Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]
TÊN ĐỀ TÀI:
MỘT SỐ KINH NGHIỆM CỦA GIÁO VIÊN KHI SỬ DỤNG
TƯ LIỆU TRONG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN TRONG TRƯỜNG
PHỔ THÔNG Ở MỘT SỐ BÀI HỌC
I- ĐẶT VẤN ĐỀ:
Những năm gần đây, việc đổi mới phương pháp dạy học là yêu cầu
quan trọng nhằm từng bước nâng cao chất lượng giáo dục, phát huy tính
chủ động sáng tạo của học sinh. Tuy nhiên, đổi mới phải phù hợp với đặc
điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả
năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực
tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học
sinh. Để đổi mới phương pháp dạy học có hiệu quả, học sinh và giáo viên
không thể chỉ bằng lòng với những gì có sẵn trong sách giáo khoa hoặc
tài liệu hướng dẫn giảng dạy. Việc tìm tòi, nghiên cứu, sử dụng các tư
liệu trong dạy học nói chung và Ngữ văn nói riêng là điều vô cùng cần
thiết.
II-GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
1- CƠ SỞ LÍ LUẬN:
Có thể nói, cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học
tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động. Thầy giáo không phải
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]
là người nhồi nhét kiến thức cho học sinh mà là người hướng dẫn, tổ chức
học sinh lĩnh hội tri thức bằng con đường tự học. Hành trình chiếm lĩnh
tri thức của học sinh bao giờ cũng bắt đầu từ trực quan sinh động đến tư
duy trừu tượng. Tư liệu dạy học có thể được xem như là một trong những
phương tiện dạy học thiết thực nhất để tác động đến trực quan của học
sinh, tạo tiền đề cho các em nắm bắt được những vấn đề sâu rộng hơn và
những đơn vị kiến thức trừu tượng của bài học.
2- CƠ SỞ THỰC TIỄN:
Những năm gần đây, việc học sinh không tha thiết, thậm chí còn quay
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]
- Minh họa, khắc sâu kiến thức bài dạy.
- Sử dụng với mức độ thích hợp, vừa phải, tránh lạm dụng.
- Có những câu hỏi hướng dẫn học sinh phát hiện và khai thác tư liệu
một cách hợp lý, trong một số trường hợp có thể biến tư liệu thành ngữ
liệu.
- Chú ý đến thời điểm ra đời, nguồn gốc, xuất xứ và tính chuẩn xác
của tư liệu.
- Không quá khó hoặc quá xa lạ với đối tượng học sinh.
3/ Vai trò của học sinh:
Vai trò chủ động của học sinh không chỉ thể hiện ở những lần giơ tay
phát biểu xây dựng bài trong các tiết học mà khâu chuẩn bị ở nhà cũng rất
quan trọng. Không nên quan niệm rằng chỉ cần soạn bài theo các câu hỏi
hướng dẫn trong sách giáo khoa là đủ. Sự tìm tòi chính là bước đầu giúp
các em tự nghiên cứu, phát hiện để đi đến cảm, hiểu một tác phẩm văn
chương. Việc tự giác sưu tầm tư liệu một mặt tránh được lối soạn bài qua
loa chiếu lệ, mặt khác tạo điều kiện cho các em tiếp cận bài học với tâm
thế thoải mái, chủ động. Học sinh cần tuân thủ chặt chẽ nhiệm vụ sưu tầm
tư liệu chuẩn bị cho bài học dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Thông
thường, tư liệu phục vụ cho bài học là những hình ảnh minh họa hoặc các
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]
bài viết trên báo chí, sách vở, trên mạng internet Học sinh có thể độc
lập sưu tầm hoặc làm việc theo nhóm. Trên thực tế, ở một số bài dạy, nếu
học sinh chuẩn bị tốt khâu này thì tiết học sẽ có hiệu quả đáng kể.
Ví dụ : Bài Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống HIV/S (lớp
12), học sinh có thể sưu tầm các tư liệu sau đây:
- Hình ảnh những bệnh nhân nhiễm HIV/S.
- Hình ảnh về những hoạt động từ thiện của cộng đồng cùng chung
tay xoa dịu nỗi đau HIV/S.
- Những con số báo động về tốc độ lây lan của căn bệnh thế kỷ trên
ấy, việc tìm tòi tư liệu trở thành nhiệm vụ bắt buộc và vấn đề cụ thể được
đặt ra : phải xử lý như thế nào để tư liệu được sử dụng như các ngữ liệu.
Qua thực tế giảng dạy, bản thân tôi nhận thấy rằng: để chuyển hóa từ
tư liệu sưu tầm được thành ngữ liệu phục vụ cho việc khắc sâu kiến thức,
giáo viên cần tốn nhiều công sức và nhất thiết phải có sự đầu tư. Nguồn
tư liệu có thể lấy từ vốn kiến thức, kinh nghiệm giáo viên tích lũy được
hoặc từ các ví dụ ở sách giáo khoa cũ. Cần chú ý đến việc tổ chức hệ
thống câu hỏi đi từ xa đến gần; từ phát hiện đến phân tích, đối chiếu; từ
bao quát đến cụ thể Thiết nghĩ, những việc làm như thế vừa là điều
kiện thuận lợi cho giáo viên chủ động nắm vững các đơn vị kiến thức bài
học, vừa mang lại hiệu quả thiết thực cho việc sưu tầm tài liệu của giáo
viên.
4- KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU :
Từ thực tế giảng dạy, bản thân tôi nhận thấy rằng: sự đầu tư cho bài
giảng của giáo viên đóng một vai trò quan trọng trong việc quyết định
hiệu quả giờ học. Những tiết học mà giáo viên có đầu tư tìm tòi, bổ sung
tư liệu, học sinh học tập với thái độ hào hứng, sôi nổi hơn. Mặt khác, học
sinh cũng rất nhiệt tình, háo hức và tự giác trong việc sưu tầm tư liệu
phục vụ cho tiết học. Qua kiểm tra đánh giá, điều tôi rất phẩn khởi là đa
số các em đều hiểu bài tại lớp. Có kỹ năng vận dụng thành thạo lý thuyết
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]
vào thực hành. Tình trạng một số em lơ là, uể oải hoặc thiếu hứng thú đã
được khắc phục trong các tiết học như vậy.
III- KẾT LUẬN :
Những điều tôi đã trình bày cũng có thể là không hề xa lạ, mới mẻ với
các thầy cô. Ở đây, tôi chỉ nêu ra những kinh nghiệm cá nhân mà mình đã
từng vận dụng. Cũng như bất kỳ thầy cô giáo nào, tôi cũng luôn luôn
mong muốn được lên lớp trong một không khí học tập đầy hào hứng, sôi
nổi, có sự cộng tác đồng bộ giữa thầy và trò. Vì lẽ đó, tôi thường trăn trở
và tìm hướng giảng dạy thích hợp ở một số bài học, trong đó đặc biệt chú
− Nhận diện, cảm thụ và phân tích ngôn ngữ nghệ thuật : các biện pháp
nghệ thuật và hiệu quả nghệ thuật của chúng.
− Bước đầu sử dụng ngôn ngữ để đạt được hiệu quả nghệ thuật khi nói,
nhất là viết : so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, điệp ngữ, tượng trưng,
3.Thái độ:
- Giao tiếp trình bày suy nghĩ, ý tưởng về dặc điểm của ngôn ngữ đươc sử
dụng trong các tác phẩm văn chương.
- Ra quyết định sử dụng ngôn ngữ phù hợp với từng phong cách.
II- PHƯƠNG THỨC DẠY HỌC :
1. Phương tiện : Sách giáo khoa, sách giáo viên, tài liệu tham khảo,
thiết kế dạy học, bảng phụ…
2. Phương pháp : Nêu vấn đề, trao đổi, thảo luận, gợi ý luyện tập…
III- TIẾN TRÌNH BÀI DẠY :
1- Ổn định lớp :
2- Kiểm tra bài cũ :
3- Bài mới: Hoạt động 1- Giới thiệu bài mới:
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]
Giáo viên nhắc lại 6 loại văn bản thuộc phong cách chức năng được
phân chia theo lĩnh vực và mục đích giao tiếp. Nhấn mạnh: Mỗi loại
phong cách có những đặc trưng riêng trong diễn đạt. Phong cách ngôn
ngữ nghệ thuật cũng không nằm ngoài quy luật đó. Bài học hôm nay sẽ
giúp chúng ta tìm hiểu kỹ hơn về phong cách ngôn ngữ nghệ thuật.
Hoạt động 2: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu phần Ngôn ngữ nghệ
thuật:
- Thao tác 1: Giáo viên định hướng:
Các em đã được tiếp xúc với rất nhiều tác phẩm nghệ thuật. Vậy các
em có nhận xét gì về ngôn ngữ trong các văn bản nghệ thuật đó?
- Thao tác 2: Giáo viên tiếp tục gợi mở:
Để hình dung rõ hơn về ngôn ngữ nghệ thuật, hãy đọc kỹ các ngữ liệu
về Ngôn ngữ nghệ thuật.
- Thao tác 5: Giáo viên nhận xét, bổ sung điều chỉnh câu trả lời của học
sinh, chốt lại kết luận:
Ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ chủ yếu được dùng trong các tác
phẩm văn chương, không chỉ có chức năng thông tin mà còn thỏa mãn
nhu cầu thẩm mĩ của con người. Nó là ngôn ngữ được tổ chức, xếp đặt,
lựa chọn, tinh luyện từ ngôn ngữ thông thường và đạt được giá trị nghệ
thuật - thẩm mĩ.
Hoạt động 3: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu mục Phong cách ngôn
ngữ nghệ thuật:
- Thao tác 1: Tìm hiểu đặc trưng 1: Tính hình tượng
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]
+ Bước 1: Giáo viên cung cấp những ngữ liệu đã ghi sẵn ở bảng phu:
Ngữ liệu 1: Con kiến mà leo cành đào
Leo phải cành cụt, leo vào leo ra
Con kiến mà leo cành đa
Leo phải cành cụt, leo ra leo vào
(Ca dao)
Ngữ liệu 2: Em tưởng nước giếng sâu
Em nối sợi gàu dài
Ai ngờ nước giếng cạn
Em tiếc hoài sợi dây
(Ca dao)
+ Bước 2: Phát vấn học sinh:
(*) Em hình dung như thế nào và cảm nhận được điều gì từ ngữ liệu 1?
(Học sinh trả lời về nghĩa đen, nghĩa bóng của bài ca dao)
(*) Hãy tìm cách diễn đạt tương tự ở ngữ liệu 2. Cho biết vì sao tác
giả dân gian lại chọn cách diễn đạt này.
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]
Học sinh trả lời trên cơ sở so sánh với cách diễn đạt thông thường:
Tác phẩm văn học có khả năng gợi những tình cảm, cảm xúc khác
nhau ở người đọc; đồng thời người đọc cũng nhận ra thái độ và tình cảm
của người viết. Đó là tính truyền cảm của tác phẩm văn học.
+ Bước 3: Học sinh kết luận một lần nữa về tính truyền cảm của phong
cách ngôn ngữ nghệ thuật:
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]
Tính truyền cảm trong phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
thể hiện ở việc bộc lộ cảm xúc, thái độ của người viết, khả năng gợi
sự đồng cảm ở người nghe, người đọc.
- Thao tác 3: Tìm hiểu đặc trưng 3: Tính cá thể hóa:
+ Bước 1: Yêu cầu học sinh so sánh cách thể hiện về đề tài mùa thu của
2 tác giả:
a) Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu
Nước biếc trông như từng khói phủ
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
(Nguyễn Khuyến, Thu vịnh)
b) Em không nghe mùa thu
Lá thu rơi xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô
(Lưu Trọng Lư, Tiếng thu)
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]
c) Mùa thu nay khác rồi
Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi
Gió thổi rừng tre phấp phới
Trời thu thay áo mới
Trong biếc nói cười thiết tha
(Nguyễn Đình Thi, Đất nước)
Học sinh phát hiện:
như những tiêu chí quan trọng khi phân tích, bình giá tác phẩm văn học.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Ngữ văn 12, tập 1.
2. Ngữ văn 12, tập 2.
3. Ngữ văn 10, tập 2.
4. Bài tập Ngữ văn 10, tập 2.
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]
V- MỤC LỤC:
1- Tên đề tài
2. Đặt vấn đề
3. Cơ sở lý luận
4. Cơ sở thực tiễn
5. Nội dung nghiên cứu:
- Cách hiểu về tư liệu dạy học và phân loại.
- Một số vấn đề cần lưu ý khi sử dụng tư liệu dạy học
- Vai trò của học sinh
- Vai trò của giáo viên
……………………………………………
Tam kỳ, ngày tháng năm2010
TỔ TRƯỞNGĐÁNH GIÁ CUẢ HĐKH NHÀ TRƯỜNG
Tam kỳ,ngày tháng năm2010
HIỆU TRƯỞNG
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]
Phạm Thị Hồng
NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA HĐKH SỞ GD-ĐT QUẢNG NAM