MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG TRẺ TRONG TRƯỜNG MẦM NON
PHÂN THỨ NHÂT: PHÂN MỞ ĐÂU
1. Lý do chọn đề tài:
Giáo dục mầm non là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân
nó giữ một vai trò vô cùng quan trọng. Đặc biệt trong sự nghiệp xây dựng và đào
tạo thế hệ trẻ, giáo dục mầm non là giai đoạn khởi đầu đặt nền móng cho sự hình
thành và phát triển nhân cách trẻ em.
Như Bác Hồ đã nỏi: “Vì lợi ích mười năm trồng cây
Vì lợi ích trăm năm trồng người”
Muốn cho con người phát triển toàn diện thì điều đầu tiên phải nói đến sức
khoẻ, sức khoẻ là vốn quí nhất của con người mới tham gia vào các hoạt động
như học tập, lao động, giao tiếp.
Để đáp ứng được nhu cầu phát triển giáo dục trong giai đoạn hiện nay
nhiều công trình đã chứng minh rằng “Chăm sóc nuôi dưỡng” là một nhu cầu
cần thiết đối với con người, nhất là đối với trẻ. Sự thành công trong học tập và
công việc của các em sau này phụ thuộc vào sự chăm sóc nuôi dưỡng trẻ ở
trường mầm non và gia đình cũng như xã hội.
Ông cha ta thường nói “Có thực mới vực được đạo” con người ta nếu
được chăm sóc nuôi dưỡng, dạy dỗ trẻ đầy đủ, hợp lý ngày từ khi trẻ mới cất
tiếng khóc chào đời thì bao giờ trẻ cũng nhanh nhẹn, hoạt bát, thân thể khoẻ
mạnh, cường tráng, học tập thông minh, lao động hăng say tích cực, dễ dàng hoà
mình vào cộng động và thiết lập mối quan hệ với mọi người xung quanh. Ngược
lại nếu vì một cháu chăm sóc chế độ ăn uống mà không tốt thì ảnh hưởng rất lớn
đến sức khoẻ và trí tuệ của trẻ, trẻ phát triển một cách hạn chế.
Như chúng ta đã biết theo xu hướng phát triển của thời đại cả nước đang
xây dựng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đặc biết là nền khoa học công
nghệ, khoa học thông tin đang nhảy vọt thúc đẩy nên kinh tế trí thức để đáp ứng
với nhu cầp và xu thế phát triển của đất nước. Trong những năm gần đây Đảng
và Nhà nước rất quan tâm đến giáo dục và đào tạo. Nghị quyết Trung ương II
khoá VIII của Đảng đã khẳng định “Giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho
Giúp cho đội ngũ cán bộ giáo viên nâng cao kiến thức dinh dưỡng và công
tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tại trường mầm non đạt kết quả cao hơn.
PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1. Thực trạng
1.1. Cơ sở lý luận:
Việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục thế hệ trẻ là trách nhiệm của mọi
người, mọi nhà và toàn xã hội, mọi trẻ em đều có quyền được chăm sóc nuôi
dưỡng và được học tập một cách bình đẳng không phụ thuộc hoàn cảnh riêng về
gia đình, dân tộc, địa phương. Đó không những là mục tiêu của cách mạng mà
còn là ước mơ tha thiết của những người làm cha làm mẹ, vì trẻ em là niềm hạnh
phúc của mọi gia đình, là tương lai của mọi dân tộc.
Bác Hồ đã nói: “Trẻ em như búp trên cành
Biết ăn, ngủ, biết học hành là ngoan”
Song để cho trẻ ăn, ngủ, học hành như thế nào cho khoa học là cả một quá
trình chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục cả gia đình, nhà trường và của toàn xã
hội mà chiếc nôi đầu tiên của trẻ là gia đình, môi trường đầu tiên trẻ tiếp xúc là
trường mầm non. Vì vậy người giáo viên mầm non vừa là người mẹ thứ hai của
trẻ vừa là người nuôi trẻ, chăm sóc trẻ.
2
Việc chăm sóc giáo dục trẻ là một vấn đề rất quan trọng trong xã hội
chúng ta. Sức khoẻ của trẻ có tác dụng rất lớn trong việc phát triển trí tuệ. phát
triển đầy đủ về các mặt giúp trẻ thông minh, nhanh nhẹn trong hoạt động hàng
ngày.
Cơ thể con người có thể tồn tại hoạt động và phát triển được là nhờ ta đưa
vào cơ thể các chất dinh dưỡng vì thế mà cơ thể trẻ đòi hỏi được cung cấp hàng
ngày đầy đủ năng lượng và các chất cần thiết ở mỗi thời kỳ khác nhau, trẻ có
những đặc điểm tâm sinh lý khác nhau nên đòi hỏi nhu cầu dinh dưỡng khác
nhau.
Trước kia có người từng quan niệm “trời sinh voi trời sinh cỏ” theo quan
niệm này thì việc đứa trẻ sinh ra và lớn lên theo một cách tự nhiên theo năm
diện.
Nếu cho trẻ ăn thiếu chất hoặc thừa chất đều là những mầm mống gây
bệnh tật cho trẻ. Nếu thiếu chất trẻ sẽ bị suy dinh dưỡng, có thể còi xương, dễ
mắc bệnh nhiễm khuẩn. Nếu trẻ ăn thừa chất trẻ sẽ bị béo phí và mắc một số
bệnh về tim mạch rất nguy hiểm cho trẻ. Vì vậy nuôi dưỡng trẻ theo khoa học là
việc làm hết sức cần thiết chiếm một vị trí vô cùng quan trọng đứng vị trí hàng
đầu trong trường mầm non. Đo đó người phụ trách chỉ đạo chăm sóc nuôi dưỡng
trẻ tại trường mầm non cần phải nắm vững các đặc điểm tâm sinh lý và nhu cầu
dinh dưỡng cần thiết của trẻ trong một ngày để có biện pháp chỉ đạo thực hiện
tốt nhiệm vụ chăm sóc nuôi dưỡng nhằm giúp trẻ khoẻ mạnh nhanh nhẹn, cơ thể
phát triển hài hoà, cân đối góp phần giáo dục trẻ thành con người phát triển toàn
diện có ích cho xã hội.
1.2. Thực trạng:
• Vài nét về địa phương:
Xã Quảng Tâm nằm phía đông bắc huyện Quảng Xương là một xã đất
chật người đông, địa phương có nhiều cơ quan, trường học đóng trên địa bàn nên
có nhiều điều kiện để phát triển kinh tế, các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các đoàn
thể luôn quan tâm đến công tác xã hội hoá giáo dục, tạo điều kiện tốt cho giáo
dục xã nhà phát triển.
• Tình hình nhà trường:
Trường Mầm non Quảng Tâm có bề dầy trong việc chăm sóc giáo dục trẻ,
ban giám hiệu và đội ngũ giáo viên luôn tiếp cận với chương trình giáo dục mầm
non mới, không ngừng phần đấu để từng bước nâng cao chất lượng chăm sóc
giáo dục trẻ, đã gây được uy tín và niềm tin đối với các cấp lãnh đạo địa phương,
các bậc cha mẹ và cộng đồng, chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ được tăng lên rõ
rệt hầu hết trẻ đến trường đã có được nề nếp thói quen trong giờ ăn, giờ ngủ, giờ
học, giờ chơi. Chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ được nhà trường quan tâm và
thường xuyên cải tạo các món ăn đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho trẻ tại trường.
Nhà trường luôn luôn đạt trường tiên tiến cấp huyện, cấp tỉnh. Đặc biệt
năm học 2008 – 2009 trưởng được Bộ Giáo dục & Đào tạo tặng bằng khen.
Kêt quả khảo sát :
Năm học
Nội dung
Năm học
2008- 2009
Năm học
2009- 2010
1. Chất lượng chăm sóc
Tổng số trẻ đến trường 386 400
Tổng số trẻ ăn bán trú 232 = 60,1% 315 = 78,8%
Bé chăm 350 = 90,7% 365 = 91,3%
Bé ngoan 345 = 89,4% 362 = 90,5%
Bé sạch 365 = 94,6% 380 = 95%
2. chất lượng nuôi dưỡng
Trẻ ăn ngon miệng, ăn hết suất 195/232 = 845% 280/315 = 88,8%
Trẻ ăn chưa ngon miệng, chưa hết suất 37/232 – 16% 35/315 = 11,2%
Trẻ biết rửa tay trước khi ăn, sau khi đi
vệ sinh bằng xà phòng .
305/386 = 79% 334/400= 83,5%
Trẻ có nề nếp thói quen trong giờ ăn,ngủ. 298/386 = 77,2% 317/400= 79,3%
Trẻ phát triển bình thường 320/386= 82,9% 360/400= 90%
Trẻ suy dinh dưỡng 65/386= 17,1% 40/400= 10%
Trẻ thấp còi 68/386= 17,9% 45/400= 11,3%
5
Từ thực trạng chẩt lượng đội ngũ giáo viên, nhân viên cũng như chất
lượng chăm sóc nuôi dưỡng tôi đã không ngừng học hỏi, nghiên cứu tài liệu, học
hỏi đồng nghiệp, nghiên cứu đặc điểm tâm sinh lý của trẻ để nâng cao chất lương
chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tại trường giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng xuống thấp
nhất.
2. Những giải pháp thực hiện
Đối với giáo viên đứng lớp hình thành nề nếp thói trong ăn uống như ăn
chậm, nhai kỹ, ăn hết xuất đảm bảo vệ sinh an toàn, cách phòng và xử lý một số
bệnh thường gặp ở trẻ. Hình thành nề nếp thói quen vệ sinh trước và vệ sinh
trong giờ ăn, giờ ngủ, giờ học, giờ chơi cho trẻ.
6
Tổ chức xây dựng lớp điểm hình thành nề nếp thói quen cho trẻ trong ăn,
ngủ, vệ sinh trước và sau khi ăn, giờ học, giờ chơi, rửa tay bằng xà phòng cho
các lớp học tập và nhân ra đại trà. Ban giám hiệu thường xuyên kiểm tra và xếp
loại thi đua hàng tháng.
2.2. Lấy chất lượng để huy động số lượng
Trẻ đến trường không phải chỉ cần học tập, vui chơi mà chính là phải
được chăm sóc nuôi dưỡng theo phương pháp khoa học, nghĩa là phải được tổ
chức tốt mọi hoạt đồng trong ngày từ giờ học, giờ chơi, giờ ăn, giờ ngủ, vệ sinh.
Cung cấp chất dinh dưỡng thông qua các bữa ăn hàng ngày của trẻ một
cách khoa học là việc làm cần thiết của các trường mầm non và các bậc phụ
huynh, các món ăn hàng ngày của trẻ phải đảm bảo vệ sinh, hợp khẩu vị, đầy đủ
các thàng phần dinh dưỡng. Vì vậy các trường mầm non phải tổ chức thật tốt các
bữa ăn cho trẻ đảm bảo đẩy đủ khẩu phần ăn trong ngày, chất lượng bữa ăn đảm
bảo năng lượng, tỉ lệ cân đối giữa các chất sinh năng lượng, thực phẩm và chế độ
ăn phù hợp với từng lứa tuổi.
Lượng dinh dưỡng trong ngày phải đảm bảo đối với trẻ nhà trẻ từ 12 - 36
tháng tuổi là 1.180 kcal/ngày ở trường mầm non cần đạt 708-826 kcal/ngày
(60% - 70% nhu cầu cả ngày) năng lượng cả ngày.
Đối với trẻ mẫu giáo từ 36-72 tháng tuổi là 1.470 kcal/ngày ở trường cần
đạt 735-882 kcal/ngày (50% -60% nhu cầu cả ngày)
Có đủ chất dinh dưỡng:
• Nhà trẻ tỷ lệ các chất cung cấp năng lượng:
- Protit cung cấp khoảng 12-15% năng lượng khẩu phần
- Lipít cung cấp khoảng 35-40% năng lượng khẩu phần
- Gluxit cung cấp khoảng 45-53 năng lượng khẩu phần
Thứ Bữa sáng chính Phụ xế Bữa chiều
2 Cá thu sốt cà chua
Canh thịt nạc, đậu phụ, cà chua
Sữa Hà Lan Cháo gà
3 Thịt, tôm rim cà chua
Canh tôm rau mùng tơi, hẹ là
Sữa đậu nành Phở bò
4 Thịt đúc trứng
Canh cua rau vặt
Chuối chín Cháo lươn
5 Thịt bò xào rau hỗn hợp
Muối lạc vừng,
Canh tôm rau mùng tơi
Sữa Hà Lan Cháo vịt
6 Chả thịt sốt cà chua
Canh tôm rau mùng tơi
sữa đậu nành Cháo thập cẩm
• Chất lượng bữa ăn:
Việc xây dựng thực đơn khẩu phần ăn cân đối, hợp lý rất quan trọng, nhà
trường áp dụng khoa học dinh dưỡng trong cơ cấu khẩu phần ăn các lứa tuổi nhà
trẻ, mẫu giáo, căn cứ vào bảng thực đơn để đi chợ “đặt hàng”, rồi chọn thực
phẩm theo mùa, phối hợp nhiều loại thực phẩm sẵn có của địa phương bổ sung
dầu, mỡ, đường, muối iốt để đủ chất cân đối hợp lý và phù hợp với tiền cha mẹ
trẻ đóng góp.
Việc xây dựng thực đơn khẩu phần ăn cân đối hợp lý giúp cho việc nuôi
trẻ phát triển tốt làm cho công tác phòng chống suy dinh dưỡng và béo phì giảm
tỷ lệ thấp nhất. Hàng ngày các thức ăn được lưu mẫu theo qui định, ngoài ra nhà
trường còn kiểm tra thực phẩm khi mua về ghi vào sổ cập nhật tay ba có chữ ký
của ban giám hiệu, cô tiếp phẩm và cô chế biến món ăn, nhà trường còn lưu cả
thực phẩm sống để có thể xác định được nguyên nhân gây ngộ độc (nếu có).
Tôm tươi ngon: Tôm tươi vỏ có độ bóng sáng trong xanh, trơn láng, cứng
và dài.
Chọn trứng tươi ngon: Vỏ có một lớp màng mỏng, nổi lên những hạt
giống như bụi phấn (vỏ không bóng, cầm trứng soi vào đèn hoặc ánh sáng mặt
trời thấy lòng trắng, lòng đỏ không phân biệt được rõ ràng. Nếu thả xuống chậu
nước trứng tươi sẽ chìm, nằm ngang dưới đáy chậu.
Rau, quả tươi ngon sạch sẽ: Rau quả tươi ngon, sáng màu, không dập nát,
không úa vàng, không có sâu, nên chọn rau có màu xanh non hoặc xanh thẩm, củ
quả có màu vàng, đỏ để chế biến cho trẻ ăn.
Ngoài những qui định hợp đồng mua bán thực phẩm của nhà trường, cô
tiếp phẩm phải nắm thực hơn hàng ngày, chuẩn bị lựa chọn thực phẩm kiểm tra
9
giá chợ trước ngày đi chợ 2 ngày để đảm bảo chất lượng và đủ số lượng trẻ ăn
hoặc kịp thời thay thế thực phẩm không có trong thực đơn.
Cân, đo, đong, đếm tính giá cả theo số lượng nhận thực tế
Thực phẩm không đủ dinh dưỡng, kém chất lượng không nhận.
Giá cả thay đổi không đúng dự trù của thực đơn phải kịp thời báo cáo cho
phó hiệu trưởng phụ trách công tác nuôi dưỡng để điều chỉnh ngay.
Cô tiếp phẩm mua thực phẩm về phó hiệu trưởng phụ trách công tác nuôi
dưỡng phải kiểm tra, quyết toán ngay, thường xuyên theo dõi giá chợ, theo dõi
việc mua thực phẩm có đúng hợp đồng không, kiểm tra ghi vào sổ cập nhật tay
ba ban giám hiệu, cô tiếp phẩm, người chế biến thực phẩm, kiểm tra công tác
tiếp phẩm đảm bảo lịch sinh hoạt góp ý hàng tuần trong sổ nuôi, không để hiện
tượng tiêu cực trong công tác tiếp phẩm. Để đảm bảo sự uy tín của nhà trường
đối với mối hàng, phụ huynh học sinh và các cấp lãnh đạo.
Tóm lại: Lựa chọn thực phẩm cho trẻ phải sạch, tươi, ngon đảm bảo an
toàn vệ sinh thực phẩm, đảm bảo lượng dinh dưỡng.
• Yêu cầu đối với khâu chế biến thực phẩm:
Dụng cụ chế biến thực phẩm đảm bảo an toàn, có ký hiệu, dùng riêng cho
thực phẩm sống và thực phẩm chín (dao, thớt, rổ, rá, nồi, xoong ) các loại thực
biến đúng cách thì chỉ mất khoảng 59% vitamin C, 30% vitaminB1, 20% vitamin
B2, Nếu chế biến và nấu không đúng cách có thể mất hoàn toàn vitamin C.
Cách chế biến thịt, cá:
Thịt, cá rửa sạch, bỏ xương, xay nhỏ, ướp mắm, muối sau đó phi hành mỡ
thơm cho thịt, cá vào đảo đều vừa chín mềm, có mùi thơm ngọt cho trẻ ăn ngay.
Cô cấp dưỡng phải được tập huấn các lớp chế biến các món ăn cho trẻ,
nắm vững cách chế biến các món ăn của trẻ và thực hiện đúng 10 nguyên tắc
vàng để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
Ví dụ chế biến bữa phụ : Cháo thập cẩm:
Nguyên liệu cho 10 suất ăn
Gạo nếp, gạo tẻ: 500g, tôm: 100g, cua: 200g
Thịt lợn nạc vai: 100g, hành, mùi: 50g, cà rốt: 100g
Khoai tây: 200g, dầu thực vật: 100g
Mắm, muối; vừa đủ, nước sạch: 400ml
Cách làm:
Rau nhặt, rửa sạch, thái nhỏ,
Gạo vo, đãi sạn, thóc, để ráo nước
Tôm lột vỏ, bỏ đầu, bỏ chỉ đen trên lưng, thái nhỏ, ướp mắm, muối, hành
khô.
Phi thơm hành, dầu, cho tôm vào xào chín, nêm vừa mắm, nuối
Nước đong vừa đủ 1/3 để nấu chín, 2/3 để lọc cua
Cua ngâm nước, rửa sạch đất, bỏ mai, yếm miệng, để ráo nước, khều gạch
của ra bát, cho cua vào xay nhỏ, cho một ít muối, đổ nước lạnh vào bốp, lọc lấy
nước.
Đun sôi nước cua, thả hành khô đã nướng, đập dập vào, khi cái cua nổi,
đông chắc vớt cái cua ra bát, dầm nhỏ.
Phi thơm hành dầu, chưng gạch cua.
Thịt rửa sạch thái nhỏ, xay nhỏ, ướp mắm muối chừng 15 phát, sau đó phi
thơm hành dầu, cho thịt vào xào chín.
Cà rốt tươi, ngon, khoai tây gọt vỏ, rửa sạch, thái hạt lựu, bỏ vào nồi đun
chuyện riêng, ăn chậm, nhai kỹ, không xúc cơm của mình đổ cho bạn, không làm
vãi cơm ra bàn ăn, biết sử dụng một số đồ dùng ăn uống, biết cách ăn sạch, ăn
đủ, đảm bảo vệ sinh, sau khi ăn lau miệng (đánh răng đối với trẻ mẫu giáo).
Sau khi trẻ ăn xong cho trẻ uống nước, tập cho trẻ uống từ từ từng ngụm
một, mùa đông cho trẻ uống nước ủ nóng.
Tổ chức cho trẻ ăn đúng giờ qui định tạo hứng thú cho trẻ trong khi ăn,
động viên trẻ ăn ngon miệng, ăn hết xuất.
• Chỉ đạo giáo viên tổ chức bữa ăn tại lớp:
Phân công sắp xếp công việc giữa các giáo viên một cách hợp lý, cần tạo
cho trẻ ăn, uống hợp vệ sinh, chuẩn bị trước bữa ăn quét dọn phòng ăn sạch sẽ,
bàn ghế sắp xếp gọn gàng, ngăn nắp, lau sạch bàn chia thức ăn, bát, thìa, đĩa
tráng nước sôi để dùng cho bữa ăn, đồ dùng ăn uống sạch sẽ, khô ráo, bầy xếp
đẹp mắt, sẽ gây được phản xạ kích thích trẻ thèm ăn, hứng thú ăn ngon miệng,
ăn hết xuất, sắp xếp chỗ ngồi ăn của trẻ phải thoải mái, tránh ngồi quá chật trẻ bị
gò bó, ăn mất ngon hoặc gây vướng sẽ bị đổ cơm, bố trí cho trẻ có chỗ ra vào, cô
chia ăn phải rửa tay bằng xà phòng, đeo khẩu trang, đi găng tay, mặc tạp dề chia
12
thức ăn, chia cơm chia xong cho trẻ ăn ngay, trẻ rửa tay bằng xà phòng mới vào
bàn ăn.
Chăm sóc trẻ trong bữa ăn: Cho trẻ ăn phải thực hiện đúng gìơ, đúng qui
định vệ sinh, cô rửa tay bằng xã phòng trước khi chia thức ăn và cho trẻ ăn, khi
trẻ ăn cô đến gần trẻ nhẹ nhàng, ân cần, khéo léo giới thiệu món ăn là biện pháp
tâm lý gây cảm giác thèm ăn, giúp trẻ ăn ngon miệng, ăn hết suất.
Cô giáo cần theo dõi sự ăn uống của trẻ biết được món ăn nào hợp khẩu
vị và đặc điểm riêng của từng trẻ, phải chú ý tìm hiểu nguyên nhân những trẻ bỏ
ăn vì không hợp khẩu vị hay trẻ bị ốm báo với ban giám hiệu nhà trường để có
biện pháp giải quyết đúng.
Đối với trẻ mẫu giáo trẻ ăn xong đem bát thìa bỏ vào xô, sau đó dọn ghế
của mình xếp vào nơi qui định, cô nhắc trẻ rửa tay, lau miệng, uống nước.
Vệ sinh sau khi ăn: Trẻ ăn xong cô thu dọn bàn ghế ngay, lau bàn bằng
hình thành thói quen thao thức, nếu ngủ muộn quá trẻ không còn muốn ngủ nữa,
cần cho trẻ ngủ đúng giờ qui định sẽ không ảnh hưởng đến chương trình hoạt
động buổi chiều.
Làm tốt công tác vệ sinh trước khi cho trẻ ngủ. Phòng ngủ phải thoáng,
sạch sẽ, mát về mùa hè, ấm về mua đông, phải đảm bảo đủ không khí,
Chăm sóc giấc ngủ cho trẻ rất quan trọng. Cô chuẩn bị tâm lý trước cho
trẻ, tạo chỗ nằm cho trẻ thoải mái để trẻ dễ ngủ, quần áo hợp vệ sinh.
Những trẻ khó ngủ cô cần phải quan tâm gần gũi dỗ dành, kể chuyện cho
trẻ nghe hoặc hát ru cho trẻ ngủ. Trong khi trẻ ngủ cô theo dõi, quan sát trẻ
thường xuyên sửa tư thế nằm ngủ cho trẻ, cô không làm việc riêng, không nằm
ngủ cùng trẻ, cô theo dõi để uốn nắn trẻ ngủ thoải mái.
Cô giáo quan tâm đặc biệt đến những trẻ đái dầm, cần nhắc trẻ đi tiểu tiện
trước khi đi ngủ và thuyết phục làm cho trẻ tin rằng mình sẽ tỉnh dậy khi có nhu
cầu đi tiểu. mặt khác phải tìm hiểu cuộc sống của trẻ để biết được nguyên nhân
gây ra hiện tượng đó rồi cùng với cha mẹ và bác sỹ đề ra những biện pháp giúp
đỡ trẻ.
Cô giáo cần tập cho trẻ những thói quen tốt khi ngủ, ngủ ngon là tôn trọng
giấc ngủ của bạn, cần đề ra những qui định cần thiết và kiên trì yêu cầu trẻ thực
hiện để trở thành thói quen tốt.
Trẻ ăn xong tự giác đi rửa tay, lau miệng uống nước và sẵn sàng chuẩn bị
đi ngủ, cô giáo cần nhẹ nhàng bảo trẻ lên gường đi ngủ, cho trẻ nằm đúng chỗ,
để giầy dép đúng nơi qui định, nằm yên nhắm mắt ngủ, không nói chuyên riêng,
không làm ồn ào ảnh hưởng đến các bạn, khi hết giờ ngủ cô đánh thức trẻ nhẹ
nhàng, đối với trẻ mẫu giáo tập cho trẻ có thói quen gấp chăn, chiếu, mặc lại
quần áo, ra rửa mặt súc miệng sau khi ngủ dậy.
2.6. Tổ chức khám sức khoẻ và vệ sinh phòng bệnh:
Bảo vệ sức khoẻ luôn đặt lên vị trí hàng đầu trong hệ thống các nhiệm vụ
chăm sóc giáo dục trẻ ở trường mầm non. Sức khoẻ ảnh hưởng mạnh mẽ đến
điều kiện sống, đặc biệt ở trường mầm non là nơi tập trung đông trẻ nên công tác
vệ sinh phòng bệnh cần được quan tâm đúng mức, việc thực hiện chế độ vệ sinh
đi về mệt nhọc, vất vả, đảm bảo an toàn trên đường đi, tạo điều kiện cho trẻ học
tập, vui chơi, tham gia vào các hoạt động được tốt hơn.
Tuyên truyền phổ biến kiến thức cho các bậc phụ huynh đóng vai trò quan
trọng trong việc huy động trẻ ăn bán trú và nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo
dục trẻ ở trường mầm non cũng như trong cộng đồng, tôi đã thực hiện nhiều hình
thức đa dạng, phong phú như: Họp phụ huynh, bảng thực đơn, trên thông tin đại
chúng mỗi tháng 2 lần vào tối chủ nhật tuần 2 và tuân 4 hàng tháng về tầm quan
trọng và sự cần thiêt của việc tổ chức cho trẻ ăn ngủ tại trường mầm non. Để các
bậc phụ huynh nắm bắt được kiến thức cơ bản về dinh dưỡng và sức khoẻ của trẻ
như phổ biến kiến thức nuôi con theo khoa học, nuôi con khoẻ dạy con ngoan,
cách lựa chọn thực phẩm và kỹ thuật chế biến món ăn cho trẻ.
Ví dụ: Bữa ăn hợp lý thì phải ăn đúng giờ, ăn đủ các chất, hợp vệ sinh, cân
đối 5o% đạm động vật, 50% đạm thực vật, đảm bảo 4 nhóm thực phẩm như chất
đạm, chất béo, chất bột đường, vitamin và muối khoáng, định lượng calo cần cho
cơ thể trẻ trong ngày trẻ từ 1 -36 tháng tuổi năng lượng cả ngày là 1.180
kcal/trẻ/ngày nhu cầu năng lượng tại trường mầm non là 708-826 kcal/trẻ/ngày,
trẻ từ 36-72 tháng tuổi năng lượng cả ngay là 1.470 kcal/trẻ/ngày, nhu cầu năng
lượng tại trường mầm non là 735-882 kcal/trẻ/ngày.
15
Hướng dẫn giáo viên thông tin bảng tuyên truyền tại lớp, thông qua giờ
đón trẻ, trả trẻ trao đổi với phụ huynh về tinh hình sức khoẻ, chế độ ăn uống,
chăm sóc để thống nhất phương pháp chăm sóc giáo dục, đề phòng một số bệnh
theo mùa, bệnh thông thường, trao đổi kinh nghiệm chăm sóc sức khoẻ trẻ và
hinh thành nề nếp thói quen cho trẻ trong ăn, ngủ, nề nếp sinh hoạt, chế độ luyện
tập.
Mời phụ huynh đến trường xem tổ nuôi dưỡng chế biến các món ăn, tổ
chức bữa ăn cho trẻ, phân tích cho phụ huynh biết thức ăn chế biến phải đảm bảo
an toàn thực phẩm, phù hợp với hệ tiêu hoá của trẻ, phù hợp với lứa tuổi, thức ăn
của trẻ phải thái nhỏ, nấu nhừ. Thành lập ban phụ huynh chăm sóc sức khoẻ ở
trường gồm mỗi lớp hai thành viên, ban này có thể dự giờ thăm lớp, dự cách chế
Nội dung
Năm học
2009- 2010
Năm học
2010- 2011
1. Chất lượng chăn sóc
Tổng số trẻ đến trưòng 400 432
Tổng số trẻ ăn bán trú 315 =78,8% 398 = 92,1%
Bé chăm 365= 91,3% 405 = 93,7%
Bé ngoan 362 = 90,5% 400 = 92.5%
Bé sạch 380 = 95% 422 = 97,6%
2. Chất lượng nuôi dưỡng
Trẻ ăn ngon miệng, ăn hết suất 280/315= 88,8% 371/398= 93,2%
Trẻ ăn chưa ngon miệng, chưa hết suất 35/315= 11,2% 27/398 = 6,8%
Trẻ biết rửa tay trước khi ăn, sau khi
đi vệ sinh bằng xà phòng .
334/400= 83,5% 415/432= 96%
Trẻ có nề nếp thói quen trong giờ ăn,
giờ ngủ.
317/400= 79,3% 417/432 = 96,5%
Trẻ phát triển bình thường 360/400= 90% 420/432 =97,2%
Trẻ suy dinh dưỡng 40/400= 10% 12/432 =2,8%
Trẻ thấp còi 45/400= 11,3% 19/432 =4,4%
So sánh kết quả khảo sát giữa bảng một và bảng hai ta thấy việc huy động
trẻ ăn bán trú, chất lượng chăm sóc nuôi dạy trẻ ngày càng đạt kết quả cao đặc
biệt là năm học 2010-2011 nhà trường đã huy động trẻ ăn bán trú cao hơn
13.7%. Do đó kết quả chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tại trường được nâng lên rõ rệt
đó là: số trẻ phát triển binh thường 97,2%, số trẻ thấp còi giảm còn 4,4%, tẻ suy
dinh dưỡng giảm xuống còn 2,8%, số trẻ mắc các bệnh giảm rõ rệt, số trẻ có nề
nếp trong ăn, ngủ, vệ sinh được nâng cao.Do đó đối với trẻ mầm non cần phải
và giáo dục trẻ.
Hai là: Giáo viên phải nắm vững kiến thức, kỹ năng chăm sóc nuôi
dưỡng, nắm vững đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, phải có tấm lòng người mẹ thứ
hai để chăm sóc nuôi dưỡng trẻ, không ngừng nâng cao bồi dưỡng nghiệp vụ
chăm sóc nuôi dưỡng. Đối với giái viên nuôi dưỡng luôn cập nhật hoá các
phương pháp chế biến món ăn, vệ sinh an toàn thực phẩm, chế biến thực phẩm
đảm bảo ngon mắt, ngon mũi, ngon miệng, hợp khẩu vị, trẻ ăn hết khẩu phần của
mình, giúp trẻ tăng cân đều hàng tháng, luôn thay đổi cách chế biến các món ăn
theo mùa phù hợp với địa phương.
Ba là: Làm tốt công tác tuyên truyền đến nhân dân, các bậc phụ huynh học
sinh kiến thức nuôi con theo khoa học, làm cho mọi người nhận thức được về
vấn đề chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tại trường mầm non là rất cần thiết. Mặt khác
tạo niềm tin cho các cấp lãnh đạo địa phương, các bậc phụ huynh qua từng việc
làm cụ thể trong nhà trường.
Bốn là: Làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục để phát huy sức mạnh tổng
hợp của các thành viên trong trường, tham mưu cho các cấp uỷ Đảng, chính
quyền, các tổ chức xã hội, các ban ngành đoàn thể để hỗ trợ kinh phí và tạo điều
kiện thuận lợi cho công tác chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục. Đặc biệt là các
bậc phụ huynh học sinh thống nhất yêu cầu, nội dung, biện pháp và phương pháp
chăm sóc nuôi dưỡng hình thành cho trẻ những thói quen văn minh trong ăn
uống, giao tiếp ở trường cũng như ở gia đình và ngoài xã hội.
Năm là: Ban giám hiệu có kế hoạch thường xuyên kiểm tra giám sát việc
thực hiện công tác chăm sóc nuôi dưỡng như chế biến các món ăn, tổ chức bữa
18
ăn, tổ chức giấc ngủ, hình thành nề nếp thói quen vệ sinh văn minh trong ăn
uống, học tập, vui chơi đối với trẻ.
Sáu là: Thường xuyên bồi dưỡng nâng cao trình độ cho đội ngũ giáo viên
về mọi mặt phẩm chất đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ, hội thảo sáng kiến kinh
nghiệm, học hỏi kinh nghiệm của các trường điểm, cung cấp tài liệu, tạp chí, tập
san về giáo dục mầm non cho giáo viên học tập nghiên cứu, đặc biệt là khâu nuôi
Người viết sáng kiến
Hoàng Thị Nhuần
19