TÊN CHUYÊN ĐỀ:
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP Ở HỌC
SINH TRONG GIỜ HỌC HÓA 9
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hóa học là môn khoa hoc thực nghiệm đòi hỏi HS phải biết vận dụng kiến thức để giải các
bài tập,đồng thời biết vận dụng kiến thức vào thực tế để giải thích các hiện tượng, các quá
trình xảy ra trong tự nhiên xung quanh ta. Qua giảng dạy môn hóa học 9 tôi nhận thấy phần
lớn HS còn yếu kém môn hóa. Ở đây không phải là do các em không chịu học mà các em
thường nói môn hóa là môn khó hiểu và khó tiếp thu.
Thực tế môn hóa là môn khoa học, nhưng các em được tiếp cận muộn nhất so với các môn
ở THCS. Những khái niệm, những tính chất về chất các em còn mơ hồ do mới tiếp cận ở
lớp 8. Vì vậy lên lớp 9 các em tiếp thu bài rất chậm, thậm chí có em còn chán nản,ngại
học. Để giải tỏa được tâm lí trên, nhằm tăng hứng thú học tập của học sinh, giúp học sinh
chiếm lĩnh kiến thức một cách chủ động, sáng tạo nên tôi đã chọn đề tài: “ Một số phương
pháp tạo hứng thú học tập ở học sinh trong giờ học hóa 9”.
II. TH ỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI:
1. Thuận lợi.
- Trong đời sống ở địa bàn các em gặp rất nhiều hiện tượng liên quan đến hóa học, kích
thích sự tò mò tìm hiểu qua bộ môn hóa học hơn.
- Cơ sở, vật chất được trang bị đầy đủ: Có phòng chức năng và phòng thực hành
riêng,dụng cụ hóa chất tương đối đầy đủ.
- Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại sách tham khảo về bài tập hóa học, qua đó giúp
học sinh tự bồi dưỡng cho mình kĩ năng, kĩ xảo để giải bài tập hóa học.
- Chương trình sách giáo khoa 9 mới được tăng cường tiết thực hành thí nghiệm góp phần
tạo hứng thú học tập ở học sinh.
2. Khó khăn:
- HS trong 1 lớp sức học chưa đồng đều.
- Đội ngũ GV dạy bộ môn hóa của trường còn non trẻ nên số năm kinh nghiệm còn ít.
- Kiến thức hóa học là một loại kiến thức mới đối với học sinh trung học cơ sở, các em
chưa quen nên việc nắm bắt chưa đạt hiệu quả.
- Bài tập hóa học có nhiều dạng nên dễ làm học sinh lẫn lộn các dạng với nhau.
đổi mới phương pháp dạy học, phải làm thế nào để các em có được hứng thú với môn học.
Khi đã tạo được hứng thú học tập ở các em nghĩa là ta đã giúp các em say mê với môn học,
đó cũng là nền tảng giúp các em chiếm lĩnh cả một kho tàng kiến thức hóa học dễ dàng.
2. Nội dung và biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài.
Từ thực trạng cần thiết phải có sự đổi mới trong phương pháp dạy và học.Với kinh nghiệm
giảng dạy của bản thân, qua học tập, trao đổi với đồng nghiệp và qua quá trình nghiên cứu
tôi đã đưa ra một số phương pháp nhằm tạo hứng thú học tập cho HS như sau:
2.1. Tạo hứng thú học tập cho HS bằng cách đưa hiện tượng thực tế vào bài giảng:
Là GV trực tiếp giảng dạy bộ môn hóa, tôi nhận thấy rằng ở học sinh dù khả năng tư duy
của các em có cao tới bao nhiêu đi nữa thì vẫn rất ngại những bài học khô khan mang tính
lí thuyết mà trái lại các em tỏ ra hứng thú với những bài giảng có tính thực tế cao, mỗi khi
giáo viên đặt ra những hiện tượng thực tế trong đời sống hàng ngày xung quanh mình các
em tỏ ra tò mò, hiếu kì muốn tìm ngay lời giải đáp và tập trung vào bài học rất cao.
Việc đưa hiện tượng thực tế vào bài giảng thì tùy theo mỗi bài mà giáo viên có thể đưa vào
thời gian nào cho phù hợp:
+ Đưa vào đầu bài giảng: Tiết dạy có gây sự chú ý của học sinh hay không nhờ vào
người hướng dẫn là giáo viên rất nhiều, trong đó phần đầu đặc biệt quan trọng, nếu ta biết
đặt một tình huống thực tiễn hoặc một tình huống giả định yêu cầu học sinh cùng tìm hiểu,
giải thích qua bài học sẽ cuốn hút được sự chú ý của học sinh, kích thích năng lực khám
phá lôi kéo học sinh vào bài giảng.
+ Đưa vào trong từng phần của bài giảng : Tính chất vật lí, tính chất hoá học, ứng dụng
, điều chế ….Học sinh thấy hứng thú và dễ nhớ bài hơn nếu trong quá trình dạy và học giáo
viên luôn có định hướng liên hệ thực tế giữa các kiến thức sách giáo khoa với thực tiễn đời
sống hàng ngày. Rất nhiều kiến thức hoá học gắn liền với các hiện tượng tự nhiên xung
quanh ta.
+ Đưa vào sau khi kết thúc bài giảng: Khi học xong vấn đề gì học sinh thấy có ứng
dụng thực tiễn cho cuộc sống thì các em sẽ chú ý hơn, tìm tòi, chủ động tư duy để tìm
hiểu,dễ nhớ hơn,đồng thời nắm bài chắc hơn.
Muốn vậy GV phải chuẩn bị các bước sau:
- Bước 1: Tìm các hiện tượng thực tế tương ứng với mỗi bài trong chương trình Hoá học 9.
thành muối CaCO
3
làm mất đi tính chất vôi : ”
CaO + CO
2
→ CaCO
3
- Tại sao CaO được dùng để khử chua đất trồng trọt ?
“ Trong đất chua có chứa axit. Muốn khử chua đất trồng trọt cần bón CaO vào đất
để tác dụng với axit. ”
*Bước 3 : Đưa vào bài giảng:
Phần bài mới :
HOẠT ĐỘNG GV VÀ HS NỘI DUNG
HOẠT ĐỘNG I : TÌM HIỂU TÍNH
CHẤT HÓA HỌC CaO
Gv : ? Em hãy mô tả lại hiện tượng tôi
vôi diễn ra như thế nào ?
Hs: Trả lời.
Gv :Yêu cầu hs giải thích hiện tượng
Hs : Giải thích.
Gv : Nhận xét và bổ sung
Gv: Yêu cầu hs viết phương trình
Hs: Viết phương trình .
Gv: ? Hiện tượng gì xảy ra khi để lâu
CaO một thời gian mà không sử dụng?
Hs: Trả lời.
Gv :Yêu cầu hs giải thích hiện tượng
Hs : Giải thích.
Gv : Nhận xét và bổ sung
Gv: Yêu cầu hs viết phương trình
kiềm.
*Bước 3 : Đưa vào bài giảng:
Phần củng cố:
Gv : ? Khi bị axit rơi vào tay ta xử lí bằng cách nào.
Hs : Dựa vào tính chất hoá học của axit vừa học trong bài tìm đáp an tối ưu nhất.
Gv: Vậy nếu uống phải axit loãng ta có dùng những chất đó để trung hòa axit không ?
Hs: Trả lời
Gv: Nhận xét và bổ sung
Gv : Lưu ý an toàn khi sử dụng axit trong quá trình thí nghiệm và trong thực tế.
Ví dụ 3: BÀI 8: MỘT SỐ BAZƠ QUAN TRỌNG (t1)
* Bước 1: Tìm hiện tượng .
- Tại sao cầm một nắm xà phòng trong tay ướt chúng ta sẽ cảm thấy nóng
- Tại sao NaOH khi để trong không khí thì sẽ bị chảy rửa
* Bước 2 : Giải thích hiện tượng
- Tại sao cầm một nắm xà phòng trong tay ướt chúng ta sẽ cảm thấy nóng ?
“ Vì trong thành phần của xà phòng vẫn còn dư NaOH trong quá trình điều chế khi xà
phòng tan trong nước thì NaOH cũng tan ra đồng thời toả nhiệt làm cho tay chúng ta cảm
thấy nóng.”
- Tại sao NaOH khi để trong không khí thì sẽ bị chảy rửa ?
“ Vì NaOH hút nước trong không khí và sẽ hòa tan vào lượng nước đó nên nó sẽ chảy ra”
* Bước 3 : Đưa vào bài giảng:
Phần bài mới :
4
HOẠT ĐỘNG GV VÀ HS NỘI DUNG
HOẠT ĐỘNG I : TÌM HIỂU TÍNH
CHẤT VẬT LÍ CỦA NaOH
Gv: Tại sao cầm một nắm xà phòng
trong tay ướt chúng ta sẽ cảm thấy
nóng?
Gv: Giới thiệu trong xà phòng có lượng
2
+ CO
2
→ CaCO
3
+ H
2
O
Và phản ứng chỉ xảy ra trên bề mặt nên hình thành một lớp CaCO
3
trên bề mặt đó
chính là lớp ván mà ta quan sát được
* Bước 3 : Đưa vào bài giảng:
Phần bài mới :
HOẠT ĐỘNG GV VÀ HS NỘI DUNG
Gv: Tại sao trên bề mặt hố vôi tôi có
một lớp ván
Hs: giải thích
Gv: Nhận xét và bổ sung
Gv : Yêu cầu hs viết phương trình
2. Tính chất hóa học
c) Tác dụng với oxit axit :
Ca(OH)
2
+ CO
2
→ CaCO
3
+ H
2
0
t
→
NH
3
↑
+ CO
2
↑
+ H
2
O
↑
*Bước 3 : Đưa vào bài giảng:
Phần bài mới :
HOẠT ĐỘNG GV VÀ HS NỘI DUNG
HOẠT ĐỘNG I : TÌM HIỂU
TÍNH CHẤT HÓA HỌC CỦA
MUỐI
Gv: Tại sao bánh mì lại rất xốp
Gv: Gợi ý trong bột làm bánh sẽ
được trộn thêm một ít bột nở :
(NH
4
)
2
CO
↑
Ví dụ 6: BÀI 10: MỘT SỐ MUỐI QUAN TRỌNG
* Bước 1: Tìm hiện tượng .
- Tại sao muối ăn lại hay bị chảy nước?
- Vì sao nước mắt lại mặn?
- Tại sao khi bảo quản cá ta lại cho cá vào thùng đá có bỏ thêm tí muối ?
6
* Bước 2 : Giải thích hiện tượng
- Tại sao muối ăn lại hay bị chảy nước?
“ Muối ăn khi khai thác từ nước biển, mỏ muối, hồ muối thường có lẫn nhiều tạp chất như
MgCl
2
, CaCl
2
…Là những chất ưa nước nên làm cho muối dễ bị ướt .”
- Vì sao nước mắt lại mặn?
“Vì trong nước mắt có 6 g muối. Nước mắt được sinh ra từ tuyến lệ có tác dụng bôi trơn
nhãn cầu làm cho nhãn cầu không bị khô, bị xước và vì có muối nên có tác dụng hạn chế
bớt sự phát triển của vi khuẩn trong mắt. Và cũng vì vậy mà thuốc đau mắt có thành phần
muối NaCl.”
- Tại sao khi bảo quản cá ta lại cho cá vào thùng đá có bỏ thêm tí muối
“Vì muối có thể làm hạ thấp nhiệt độ của đá xuống – 8
0
C, - 10
0
C thậm chí – 18
0
C”
*Bước 3 : Đưa vào bài giảng:
Phần bài mới :
- Tại sao khi nông nghiệp phát triển thì các vi khuẩn, nấm, giun tròn sống trong đất,
nước giảm đi rất nhiều thậm trí nhiều nơi không còn nữa
7
* Bước 2 : Giải thích hiện tượng
- Tại sao khi trồng cây ta lại bón phân
“Cung cấp chất dinh dưỡng giúp cây phát triển tốt hơn”
- Tại sao khi nông nghiệp phát triển thì các vi khuẩn, nấm, giun tròn sống trong đất,
nước giảm đi rất nhiều thậm trí nhiều nơi không còn nữa
“Một số phân bón có thể tiêu diệt các loại sinh vật có hại này”.
*Bước 3 : Đưa vào bài giảng:
Phần mở bài :
Gv : ? Tại sao khi trồng cây ta lại bón phân
Hs : Cung cấp chất dinh dưỡng giúp cây phát triển tốt hơn
Gv : “Vậy những loại phân bón hoá học có vai trò và thành phần như thế
nào đối với cây trồng bài học ngày hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu và có câu trả lời ”.
Phần củng cố :Tại sao khi nông nghiệp phát triển thì các vi khuẩn, nấm, giun tròn sống
trong đất, nước giảm đi rất nhiều thậm trí nhiều nơi không còn nữa
Hs : Một số phân bón có thể tiêu diệt các loại sinh vật có hại này.
2.2. Tạo hứng thú học tập cho HS bằng cách ứng dụng công nghệ thông tin vào bài
dạy:
Ngày nay việc ứng dụng công nghệ thông tin vào bài dạy là rất phổ biến ở các bộ môn nói
chung và bộ môn hóa học nói riêng ở THCS, đồng thời cũng là phương pháp tạo nhiều
hứng thú học tập ở HS. Tuy nhiên việc sử dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy hóa như
thế nào cho đạt hiệu quả, theo tôi GV nên lựa chọn những nội dung, những bài dạy để đưa
vào công nghệ thông tin sao cho phù hợp mà không mang tính chất lạm dụng.Vì vậy tôi
thường ứng dụng CNTT để thực hiện các nội dung sau:
*Sử dụng công nghệ thông tin để trình chiếu những thí nghiệm ảo mà trên thực tế GV
và HS thí nghiệm khó thành công hay mang tính chất độc hại.
VD 1: Bài 16: Tính chất hóa học của kim loại.
Thí nghiệm sắt cháy trong khí clo
2
SO
4
+ → MgSO
4
+
d. + H
2
SO
4
đặc
→ CuSO
4
+ +
?Có những chất sau: Cu, Na
2
SO
3
, H
2
SO
4
a. Viết phương trình hóa học để điều chế SO
2
từ các chất trên.
b. Cần điều chế n mol SO
2
hãy chọn chất nào để tiết kiệm được H
2
đối với môn hóa thì việc tăng cường sử dụng thí nghiệm để khai thác kiến thức mới là rất
quan trọng.Tuy nhiên tùy theo mỗi thí nghiệm mà ta có thể sử dụng theo các hình thức sau:
*Thí nghiệm do HS trực tiếp tiến hành: Đây là hình thức thí nghiệm được ưu tiên hàng
đầu. Tuy nhiên số lượng HS trong một lớp khá đông, vì vậy GV nên cho HS tiến hành thí
nghiệm theo nhóm, mỗi lớp thường chia thành 4 nhóm. Dụng cụ hóa chất do GV chuẩn bị
trước cho HS, muốn kết quả thí nghiệm thành công GV phải thử trước. Công việc tiến
hành thí nghiệm cần thực hiện được các bước sau:
- HS hiểu và nắm vững thí nghiệm cần thực hiện.
- Chuẩn bị dụng cụ - hóa chất.
- Quan sát trạng thái,màu sắc của chất trước khi thí nghiệm.
- Tiến hành thí nghiệm và quan sát hiện tượng.
- Giải thích hiện tượng.
- Viết PTHH và rút ra kết luận.
11
VD1: Bài 3: Tính chất hóa học của axít :
Thí nghiệm: kim loại tác dụng với dung dịch axit:
- HS phải hiểu và nắm vững được thí nghiệm cần thực hiện là: Cho một ít kim loại Al( hay
Fe, Zn, Mg…) vào đáy ống nghiệm, thêm vào ống 1-2 ml dung dịch axit( HCl hay H
2
SO
4
loãng).
- Chuẩn bị dụng cụ hóa chất: Kẹp, ống nghiệm, 1 ít kim loại Al( hay Fe, Zn, Mg…), dung
dịch axit( HCl hay H
2
SO
4
loãng).
- Quan sát trạng thái,màu sắc của kim loại và dung dịch axit trước khi tiến hành thí
2
SO
4
đặc.
- Quan sát trạng thái,màu sắc của kim loại đồng và dung dịch H
2
SO
4
loãng, H
2
SO
4
đặctrước khi tiến hành thí nghiệm.
- Mỗi nhóm tự tiến hành thí nghiệm đồng thời quan sát hiện tượng khi cho H
2
SO
4
loãng và
H
2
SO
4
đặc lần lượt vào 2 ống nghiệm chứa một ít lá đồng. Đun nóng nhẹ ( Không có hiện
tượng gì xảy ra trong ống nghiệm thứ nhất. Trong ống nghiệm thứ 2 có khí không màu,
mùi hắc thoát ra. Đồng bị hòa tan một phần cho chất lỏng có màu xanh lam.
- HS giải thích hiện tượng: Đồng đã tham gia phản ứng với H
2
SO
4
thức mới(là người trực tiếp quan sát, giải thích hiện tượng, viết PTHH và rút ra kết luận).
12
VD1: Bài 4:Một số axit quan trọng.
Khi tìm hiểu thí nghiệm về tính háo nước của axit sunfuric đặc,thí nghiệm này tuy đơn
giản nhưng dễ gây nguy hiểm với HS.Vì vậy GV có thể biểu diễn, HS quan sát,nêu hiện
tượng,giải thích hiện tượng,viết PTHH và rút ra kết luận.Từ đó cũng giáo dục cho HS phải
hết sức cẩn thận khi sử dụng axit đặc.
VD2: Bài 27: Cacbon.
Thí nghiệm cacbon tác dụng với oxit kim loại.
Thí nghiệm này tuy không độc nhưng lại khó thành công và phức tạp. Vì vậy GV nên biểu
diễn thí nghiệm,HS quan sát,nêu hiện tượng,giải thích hiện tượng,Viết PTHH và rút ra kết
luận.
Qua thí nghiệm GV cần lưu ý cho HS: Cacbon chỉ tác dụng với một số oxit kim loại hoạt
động trung bình, không tác dụng với oxit kim loại hoạt động mạnh: Al
2
O
3
, MgO, Na
2
O…
2.4. Tạo hứng thú cho HS bằng cách đưa bản đồ tư duy vào bài dạy:
13
Qua nghiên cứu cho thấy nhiều HS chưa biết cách học, cách ghi kiến thức vào bộ não, mà
chỉ học thuộc lòng, học vẹt, thuộc một cách máy móc, thuộc nhưng không nhớ được kiến
thức trọng tâm, không nắm được nội dung nổi bật trong tài liệu đó, hoặc không biết liên
tưởng, liên kết các kiến thức có liên quan đến nhau.
Vậy BĐTD- giúp HS học tập một cách tích cực đồng thời tạo hứng thú học tập ở các
em.Một kết quả nghiên cứu cho thấy, bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm
cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình. Vì vậy việc sử
dụng BĐTD huy động tối đa tiềm năng của bộ não. Đây là phương pháp tập cho HS thói
2
SO
4
-
loãng
đặc
đặc
2.1 Muối
3.2 nước
4.1 Muối
4.2 nước
đặc
1.1 Muối
2.2 không
sinh hidro
3.1 Muối
3.1 Muối
Cu + 2H
2
SO
4(đ)
→
to
CuSO
4
+ 2H
2
O + SO
2
SO
4
+ H
2
ONhư vậy khi dạy xong phần tính chất hóa học ta có được BĐTD hoàn chỉnh về tính chất
hóa học của axit sunfuric loãng,đặc
* Sử dụng vào trong quá trình giảng bài mới.
VD: Bài 9: Tính chất hóa học của muối.
GV có thể sử dụng bản đồ tư duy hỗ trợ hình thành kiến thức mới, GVdùng cụm từ “Muối”
làm từ chìa khóa đặt ở trung tâm. Mỗi mục là một nhánh cấp 1, GV hướng dẫn HS lần
lượt vẽ các nhánh của BĐTD theo tiến trình hình thành kiến thức mới, kết hợp với các
phương pháp: Thực hành thí nghiệm, trực quan, thảo luận nhóm, vấn đáp… Từ đó giúp HS
hình thành kiến thức bài học một cách chủ động, sáng tạo.
15
H
2
SO
4
1.t/d quì tím
3.T/d bazơ
2.T/d
kim loại
4.T/d
oxitbazơ
Đỏ
-
2.2 hidro
HS, cho HS tự nhận xét lẫn nhau về hình thức, nội dung thể hiện trên BĐTD và cuối cùng
GV đưa ra nhận xét bản đồ tư duy của HS có thể hiện được nội dung trọng tâm của bài học
hay không,bổ sung những gì còn thiếu và chưa hoàn chỉnh của HS.
16
5. Phân hủy
3. Muối
1.T/d kim loại
2. T/d axit
Muối
1.1 Kim loại
1.2 Muối
2.1 Muối mới
3.1 Muối mới
3.2 Muối mới
-
-
2.2 Axit mới
-
4.T/d với
ba zơ
-
4.1 Muối mới
4.2 Bazơ mới
-
1.t/d
chất
chỉ thị
-
2.Phân
Lớp Số
HS
Gỏi Khá Tb Yếu- kém
SL % SL % Sl % SL %
9
1
32 7 21.9 9 28.2 13 40.6 3 9.3
9
2
33 8 24.2 9 27.3 12 36.4 4 12.1
9
3
33 9 27.3 11 33.3 11 33.3 2 6.1
9
4
30 7 23.3 9 30.1 10 33.3 4 13.3
Tổng 128 31 24.2 38 29.7 46 35.9 13 10.2
Nhìn vào số liệu giỏi, khá, trung bình, yếu- kém của các lớp qua các lần khảo sát, khi
chưa áp dụng và đã áp dụng đề tài ta thấy: Số học sinh khá, giỏi tăng, số học sinh yếu –
kém giảm, đặc biệt nhiều học sinh yếu đã vươn lên và yêu thích bộ môn, chứng tỏ phương
pháp đã có hiệu quả rõ rệt.
V. BÀI HỌC KINH NGHIỆM:
- Tăng cường thu hút HS bằng cách sử dụng các phương pháp nêu trên sao cho phù hợp
với từng bài dạy và từng đối tượng HS.
- Luôn hiểu rõ tâm lí HS và đưa ra những phương pháp giảng dạy cho phù hợp để thu hút
HS, sẽ giúp các em nắm kiến thức vững hơn, sâu hơn, học sinh sẽ nhớ kiến thức lâu hơn
qua đó tạo hứng thú học tập và niềm tin cho học sinh.
- GV không ngừng bồi dưỡng kiến thức chuyên môn- nghiệp vụ thông qua các lớp tập
huấn, dự giờ đồng nghiệp để rút ra được những phương pháp tối ưu nhất.
VI. KẾT LUẬN:
*Lĩnh vực: Hóa
*Quản lý giáo dục: . Phương pháp dạy học bộ môn: Hóa
*Phương pháp giáo dục: Lĩnh vực khác:
1. Tính mới:
- Có giải pháp hoàn toàn mới:
- Có giải pháp cải tiến, đổi mới từ giải pháp đã có
2. Hiệu quả:
Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao:
-Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng
trong toàn ngành có hiệu quả cao:
Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả cao:
-Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng
tại đơn vị có hiệu quả cao:
3. Khả năng áp dụng:
-Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách:
Tốt: Khá: Đạt:
-Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực hiện
và đi vào cuộc sống:
Tốt: Khá: Đạt:
-Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu
quả trong phạm vi rộng :
Tốt: Khá: Đạt:
XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MÔN THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
(Ký , ghi rõ họ tên) (Ký,ghi rõ họ tên và đóng dấu)
Vũ Thị Thương
19
PHÒNG GD&ĐTVĨNH CỬU CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TRƯỜNG THCS VĨNH TÂN Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc
TỔ : LÝ – HÓA - SINH
PHIẾU ĐÁNH GIÁ CHUYÊN ĐỀ/ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
-Loại Yếu (Loại D): Có tổng điểm từ 4,5.
20
21
22