HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
TÔ THỊ HƯƠNG
HIỆU QUẢ KINH TẾ NUÔI TÔM SÚ VÀ TÔM THẺ
BÁN THÂM CANH TẠI XÃ ĐÔNG MINH, HUYỆN TIỀN HẢI,
TỈNH THÁI BÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH ĐÀO TẠO: KINH TẾ
Hà Nội - 2015
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
HIỆU QUẢ KINH TẾ NUÔI TÔM SÚ VÀ TÔM THẺ
BÁN THÂM CANH TẠI XÃ ĐÔNG MINH, HUYỆN TIỀN HẢI,
TỈNH THÁI BÌNH
Tên sinh viên : TÔ THỊ HƯƠNG
Chuyên ngành đào tạo : Kinh tế
Lớp : K56 - KTB
Niên khóa : 2011-2015
Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS. QUYỀN ĐÌNH HÀ
Hà Nội – 2015
2
LỜI CAM ĐOAN
Để tiến hành nghiên cứu đề tài: “Hiệu quả kinh tế nuôi tôm sú và tôm
thẻ bán thâm canh tại xã Đông Minh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình”. Tôi
đã thu thập tài liệu từ các nguồn sách báo, tạp chí huyện Tiền Hải, tỉnh Thái
Bình đồng thời thu thập số liệu qua các phiếu điều tra. Tôi xin cam đoan
những số liệu và kết quả nghiên cứu sử dụng trong khóa luận này là trung
thực, nghiêm túc. Mọi thông tin trích dẫn trong khóa luận đều đã được chỉ rõ
Ngành thủy sản Việt Nam là ngành đi đầu vươn ra thế giới và đã tăng
trưởng cao qua những năm qua. Nuôi trồng thủy sản đã trở thành một hoạt
động sản xuất chủ yếu đối với rất nhiều ngư dân ở Việt Nam. Nuôi trồng thủy
sản không những là nhân tố đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển nông
nghiệp nông thôn mà còn đóng vai trò nhất định trong nền kinh tế quốc dân.
Việt Nam trở thành nước đứng đầu về sản lượng cá tra, đứng thứ 3 thế giới về
sản lượng tôm (trong đó năm 2013 đứng đầu thế giới về sản lượng tôm sú),
thuộc nhóm 4 nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới.
Xã Đông Minh là xã phát triển kinh tế ven biển đứng đầu huyện, các
mô hình nuôi tôm khá phong phú, diện tích nuôi trồng được mở rộng qua các
năm, năng suất và sản lượng tôm đạt con số lớn trong toàn huyện. Sự phát
triển này tới mức các yếu tố kỹ thuật, con giống, cơ sở hạ tầng, vốn sản
xuất… chưa đáp ứng kịp thời. Do đó tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Hiệu
quả kinh tế nuôi tôm sú và tôm thẻ bán thâm canh tại xã Đông Minh,
huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình” nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế nuôi tôm
cho các hộ nông dân.
Nghiên cứu đề tài nhằm mục tiêu đánh giá thực trạng nuôi tôm sú và
tôm thẻ bán thâm canh của xã Đông Minh, đánh giá hiệu quả kinh tế nuôi tôm
và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả nuôi tôm của các hộ nông dân
xã, để đề xuất một số khuyến nghị và giải pháp để nâng cao hiệu quả nuôi
tôm tại xã.
Đề tài tập trung nghiên cứu các đối tượng là hộ nông dân có quy mô
nuôi tôm khác nhau thông qua việc phỏng vấn trực tiếp. Ngoài ra, trong quá
trình nghiên cứu đề tài tiến hành thu thập và sử dụng các thông tin từ các nguồn
sách, báo, internet, các báo cáo thống kê kinh tế - xã hội của xã. Đồng thời thiết
5
5
lập các chỉ tiêu như nhóm chỉ tiêu phản ánh thông tin chung về hộ, nhóm chỉ
tiêu phản ánh tình hình sản xuất tôm, nhóm chỉ tiêu phản ánh tình hình tiêu thụ
tôm và nhóm chỉ tiêu thể hiện kết quả và hiệu quả sản xuất của hộ.
7
7
DANH MỤC CÁC BẢNG
8
8
DANH MỤC ĐỒ THỊ
9
9
DANH MỤC VIẾT TẮT
BĐKH : Biến đổi khí hậu
BQ : Bình quân
BVMT : Bảo vệ môi trường
CC : Cơ cấu
CNBQ : Công nghệ bảo quản
CPSX : Chi phí sản xuất
CPTG : Chi phí trung gian
CPVC : Chi phí vật chất
CSHT : Cơ sở hạ tầng
ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long
DT : Diện tích
ĐVT : Đơn vị tính
GO : Gía trị sản xuất
GT : Gía trị
GTSX : Gía trị sản xuất
HQKT : Hiệu quả kinh tế
IC : Chi phí trung gian
MI : Thu nhập hỗn hợp
NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
NTTS : Nuôi trồng thủy sản
ÔNMT : Ô nhiễm môi trường
giá trị sản xuất (theo giá so sánh năm 2010) giai đoạn 2011-2013 của ngành
thủy sản đạt mức tăng trưởng bình quân 4,85%/năm, trong đó giá trị sản xuất
trong khai thác đạt 5,94%/năm. Giá trị tổng sản phẩm thủy sản (GDP) đạt tốc
độ tăng 3,66%/năm. Tổng sản lượng thủy sản năm 2013 đạt 5,9 triệu tấn
(trong đó sản lượng khai thác đạt 2,7 triệu tấn, sản lượng nuôi trồng đạt 3,2
triệu tấn) góp phần tạo nên tốc độ tăng tổng sản lượng bình quân đạt mức
4,80%/năm, trong đó tốc độ tăng sản lượng khai thác đạt 3,91%/năm, nuôi
trồng 5,57%/năm. Việt Nam trở thành nước đứng đầu về sản lượng cá tra,
đứng thứ 3 thế giới về sản lượng tôm (trong đó năm 2013 đứng đầu thế giới
về sản lượng tôm sú), thuộc nhóm 4 nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế
giới (Sơ kết 3 năm thực hiện Chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đến
năm 2020). Có thể nói nghề nuôi tôm có vai trò rất quan trọng đối với kinh tế
Việt Nam.
12
12
Xã Đông Minh là một xã ven biển của huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình,
nằm ở phía đông huyện lỵ nên xã có một vị trí rất quan trọng cả về kinh tế lẫn
an ninh quốc phòng, dân cư được phân bố theo chiều dài bờ biển là hơn 9 km.
Đông Minh là xã có tiềm năng phát triển ngành nuôi trồng thủy sản đặc biệt là
nuôi tôm sú và tôm thẻ theo phương thức bán thâm canh. Các điều kiện khí
hậu ẩm, nước biển có độ mặn cao, ổn định thuận lợi cho việc nuôi tôm sú và
tôm thẻ. Trong những năm qua tôm sú và tôm thẻ của xã đã và đang có những
bước phát triển khá tốt cả về sản lượng cũng như chất lượng tôm, tuy nhiên
đầu ra cho sản phẩm này lại rất thấp, chủ yếu tiêu thụ trôi nổi trên thị trường.
Đó còn chưa kể việc bà con tự nhập giống, thức ăn không rõ nguồn gốc, kém
chất lượng dẫn đến tôm bị chết do dịch bệnh, gây thiệt hại cho ngư dân. Điều
này khiến cho sản phẩm tôm sú và tôm thẻ khó thâm nhập vào thị trường khó
tính trên thế giới. Hơn nữa nghề nuôi tôm ở đây còn phụ thuộc nhiều vào điều
kiện thời tiết, vấn đề đặt ra là phải giải quyết như môi trường bị ô nhiễm, dịch
bệnh thường xuyên, hiệu quả kinh tế chưa được phân tích, đánh giá chính
Thái Bình
Phạm vi về thời gian:
Số liệu thứ cấp sử dụng trong đề tài được thu thập trong giai đoạn 2012
– 2014
Thời gian thực hiện đề tài từ 15/ 01/ 2015 đến 25/ 05/ 2015
Phạm vi về nội dung:
• Tập trung nghiên cứu 2 loại tôm chủ yếu đang được nuôi trong xã là tôm sú
và tôm thẻ
• Phân tích kết quả và hiệu quả kinh tế của việc nuôi tôm tại xã
14
14
PHẦN II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm và phân loại hiệu quả
2.1.1.1 Khái niệm về hiệu quả
Hiệu quả là một phép so sánh dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả
thực hiện các mục tiêu hoạt động của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để
có kết quả đó trong những điều kiện nhất định.
2.1.1.2 Phân loại hiệu quả
a. Theo yếu tố cấu thành
Hiệu quả kỹ thuật: Là số lượng sản phẩm đầu ra có thể đạt được trên
một đơn vị chi phí đầu vào hay nguồn lực sử dụng và sản xuất trong điều kiện
cụ thể về kỹ thuật hay công nghệ. Hiệu quả kỹ thuật được sử dụng phổ biến
trong kinh tế vĩ mô để xem xét tình hình sử dụng nguồn lực cụ thể. Hiệu quả
này thường được phản ánh trong quan hệ các hàm sản xuất. Hiệu quả kỹ thuật
liên quan đến phương diện hiện vật của sản xuất, nó chỉ ra rằng hai đơn vị
nguồn lực dùng vào sản xuất đem lại bao nhiêu đơn vị sản phẩm, hiệu quả kỹ
thuật của việc sử dụng các nguồn lực được thể hiện thông qua mối quan hệ
giữa đầu vào và đầu ra, giữa các đầu vào với nhau và giữa các sản phẩm khi
đưa ra các quyết định sản xuất. Hiệu quả kỹ thuật phụ thuộc nhiều vào bản
tiêu về hiệu quả kinh tế khi có một khối lượng nguồn lực nhất định tạo ra khối
lượng sản phẩm hữu ích lớn nhất.
Trong mỗi ngành, lĩnh vực thì quan điểm hiệu quả kinh tế được xem
xét dưới nhiều góc độ khác nhau tùy thuộc vào mục tiêu và yêu cầu của hoạt
động đó nhưng chúng ta có thể đưa ra khái niệm tổng quát như sau: “ HQKT
16
16
là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của hoạt động kinh tế, được
đánh giá bằng cách so sánh kết quả thu được với chi phí cho hoạt động kinh tế
đó”.
b. Theo phạm vi, đối tượng nghiên cứu
Hiệu quả kinh tế quốc dân: Là hiệu quả kinh tế xét trên toàn bộ nền
kinh tế đất nước, về chỉ tiêu đánh giá về tình hình sản xuất của các ngành sản
xuất tác động đến tình hình kinh tế quốc dân. Một nền kinh tế quốc dân phát
triển phải dựa vào phát triển đồng bộ của toàn bộ các ngành, nghề sản xuất
trong nước.
Hiệu quả kinh tế ngành: Là tính hiệu quả kinh tế cho những ngành sản
xuất trong nền kinh tế quốc dân, đây là chỉ tiêu quan trọng trong việc thúc đẩy
sản xuất một số ngành như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản… phát
triển nhằm tăng hiệu quả cho sản xuất nông nghiệp và kinh tế quốc dân.
Hiệu quả kinh tế vùng: Là chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của sản xuất đối với
vùng địa phương. Đối với chủ trương của Đảng, Nhà nước, phát triển dựa vào
thế mạnh và lợi thế so sánh của từng vùng là hướng phát triển quan trọng
nhằm tạo ra các vùng chuyên canh, vùng kinh tế hợp lý.
HQKT của việc sử dụng các nguồn lực, các yếu tố đầu vào như hiệu
quả sử dụng đất, hiệu quả sử dụng lao động, hiệu quả sử dụng vốn, hiệu quả
sử dụng tài nguyên…đây là chỉ tiêu phản ánh tính năng động trong sản xuất.
Điều này khẳng định việc quan trọng phải nghiên cứu các lợi thế so sánh của
các yếu tố nguồn lực và yếu tố đầu vào.
Hiệu quả môi trường: Trong quá trình sản xuất kinh doanh mục tiêu
18
18
- Xác định các yếu tố đầu vào: Hiệu quả là một đại lượng để đánh giá xem xét
kết quả hữu ích được tạo ra như thế nào, với chi phí là bao nhiêu, trong các
điều kiện cụ thể nào, có thể chấp nhận được không. Như vậy hiệu quả kinh tế
liên quan trực tiếp đến các yếu tố đầu vào và việc sử dụng nó với các yếu tố
đầu ra của quá trình sản xuất.
- Xác định các yếu tố đầu ra: Đây là việc xác định các mục tiêu đạt được, các
kết quả đạt được có thể là giá trị sản xuất, khối lượng sản phẩm, giá trị sản
phẩm, giá trị gia tăng, lợi nhuận.
Bản chất của hiệu quả kinh tế chính là hiệu quả của lao động xã hội và
được xác định bằng tương quan so sánh giữa kết quả hữu ích thu được với
lượng hao phí xã hội.
2.1.2.3 Phương pháp tính hiệu quả kinh tế
Từ bản chất và đặc điểm đánh giá hiệu quả kinh tế, đến nay có nhiều ý
kiến thống nhất cần sử dụng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế như sau:
Cách 1: HQKT = kết quả thu được – chi phí bỏ ra
Hay H = Q – C. Trong đó: H là hiệu quả kinh tế, Q là kết quả thu
được, C là chi phí bỏ ra. Công thức này cho ta nhận biết quy mô hiệu quả của
đối tượng nghiên cứu. Loại chỉ tiêu này được thể hiện bằng nhiều chỉ tiêu
khác nhau tùy thuộc vào phạm vi tính chi phí (C) là chi phí trung gian hoặc
chi phí vật chất hoặc tổng chi phí. Xác định hiệu quả kinh tế từ các chỉ tiêu
chủ yếu của hệ thống tài khoản quốc gia và được xác định bằng công thức
sau:
- Tổng giá trị sản xuất (GTSX) là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ
tạo ra trong một thời kỳ nhất định là một năm.
- Chi phí sản xuất bỏ ra, có thể biểu hiện theo các phạm vi tính toán sau:
19
19
+ Tổng chi phí trung gian (CPTG) là toàn bộ các khoản chi phí thường
hợp.
Chỉ tiêu đánh giá ở trường hợp (1) phản ánh mức hiệu quả đạt được khi
đầu tư thêm một lượng chi phí yếu tố đầu vào nào đó cho sản xuất. Trường
hợp (2) phản ánh mức độ hiệu quả đạt được khi đầu tư thêm một đơn vị yếu tố
đầu vào nào đó cho sản xuất. Nhóm chỉ tiêu thứ (3) này được sử dụng xác
định hiệu quả kinh tế của đầu tư theo chiều sâu hoặc hiệu quả kinh tế của việc
áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
2.1.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá HQKT
Kết quả và hiệu quả kinh tế chỉ được đánh giá chính xác khi xác định
được các chỉ tiêu đánh giá một cách hợp lý và đúng đắn.
+ Đảm bảo được tính thống nhất của các chỉ tiêu: Thống nhất về nội
dung, thời điểm tính, cách tính, đơn vị tính…
+ Đảm bảo tính khoa học, nghĩa là vừa phải đảm bảo tính đúng khi
nghiên cứu vừa phải dễ hiểu dễ sử dụng.
+ Phải đảm bảo tính toàn diện, nghĩa là có cả chỉ tiêu bộ phận và cả chỉ
tiêu tổng thể.
+ Các chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm, trình độ phát triển kinh tế -
xã hội.
- Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá HQKT bao gồm:
+ Giá trị sản xuất GO (Gross Output): Là toàn bộ giá trị của vật chất
và dịch vụ tạo ra trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm.
Trong đó: Qi: khối lượng sản phẩm thứ i
21
21
Pi: đơn giá sản phẩm hay công việc thứ i
n: số lượng sản phẩm hay công việc
Chỉ tiêu này phản ánh mục đích của sản xuất và thể hiện chính xác nhất quá
trình đầu tư thâm canh là hình thức của tái sản xuất mở rộng trong nông nghiệp.
* Chi phí trung gian (IC): Là toàn bộ các khoản chi phí về vật chất và
): Là tỷ số giữa giá trị sản
xuất thu được và chi phí trung gian tiêu tốn của quá trình sản xuất đó.
T
GO
= GO/IC (lần)
Tỷ suất giá trị sản xuất theo chi phí là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản
xuất theo góc độ chi phí. Qua chỉ tiêu này cho thấy cứ bỏ ra 1 đồng chi phí
trung gian sẽ thu được bao nhiêu đồng giá trị sản phẩm. Theo công thức trên,
nếu GO/IC càng lớn thì sản xuất càng đạt hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên, chỉ
tiêu này chưa làm rõ được chất lượng đầu tư.
Về phương pháp tính toán: T
GO
thường được tính theo từng loại sản
phẩm để so sánh chỉ tiêu này cho các loại sản phẩm với nhau làm cơ sở cho
việc ra quyết định nên sản xuất loại sản phẩm nào.
+ Tỷ suất giá trị tăng thêm theo chi phí trung gian (T
VA
): Tỷ suất giá trị
tăng thêm theo chi phí trung gian là chỉ tiêu đánh giá chất lượng của đầu tư
trong nuôi tôm sú và tôm thẻ, T
VA
được thể hiện bằng công thức:
23
23
T
VA
= VA/IC (lần)
Qua chỉ tiêu này cho thấy: cứ bỏ ra một đồng vốn vào sản xuất thì sẽ
thu được bao nhiêu đồng giá trị tăng thêm. T
VA
cũng thường được tính theo từng loại sản phẩm nhưng đã tính đến chi phí
khấu hao tài sản cố định, các chi phí phân bổ và thuế. Do vậy có thể coi chỉ
tiêu này là cơ sở tham khảo để ra các quyết định sản xuất.
Tỷ suất thu nhập hỗn hợp trên 1 công lao động (T
LA
): Chỉ tiêu này phản
ánh mức độ giá trị 1 ngày công lao động với nguồn thu hiện tại, được thể hiện
bằng công thức:
T
LA
= MI/LA (đ/công)
Trong kinh tế, chỉ tiêu T
LA
rất quan trọng bởi vì nó phản ánh giá trị thực
24
24
của lao động đã bỏ ra trong quá trình sản xuất. Tuy nhiên, trong một chừng
mực nào đó thì chỉ tiêu này chỉ có ý nghĩa tham khảo cho việc ra quyết định
sản xuất bởi lẽ nó chưa phản ánh được quy mô thu hút sức lao động. Trên thực
tế, có những sản phẩm khi đưa vào sản xuất có thể đem lại giá trị ngày công lao
động cao nhưng lại thu hút ít ngày công lao động, có những sản phẩm sản xuất
tuy giá trị ngày công lao động có thấp hơn song lại thu hút được nhiều lao
động, kết quả là tổng thu nhập hỗn hợp vẫn lớn hơn.
Về phương pháp tính toán: Đáng lưu ý khi tính toán chỉ tiêu này là việc
xác định chính xác lượng hao phí sức lao động. Thông thường, để tính toán
chính xác được công lao động người ta phải quy đổi từ giờ công ra ngày công
theo quy định 8 giờ làm việc bằng 1 công lao động.
- Tổng chi phí sản xuất (TC) là toàn bộ các chi phí bằng tiền của các khoản đầu
vào, các tài nguyên tham gia vào quá trình sản xuất ra sản phẩm.
+ Chi phí lao động phục vụ sản xuất chịu ảnh hưởng của các yếu tố