miêu tả sông Đà hung bạo?
* Nhóm 4: Phong cách Nguyễn Tuân được thể hiện như thế nào trong những trang văn miêu
tả sông Đà hung bạo (thể loại, ngôn từ, hình ảnh, biện pháp tu từ,…)?
- Khi dạy bài « Phân tích đề, lập dàn ý bài văn nghị luận », GV cho học sinh thảo luận
nhóm :
+ Nhóm 1, 3: Suy nghĩ của em về câu nói Học đi đôi với hành.
Giáo viên: Trần Thị Minh Phúc – Trường THPT Quỳnh Lưu 2
7
Bài thu hoạch chuyên đề bồi dưỡng thường xuyên
+ Nhóm 2, 4: Giá trị hiện thực sâu sắc của đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh (Trích Thượng
kinh kí sự) của Lê Hữu Trác.
4. Phương pháp trực quan
a. Quy trình thực hiện
- GV treo những đồ dùng trực quan hoặc giới thiệu về các vật dụng thí nghiệm, các thiết bị
kỹ thuật…Nêu yêu cầu định hướng cho sự quan sát của HS.
- GV trình bày các nội dung trong lược đồ, sơ đồ, bản đồ… tiến hành làm thí nghiệm, trình
chiếu các thiết bị kỹ thuật, phim đèn chiếu, phim điện ảnh…
- Yêu cầu HS trình bày lại, giải thích nội dung sơ đồ, biểu đồ, trình bày những gì thu nhận
được qua thí nghiệm hoặc qua những phương tiện kỹ thuật, phim đèn chiếu, phim điện
ảnh.
- Từ những chi tiết, thông tin HS thu được từ phương tiện trực quan, GV nêu câu hỏi yêu
cầu HS rút ra kết luận khái quát về vấn đề mà phương tiện trực quan cần chuyển tải.
b. Một số lưu ý khi sử dụng PP trực quan:
- Phải căn cứ vào nội dung, yêu cầu GD của bài học để lựa chọn đồ dùng trực quan tương
ứng thích hợp.
- Có PP thích hợp đối với việc sử dụng mỗi loại đồ dùng trực quan.

đánh.
- Ba Việt hi sinh, má Việt chèo chống
nuôi gia đình, tham gia đấu tranh, bị bom
đạn của giặc giết hại
- Việt tỉnh dậy lần thứ nhất, bò đi tìm đồng
đội.
- Việt và Chiến tranh nhau đi tòng quân,
sắp xếp việc nhà để lên đường
- Việt tỉnh dậy lần thứ hai, anh nhớ lại chuyện
đi soi ếch hồi ở nhà, chuyện chú Năm và
cuốn sổ gia đình
-Việt tham gia chiến đấu, bị thương, lạc
đồng đội
- Việt tỉnh dậy lần thứ ba, anh nhớ chuyện cái
ná thun, chuyện hi sinh của ba, chuyện về má
- Ba ngày sau, anh Tánh tìm thấy Việt,
đưa vào bệnh viện và giục Việt viết thư
cho chị Chiến
- Việt tỉnh dậy lần thứ tư, anh nhớ lại chuyện
đi bộ đội của mình và chị Chiến
Anh Tánh cùng đồng đội tìm thấy Việt, đưa
về bệnh viện và giục Việt viết thư cho chị
Chiến.
5. Phương pháp dạy học luyện tập và thực hành
a. Bản chất
- Luyện tập, thực hành nhằm củng cố, bổ sung, làm vững chắc thêm các kiến thức lí thuyết.
Trong luyện tập và thực hành, hướng đến việc vận dụng tri thức linh hoạt và hiệu quả.
b. Quy trình thực hiện
- Xác định tài liệu cho luyện tập và thực hành
- Giới thiệu mô hình luyện tập hoặc thực hành

hiện như sau:
Ngư ca tam xướng, yên hồ khoát,
Mục địch nhất thanh, thiên nguyệt cao,
(Thơ chữ Hán: Chu trung ngẫu thành, bài 2)
Ông chài hát lên ba lần thì mặt hồ phủ khói lại rộng thêm ra; chú chăn trâu thổi lên
một tiếng sáo thì mặt trăng trong bầu trời được đẩy cao hơn. Hồ rộng thêm vì làn dân ca
tỏa ra trên mặt nước, lan dần ra, man mác, vô biên. Trăng vọt lên cao vì tiếng sáo vút
thẳng trong bầu trời, không biết dừng lại ở đâu. Tả lời hát, tả tiếng sáo, đồng thời tả cảm
giác của người ta khi nghe ca, nghe nhạc, ý tứ thật là hàm súc sâu xa. Không gian rộng
thêm ra, cao thêm lên mà chính cũng là tâm hồn con người mở rộng ra, lớn thêm lên. Văn
nghệ có thể và phải nâng con người lên một tầm vóc cao đẹp hơn là thế.
(Đinh Gia Khánh)
a2. Dạng 2: Từ một số câu văn cho sẵn viết thành một đoạn văn có luận điểm, luận
cứ hợp lí, theo một phương pháp lập luận được yêu cầu
Chúng tôi đưa ra một số bài tập cụ thể như sau:
1. Cho các câu văn gợi ý sau, hãy viết thành một đoạn văn theo phương pháp quy
nạp:
- Ca dao than thân thường là lời của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa.
- Trong kho tàng ca dao Việt Nam, có rất nhiều bài mở đầu bằng mô típ "Thân em".
2. Từ các câu văn gợi ý sau em hãy viết thành một đoạn văn theo phương pháp nêu
phản đề:
- Chủ nghĩa nhân đạo trong văn học trung đại rất phong phú và đa dạng.
- Khi các nhà văn viết về những thế lực tàn bạo chà đạp con người thì đó có cũng
chính là một biểu hiện của lòng nhân đạo.
- Yêu thương con người là truyền thống quý báu của dân tộc ta.
3. Hãy viết một đoạn văn theo phương pháp diễn dịch từ các câu văn gợi ý sau:
Giáo viên: Trần Thị Minh Phúc – Trường THPT Quỳnh Lưu 2
10
Bài thu hoạch chuyên đề bồi dưỡng thường xuyên
- Cha ông ta có câu "Đi một ngày đàng, học một sàng khôn".

+ Người vẽ sẽ bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh của chủ đề. Hình ảnh có thể thay thế
cho cả ngàn từ và giúp chúng ta sử dụng tốt hơn trí tưởng tượng của mình. Sau đó có thể bổ
sung từ ngữ vào hình vẽ chủ đề nếu chủ đề không rõ ràng.
+ Nên sử dụng màu sắc vì màu sắc có tác dụng kích thích não như hình ảnh.
+ Có thể dùng từ khóa, kí hiệu, câu danh ngôn, câu nói nào đó gợi ấn tượng sâu sắc
về chủ đề.
- Bước 2: Vẽ thêm các tiêu đề phụ vào chủ đề trung tâm
+ Tiêu đề phụ có thể viết bằng chữ in hoa nằm trên các nhánh to để làm nổi bật.
+ Tiêu đề phụ được gắn với trung tâm.
+ Tiêu đề phụ nên được vẽ chéo góc để nhiều nhánh phụ khác có thể được vẽ tỏa ra
một cách dễ dàng.
- Bước 3: Trong từng tiêu đề phụ vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ
Giáo viên: Trần Thị Minh Phúc – Trường THPT Quỳnh Lưu 2
11
Bài thu hoạch chuyên đề bồi dưỡng thường xuyên
+ Khi vẽ các ý chính và các chi tiết hỗ trợ chỉ nên tận dụng các từ khóa và hình ảnh.
+ Nên dùng những biểu tượng, cách viết tắt để tiết kiệm không gian vẽ và thời gian.
+ Mỗi từ khóa, hình ảnh nên được vẽ trên một đoạn gấp khúc riêng trên nhánh. Trên
mỗi khúc nên chỉ có tối đa một từ khóa.
+ Sau đó nối các nhánh chính cấp 1 đến hình ảnh trung tâm, nối các nhánh cấp 2 đến
các nhánh cấp 1, nối các nhánh cấp 3 đến các nhánh cấp 2…bằng đường kẻ. Các đường kẻ
càng ở gần trung tâm thì càng được tô đậm hơn.
+ Nên dùng các đường kẻ cong thay vì các đường kẻ thẳng vì đường kẻ cong được tổ
chức rõ ràng sẽ thu hút được sự chú ý của mắt nhiều hơn.
+ Tất cả các nhánh tỏa ra cùng một điểm nên có cùng một màu. Chúng ta thay đổi
màu sắc khi đi từ ý chính ra đến các ý phụ cụ thể hơn.
- Bước 4: Người viết có thể thêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan trọng thêm
nổi bật cũng như giúp lưu chúng vào trí nhớ tốt hơn.
c. Ví dụ minh họa
Sử dụng bản đồ tư duy trong một số giờ Văn học sử

Câu hỏi:
1. Hàng ngang thứ nhất: có 5 chữ cái: Tên một làn đệu dân ca tiêu biểu của xứ Nghệ? VÍ
DẶM
2. Hàng ngang thứ hai: có 10 chữ cái, Tên của một đoạn trích trong một truyện thơ nổi tiếng
được học ở chương trình ngữ văn10 LỜI TIỄN DẶN
3. Hàng ngang thứ ba có 3 chữ cái: sử thi Đăm Săn của dân tộc nào ở Tây Nguyên? Ê ĐÊ
4. Hàng ngang thứ tư có 9 chữ cái, Sauk hi Mị Châu chết xác của nàng biến thành gì?
NGỌC THẠCH
5. Hàng ngang thứ năm có 11 chữ cái: Khi chạy đến bờ biển, vua An Dương Vương đã kêu
cứu ai? SỨ THANH GIANG
6. Hàng ngang thứ sáu có 4 chữ cái: Một trong hai biểu tượng về tình nghĩa vợ chồng?
GỪNG
7. Hàng ngang thứ bảy có 5 chữ cái: Tên một bài thơ của Chế Lan Viên có sử dụng chất liệu
văn học dân gian CON CÒ
8. Hàng ngang thứ 8 có 9 chữ cái: tên một loại bánh ă vào này Tết của dân tộc ta BÁNH
CHƯNG
9. Hàng ngang thứ 9 chữ cái CÓ 9 : Quê hương của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng?
QUẢNG NGÃI
10. Hàng ngang thứ 10 có 12 chữ cái: tên một thể loại văn học dân gian kể về nhân vật lịch
sử và sự kiện lịch sử qua đó thể hiện thái độ của nhân dân ta ? TRUYỀN THUYẾT
11. Hàng ngang thứ 11 5 chữ cái: phần thưởng mà mụ gì ghẻ hứa sẽ cho Tấm và Cám nếu ai
bắt được nhiều tôm và tép hơn ? YẾM ĐỎ
HÀNG DỌC: VIÊN NGỌC QUÝ
Đây là đánh giá của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng về vai trò của văn học dân gian
Giáo viên: Trần Thị Minh Phúc – Trường THPT Quỳnh Lưu 2
14
Bài thu hoạch chuyên đề bồi dưỡng thường xuyên
1 V I D Ă M
2 L Ơ I T I Ê N D Ă N
3 Ê Đ Ê

D. TIẾN TRÌNH BÀI DẠY
1. Ổn định lớp
2. Bài cũ
? Ở chương trình THCS, em đã được học tác phẩm nào của Kim Lân ? Ấn tượng của em về
tác phẩm ấy ?
3. Bài mới
Giáo viên: Trần Thị Minh Phúc – Trường THPT Quỳnh Lưu 2
15
Bài thu hoạch chuyên đề bồi dưỡng thường xuyên
Hoạt động của GV và HS Nội dung cần đạt
Hoạt động 1: Hướng dẫn tìm
hiểu chung
? Trình bày những hiểu biết của em
về nhà văn Kim Lân?
? Em biết gì về xuất xứ tác phẩm
“Vợ nhặt”?
HS trả lời
GV cho HS xem một số hình ảnh
về nạn đói năm 1945
Hoạt động 2: Hướng dẫn đọc
hiểu văn bản
GV chiếu sơ đồ, yêu cầu học sinh
tóm tắt theo sơ đồ
I. Tiểu dẫn
1. Tác giả
- Tên khai sinh của nhà văn Kim Lân là Nguyễn
Văn Tài (1920 – 2007).
- Kim Lân là cây bút chuyên viết về truyện ngắn,
để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng độc giả. Đề tài
quen thuộc trong sáng tac của ông là cuộc sống

* Tóm tắt tác phẩm
Giáo viên: Trần Thị Minh Phúc – Trường THPT Quỳnh Lưu 2
16
Bài thu hoạch chuyên đề bồi dưỡng thường xuyên
? Em có nhận xét gì về nhan đề của
tác phẩm?
HS trả lời
GV nhận xét, chốt ý
GV cho HS thảo luận nhóm:
* Nhóm 1: Truyện “Vợ nhặt” xoay
quanh sự kiện nào? Sự kiện ấy tác
động ra sao đến tâm lí các nhân
vật?
*Nhóm 2: Vì sao việc Tràng lấy vợ
lại nhận được sự quan tâm đặc biệt
của người dân xóm ngụ cư?
1. Nhan đề và tình huống truyện
a. Nhan đề
- “ Vợ nhặt” là một cách kết hợp từ đặc biệt
+ Vợ : danh từ => Chỉ một điều thiêng liêng
+ Nhặt: động từ => Nhặt nhạnh, nhặt vu vơ, của rơi
của rụng ngoài đường
 Một kết hợp từ đặc biệt chỉ có trong nạn đói
năm 1945. Cái đói đã đẩy đến những cảnh bi hài
kịch: mạng người trở nên rẻ rúng, có thể “nhặt”
được như người ta nhặt bất cứ đồ vật gì. Phải đặt
vào truyền thống dân tộc coi “Người ta là hoa đất”,
coi việc dựng vợ gả chồng là đại sự thì mới thấy hết
câu chuyện nhặt vợ này bi đát làm sao.
 Nhan đề “Vợ nhặt” đã tạo ấn tượng , kích thích

Bài thu hoạch chuyên đề bồi dưỡng thường xuyên
* Nhóm 3: Em có nhận xét gì về
tình huống trong tác phẩm “Vợ
nhặt”?
*Nhóm 4: Ý nghĩa của tình huống
truyện trong tác phẩm “Vợ nhặt”
(nghệ thuật, nội dung)?
Các nhóm thảo luận trong thời gian
từ 5 -7 phút
GV nhận xét, chốt ý chính trên
bảng phụ
? Thông quan tình huống truyện
trong tác phẩm , em có suy nghĩ gì
về mối quan hệ giữa con người với
con người trong xã hội ngày nay?
đều ngạc nhiên, vui mừng xen lẫn lo âu.
 Đây là một tình huống éo le, bất ngờ, độc đáo,
vừa bi vừa hài
- Tràng là một anh chàng xấu xí, nghèo khổ, dân
ngụ cư, mang tiếng ế vợ lại nhặt được vợ dễ dàng,
lại có vợ theo không về nhà. Và cũng chính vì trong
hoàn cảnh đói khát, mọi việc đều có thể bỏ qua cho
nên Tràng mới lấy được vợ.
- Lấy vợ vốn là một sự kiện trọng đại của cuộc đời
“Trăm năm tính cuộc vuông tròn. Phải dò cho đến
ngọn nguồn lạch sông”, thế nhưng với Tràng, mọi
chuyện diễn ra vô cùng chóng vánh, đơn giản
tưởng như một trò đùa. Chỉ với mấy câu hò, bốn
bát bánh đúc, Tràng lấy được vợ. Chuyện xảy ra
nhanh đến mức chính bản thân Tràng cũng thấy

lẫn nhau và không bao giờ cạn kiệt niềm tin vào
tương lai, hi vọng. Niềm khao khát mang tính nhân
bản là trường tồn, là bất diệt, và chính nhờ nó mà
con người tồn tại mãi trên cõi đời này
Giáo viên: Trần Thị Minh Phúc – Trường THPT Quỳnh Lưu 2
18
Bài thu hoạch chuyên đề bồi dưỡng thường xuyên
Kim Lân: “Khi đói người ta không nghĩ đến con
đường chết mà chỉ nghĩ đến con đường sống. Dù ở
trong tình huống bi thảm đến đâu, dù kề bên cái
chết vẫn khát khao hạnh phúc, vẫn hướng về ánh
sáng, vẫn tin vào sự sống và vẫn hi vọng ở tương
lai, vẫn muốn sống, sống cho ra người”.
 Thể hiện tài năng và tấm lòng của Kim Lân.
4. Củng cố và hướng dẫn học bài
4.1. Nắm các kiến thức cơ bản
4.2. Hướng dẫn học bài
- Chuẩn bị bài mới: Vợ nhặt (Kim Lân)
+ Diễn biến tâm lí các nhân vật : Tràng, bà cụ Tứ, người vợ nhặt
+ Giá trị nhân đạo và hiện thực của tác phẩm
C. TỔNG KẾT
Trong giai đoạn hiện nay, đổi mới phương pháp dạy học là một yêu cầu tất yếu. Mục
tiêu cuối cùng của việc đổi mới chính là tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS, biến hoạt
động nhận thức của người học từ thụ động chuyển sang chủ động và linh hoạt. Chính vì thế,
việc áp dụng những phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực là vô cùng cần thiết trong quá
trình giảng dạy nhằm hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng giảng dạy
Giáo viên: Trần Thị Minh Phúc – Trường THPT Quỳnh Lưu 2
19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status