Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT LÊ LỢI THỌ XUÂN
TÊN ĐỀ TÀI
MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIÚP HỌC SINH HỆ THỐNG KIẾN
THỨC VÀ ÔN TẬP MỘT SỐ TÁC PHẨM NGỮ VĂN 12
SKKN Năm học 2012 - 2013
A. A. PHẦN MỞ ĐẦU.
Lí do chọn đề tài.
Vào các năm gần đây, “Đổi mới phương pháp dạy học”, sử dụng “kĩ thuật
dạy học” là những cụm từ trở nên quá quen thuộc trong ngành giáo dục. Nó là một
đòi hỏi cấp bách, một xu hướng tất yếu của các trường học. Cùng với một số môn
học khác, thực trạng dạy - học môn Văn được đề cập rất nhiều trên các phương
tiện thông tin, trong đó đặc biệt nhấn mạnh tỉ lệ học sinh yếu ở bộ môn Văn ngày
càng cao, kéo theo kết quả không mấy khả quan trong các kỳ thi tốt nghiệp THPT
và thi Đại học, Cao đẳng.
Vì vậy, vấn đề làm thế nào để có thể nâng cao kết quả học tập và ôn thi tốt
nghiệp THPT, thi Đại học, Cao đẳng môn Ngữ Văn cho học sinh lớp 12 thật sự là
vấn đề thiết yếu và được quan tâm hàng đầu hiện nay. Có thể khẳng định, từ khi
tiến hành cải cách chương trình Sách giáo khoa bậc THPT (năm 2006) đến nay,
nhiều giáo viên đã rất nỗ lực trong việc dạy - học, không ngừng nâng cao trình độ,
đổi mới phương pháp dạy học, cùng với sự hỗ trợ của các phương tiện công nghệ
thông tin ngày càng hiện đại, để mang lại cho học sinh những cách học Văn lý thú,
giúp các tiết học Văn đạt hiệu quả cao.
Song việc học sinh không hứng thú với môn học, học yếu môn Văn, kết quả
thi còn thấp, hiện vẫn đang là một tồn tại mà bất cứ ai quan tâm đến nền giáo dục
của nước nhà cũng có thể thấy. Khách quan mà nói, có điều đó một phần là do vẫn
có giáo viên chưa quan tâm đúng mức, chưa giúp đỡ kịp thời đối với học sinh
trong quá trình dạy - học nên để các em có những lỗ hổng kiến thức cơ bản. Một
phần không nhỏ là do chính bản thân các em không thích học (kể cả không chịu
học) các môn xã hội nói chung, môn Ngữ Văn nói riêng; kể cả việc có em không
Văn.
Theo kết quả sơ bộ kỳ thi đại học năm 2012 có gần 10.000 bài thi bị 0 điểm,
trong đó môn Văn chiếm phần không nhỏ. Cũng sau kỳ thi đại học này, nhiều bài
phân tích, bình giảng văn, thơ của các sĩ tử đã khiến các thầy, cô giáo trực tiếp làm
công tác giảng dạy cũng như các cán bộ trong ban chấm thi phải lên tiếng trước
công luận, rung một tiếng chuông cảnh tỉnh báo hiệu về một thực tế: học sinh ngày
càng cảm thụ các áng văn hay, các bài thơ truyền cảm bằng những tư duy xã hội
học, theo chủ nghĩa tự nhiên nếu không muốn nói là thô tục.
Theo TS. Nguyễn Thị Hồng Nam thì có những lý do rất cơ bản để dẫn đến
tình trạng trên là: chương trình quá thiên về nhồi nhét kiến thức lý thuyết mà
không chú trọng đến việc rèn luyện kỹ năng thực hành bài viết; chương trình quá
nặng, bài quá dài là một trong những nguyên nhân khiến giáo viên không thể sử
dụng các biện pháp dạy học tích cực như đàm thoại, thảo luận, cho học sinh thuyết
minh, đóng kịch mà phải "chạy" cho kịp bài, hết bài đúng thời gian chương trình.
Và một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên là học sinh không có
phương pháp học tập khoa học, không chịu đầu tư thời gian, công sức cho môn học
và đặc biệt, không xác định đúng mục tiêu học tập bộ môn.
4
Vậy, làm thế nào để có thể phát huy được mọi đối tượng học sinh trong quá
trình dạy - học, nhất là các em học yếu môn Ngữ Văn 12 để giúp các em đạt được
kết quả khả quan trong học tập và vượt qua được các kì thi cuối cấp?
Trong tài liệu: "Thiết kế bài học tác phẩm văn chương ở nhà trường phổ
thông", GS Phan Trọng Luận cũng nhấn mạnh: “Giờ học mới phải là một kết cấu
logic chặt chẽ khoa học mà uyển chuyển linh hoạt, hệ thống đơn vị tình huống học
tập được đặt ra từ bản thân tác phẩm phù hợp với sự tiếp nhận của học sinh. Và
song song tương ứng là một hệ thống việc làm, thao tác do giáo viên dự tính tổ
chức để dẫn dắt từng cá thể học sinh tự chiếm lĩnh tác phẩm một cách hứng thú”.
Như vậy, dù không phát biểu trực tiếp song ý kiến trên cũng đã nhấn mạnh sự dẫn
dắt khéo léo của giáo viên trong giờ học Ngữ Văn sao cho phù hợp với mọi đối
tượng học sinh như tác giả Nguyễn Kế Hào đã từng nhấn mạnh: "Dạy học theo
3.1. Lập kế hoạch và xây dựng kế hoạch
3.1.1. Lập kế hoạch
Bộ môn Ngữ Văn nằm trong nhóm 3 môn thi bắt buộc trong kỳ thi tốt
nghiệp THPT hàng năm, bao gồm: Văn, Toán và Ngoại ngữ. Đặc điểm này yêu
cầu nhà trường, giáo viên bộ môn và học sinh phải có kế hoạch chủ động chuẩn bị
ngay từ đầu năm học.
Giáo viên bộ môn lập kế hoạch dạy học trên cơ sở kế hoạch công tác chung
của nhà trường và tổ chuyên môn để có sự thống nhất, đồng bộ trong giảng dạy.
Cụ thể:
Kế hoạch (bản kế hoạch) là “toàn bộ những điều vạch ra một cách có hệ
thống về những công việc dự định làm trong một thời hạn nhất định, với mục tiêu,
cách thức, trình tự, thời gian tiến hành” ( Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học,
Nhà xuất bản Khoa học xã hội – 1988 ). Nói cách khác, kế hoạch là chương trình
hành động trong tương lai hướng vào việc thực hiện một mục tiêu nào đó.
Xét về phương diện học tập của HS, còn có thể hiểu :
6
Kế hoạch học tập bộ môn là thể hiện việc xác định những nội dung học tập,
phương pháp học tập và mục tiêu cần đạt trong các kỳ thi với một giới hạn thời
gian nhất định dành cho bộ môn.
3.1.2 Xây dựng kế hoạch:
Xây dựng kế hoạch (còn gọi là lập kế hoạch) là xác định các mục tiêu, các
hoạt động và nguồn lực cần thiết để đạt tới mục tiêu một cách phù hợp với tình
hình thực tiễn trong khoảng thời gian xác định.
Xây dựng kế hoạch là làm rõ:
o Khả năng bản thân
o Mục tiêu đạt được trong tương lai
o Nội dung sẽ thực hiện.
o Phương pháp thực hiện
o Đánh giá kết quả.
Xây dựng kế hoạch là hoạt động có ý thức của chủ thể để đưa ra các quyết định
văn học để viết bài nghị luận văn học, phân tích giá trị nội dung, nghệ thuật của
bài thơ, đoạn thơ hoặc một tác phẩm văn xuôi (đặt mỗi tác phẩm trong từng giai
đoạn lịch sử cụ thể). Gồm:
a-Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ.
b-Nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi.
Trong quá trình học trên lớp, học sinh cần phải được trang bị những kiến
thức cơ bản của môn học một cách đầy đủ, có hệ thống (theo Phân phối chương
trình của Bộ Giáo Dục - Đào tạo) thông qua sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên.
Đối với tác phẩm thơ: học sinh cần nắm vững giá trị nội dung, tư tưởng (ý ghĩa
văn bản) và những đặc sắc về nghệ thuật của đoạn thơ hoặc bài thơ.
Đối với tác phẩm văn xuôi: học sinh cần nắm chắc tóm tắt tác phẩm; tìm các chi
tiết, sự việc, tình huống tiêu biểu để làm nổi bật giá trị nội dung và nghệ thuật của
tác phẩm. Hướng dẫn học sinh cách tìm hiểu, phân tích một nhân vật trong tác
phẩm văn học.
8
3.2. Kỹ thuật sử dụng sơ đồ tư duy:
3.2.1. Quy cách chung
Như đã nói ở trên, khối lượng kiến thức mà học sinh phải học mỗi ngày là
rất lớn (đặc biệt là học sinh lớp 12) nhưng quỹ thời gian và sức khỏe có giới hạn.
Mặt khác, xã hội ngày càng đòi hỏi con người sáng tạo. Vậy biện pháp nào giúp
chúng ta giải quyết tình trạng này? Thực tế cho thấy, trong quá trình học tập khó
ai có thể nhớ kĩ từng chi tiết, nhớ nguyên văn một cuốn sách hoặc một bài học dài.
Có chăng là con người có thể nhớ một sơ đồ, một hệ thống, một công thức chung
nhất nào đó của bài học.
Vấn đề đặt ra là, giáo viên cần cung cấp cho học sinh một phương pháp phù
hợp để học sinh tự học, tự hệ thống kiến thức. Sơ đồ tư duy sẽ đáp ứng tốt yêu cầu
trên. Muốn nắm vững, nhớ sâu, vận dụng sáng tạo học sinh phải cùng giáo viên
tìm tòi, xây dựng hệ thống bài học. Đã qua rồi thời kì đọc – chép, chiếu – chép,
nhìn – chép…Vì vậy, giáo viên hướng dẫn cho học sinh cách thực hiện sơ đồ mô
phỏng kiến thức bài học. Đồng thời, giúp học sinh tư duy, sáng tạo, tận dụng khả
- Lưu ý: Mỗi từ hoặc ý nên đứng độc lập và được nằm trên một đường kẻ. Nên
dùng đường kẻ cong thay vì các đường thẳng vì các đường cong được tổ chức rõ
ràng sẽ thu hút được sự chú ý của mắt nhiều hơn. Ngoài ra cần bố trí thông tin đều
quanh hình ảnh trung tâm.
Hiện nay đã có rất nhiều phần mềm hỗ trợ vẽ bản đồ tư duy trên máy tính.
Khi học sinh học trên lớp, chúng ta chỉ cần hướng dẫn cách vẽ sơ đồ. Các em chỉ
cần dùng bút màu, giấy A4 ….
- Ví dụ: Khi học bài Người lái đò sông Đà của nhà văn Nguyễn Tuân
+ Với phương pháp đặt câu hỏi phát vấn hoặc nêu vấn và giải quyết vấn đề, chúng
ta có thể tìm hiểu từng nội dung theo các đoạn văn bản ở sách giáo khoa.
10
Giáo viên có thể dùng câu hỏi: Đoạn văn “Hùng vĩ của Sông Đà….vừa tắt phụt
đèn điện” miêu tả đá bờ sông như thế nào? Tác giả đã dùng nghệ thuật gì để khắc
họa hình ảnh đó? Hình ảnh đó còn giúp em hình dung ra điều gì?
Có thể nói, khi giáo viên đặt câu hỏi thì học sinh tìm các chi tiết từ văn bản ở sách
giáo khoa (hoặc học sinh đã soạn trước ở nhà) rồi trả lời câu hỏi.
+ Với phương pháp dùng Bản đồ tư duy, giáo viên cũng có thể phát huy tính tích
cực của học sinh bằng cách sử dụng các câu hỏi, đồng thời giúp học sinh nhớ kĩ và
liên tưởng đến nội dung bài học mà không cần ghi chép quá nhiều. Cũng với đoạn
văn trên, chúng ta có thể dùng câu hỏi: Đoạn văn “Hùng vĩ của Sông Đà….vừa tắt
phụt đèn điện” miêu tả hình ảnh gì của sông Đà? Hãy tìm một từ miêu tả hình ảnh
ấy? Từ học sinh tìm được sẽ là “đá bờ sông”. Từ đó học sinh có thể tự tìm những
chi tiết miêu tả đá bờ sông và triển khai theo các cấp độ.
Chúng ta có thể vận dụng Bản đồ tư duy vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới,
củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập hoặc hệ thống hóa kiến thức sau mỗi
chương, mỗi kì…Trong bài viết này tôi muốn đề cập đến vấn đề giúp học sinh hệ
thống hóa kiến thức bằng Bản đồ tư duy.
IV. TIẾN TRÌNH THỰC HIỆN.
1.GIỚI THIỆU PHÂN PHỐI CHƯƠNG TRÌNH THEO QUY ĐỊNH – CƠ
SỞ CỦA VIỆC LẬP KẾ HOẠCH HỌC TẬP BỘ MÔN
Tiết 43,44 Quá trình văn học và phong cách văn học
Tiết 45 Trả bài viết số 3
Tiết 46,47 Người lái đò Sông Đà (trích)
Tiết 48 Chữa lỗi lập luận trong văn nghị luận
Tiết 49,50 Ai đã đặt tên cho dòng sông (trích)
Tiết 52 Thực hành chữa lỗi lập luận trong văn nghị luận
Tiết 53,54 Bài viết số 4
HỌC KÌ II
12
Tiết 55,56 Vợ chồng A Phủ (trích)
Tiết 57,58 Bài viết số 5: Nghị luận văn học
Tiết 60,61,62 Vợ nhặt
Tiết 63 Nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi
Tiết 64,65,66 Rừng xà nu
Tiết 67,68 Những đứa con trong gia đình
Tiết 69 Trả bài viết số 5 - Bài viết số 6: Nghị luận văn học (học sinh làm ở
nhà)
Tiết 70,71 Chiếc thuyền ngoài xa
Tiết 72 Thực hành về hàm ý
Tiết 76,77 Thuốc
Tiết 78 Rèn luyện kĩ năng mở bài, kết bài trong bài văn nghị luận
Tiết 79,80 Số phận con người (trích)
Tiết 82,83 Ông già và biển cả (trích)
Tiết 84 Diễn đạt trong văn nghị luận
Tiết 85,86,87 Hồn Trương Ba, da hàng thịt (trích)
Tiết 89,90 Nhìn về vốn văn hóa dân tộc
Tiết 91 Phát biểu tự do
Tiết 92,93 Phong cách ngôn ngữ hành chính
Tiết 94 Văn bản tổng kết
Tiết 95,96 Tổng kết phần Tiếng Việt: Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
Bắc”. Để tôn lên vẻ đẹp của người lao động trên sông nước, Nguyễn Tuân đã xây
dựng thành công hình tượng con sông Đà với hai nét tính cách nổi bật. Khi giáo
viên triển khai tiết học, bằng phương pháp này hay phương pháp khác, học sinh
cũng nắm được những nội dung cơ bản của bài học. Khi tiến hành ôn tập hoặc hệ
thống hóa kiến thức, giáo viên yêu cầu học sinh lên bảng triển khai theo sơ đồ tư
14
duy. Có thể kèm theo câu hỏi giúp học sinh định hướng đúng các ý chính cần trả
lời.
Ví dụ: Trong tùy bút Người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân đã xây dựng những
hình tượng nhân vật nào? Hình tượng nhân vật ấy được thể hiện ra sao? Nhóm 1
trình bày hình tượng con sông Đà, nhóm 2 trình bày hình tượng người lái đò.
Con sông Đà trên trang viết của Nguyễn Tuân hiện lên như một “nhân vật” với hai
nét tính cách trái ngược.
Người lái đò đã chinh phục được con sông hung bạo dữ dằn nhờ sự ngoan cường,
dũng cảm và kinh nghiệm sông nước.
Sau khi 2 nhóm trình bày lên bảng, giáo viên gọi học sinh dưới lớp nhận xét,
bổ sung để hoàn thiện Bản đồ tư duy về kiến thức bài học đó.
Như đã giới thiệu ở trên, chúng ta cũng có thể dùng cách chia nhỏ nội dung
bài học để học sinh nắm vững kiến thức từng phần. Ví dụ như cũng yêu cầu học
sinh vẽ Bản đồ tư duy tái hiện hai hình tượng cơ bản trong tác phẩm Người lái đò
sông Đà, nhưng giáo viên yêu cầu 4 nhóm làm việc độc lập:
+ Nhóm 1: tái hiện hình tượng con sông Đà hung bạo, dữ dằn.
+ Nhóm 2: tái hiện hình tượng con sông Đà thơ mộng, trữ tình.
+ Nhóm 3: tái hiện hình tượng ông lái đò với sự ngoan cường dũng cảm và kinh
nghiệm sông nước.
+ Nhóm 4: tái hiện hình tượng ông lái đò với vẻ đẹp bình dị và tài hoa.
Lưu ý: Mỗi học sinh trong nhóm phải có trách nhiệm hoàn thiện một nhánh của
Bản đồ tư duy.
Ví dụ: Ở nhóm 1, học sinh thứ nhất trình bày lên Bản đồ hình ảnh “đá bờ sông”,
học sinh thứ hai trình bày “những cái hút nước”… cứ như vậy tất cả các học sinh
trêu đùa của tạo hóa. Một cảnh bạo hành dã man diễn ra ngay trước mắt. Lúc này
16
không biết có ai đã từng nghĩ: người đàn bà kia là kẻ thù? Người đàn kia đã phạm
phải một tội lỗi không thể dung tha? Nguyễn Minh Châu đã quá khéo khi đặt ra
một tình huống truyện độc đáo làm người đọc nhấp nhổm, đứng ngồi không yên.
Phải tìm hiểu tiếp câu chuyện để tìm lời giải đáp cho những thắc mắc trên.
Đến tòa án Huyện, người đọc như nhìn thấy vẻ mặt lo lắng, bối rối của
người đàn bà hàng chài. Sao không nghe thấy bà ta kể tội chồng mình như những
người đàn bà bị chồng đánh khác? Hay bà bị một sự đe dọa nào đó? Được khuyên
bỏ chồng, người đàn bà từ chối bằng một hành động khó hiểu “con lạy quý tòa”,
“quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó…”.
Chính lúc này, người trực tiếp chứng kiến câu chuyện hay người gián tiếp nghe kể
như chúng ta đều cảm thấy khó hiểu, một cảm giác bất ngờ, khó chịu và bức xúc.
Từ trong lời kể của bà toát lên một nỗi đau, một sự cam chịu, một sự hi sinh vô bờ
bến. Lúc đầu, chúng ta nghĩ rằng người đàn bà nghèo khổ kia phải biết ơn nghệ sĩ
nhiếp ảnh Phùng và chánh án Đẩu. Nhưng không! Chính Phùng và Đẩu phải thầm
cảm ơn vì sự sâu sắc và thấu hiểu lẽ đời cuả người mẹ nghèo khổ. Một người mẹ
luôn sống vì con. Thậm chí đến niềm vui của bà cũng nhờ có các con “vui nhất là
khi ngồi nhìn đàn con tôi chúng được ăn no”.
Khi học tác phẩm này ở nội dung câu chuyện ở tòa án Huyện, giáo viên có
thể kết hợp nhiều phương pháp như thảo luận, nêu vấn đề, nêu giả thuyết…
+ Nếu em là người đàn bà hàng chài, em sẽ hành xử như thế nào?
+ Em có đồng tình với cách hành xử của bà không? Vì sao?
+ Giáo viên có thể cho học sinh thảo luận nhóm (hướng học sinh đến câu trả lời
thể hiện rõ nhất phẩm chất đáng trân trọng của bà.)
Khi ôn tập, giáo viên yêu cầu học sinh lên bảng lập sơ đồ tư duy về lí do
không bỏ chồng của người đàn bà, từ đó chúng ta có thể nhận ra những phẩm chất
tốt đẹp, đáng trân trọng của hình tượng nhân vật này. Đồng thời, học sinh hiểu rõ
hơn thông điệp mà nhà văn gửi gắm qua câu chuyện.
17
I. TÌM HIỂU CHUNG
1. Tác giả
- Nguyễn Minh Châu (1930- 1989), quê ở làng Thơi, xã
Quỳnh Hải (nay là xã Sơn Hải), huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ
An. Ông “thuộc trong số những nhà văn mở đường tinh anh
và tài năng nhất của văn học ta hiện nay"
- Sau 1975, khi văn chương chuyển hướng khám phá trở về
18
2. HS Đọc mục Tiểu dẫn
và tóm tắt những nét
chính về tác phẩm Chiếc
thuyền ngoài xa.
GV tổ chức cho HS đọc
văn bản, tóm tắt và chia
đoạn.
HS trên cơ sở đọc ở nhà,
trình bày tóm tắt, chia
đoạn.
Hoạt động 2: Tổ chức
Đọc- hiểu văn bản
GV nêu câu hỏi và tổ
chức cho HS thảo luận:
Phát hiện thứ nhất của
người nghệ sĩ nhiếp ảnh là
phát hiện đầy thơ mộng.
Anh (chị) cảm nhận như
với đời thường, Nguyễn Minh Châu là một trong số những
nhà văn đầu tiên của thời kì đổi mới đã đi sâu khám phá sự
thật đời sống ở bình diện đạo đức thế sự. Tâm điểm những
người nghệ sĩ chụp được?
HS thảo luận, cử đại diện
trình bày trước lớp.
GV nêu câu hỏi và tổ
chức cho HS thảo luận:
Phát hiện thứ hai của
người nghệ sĩ nhiếp ảnh
mang đầy nghịch lí. Anh
đã chứng kiến và có thái
độ như thế nào trước
những gì diễn ra ở gia
đình thuyền chài.
HS thảo luận, phát biểu.
hiện vẻ đẹp “trời cho” trên mặt biển mờ sương, vẻ đẹp mà cả
đời bấm máy anh chỉ gặp một lần. Người nghệ sĩ cảm thấy
hạnh phúc - đó là niềm hạnh phúc của khám phá và sáng tạo,
của sự cảm nhận cái đẹp tuyệt diệu . Trong hình ảnh chiếc
thuyền ngoài xa giữa biển trời mờ sương, anh đã cảm nhận
cái đẹp toàn bích, hài hoà, lãng mạn của cuộc đời, thấy tâm
hồn mình được thanh lọc.
b. Phát hiện thứ hai đầy nghịch lí của người nghệ sĩ
nhiếp ảnh
- Người nghệ sĩ đã tận mắt chứng kiến: từ chiếc thuyền ngư
phủ đẹp như trong mơ bước ra một người đàn bà xấu xí, mệt
mỏi và cam chịu; một lão đàn ông thô kệch, dữ dằn, độc ác,
coi việc đánh vợ như một phương cách để giải toả những uất
ức, khổ đau Đây là hình ảnh đằng sau cái đẹp “toàn bích,
toàn thiện” mà anh vừa bắt gặp trên biển. Nó hiện ra bất ngờ,
trớ trêu như trò đùa quái ác của cuộc sống.
chiếc máy ảnh của nghệ sĩ Phùng.
2. Câu chuyện của của người đàn bà ở toà án huyện
Là câu chuyện về sự thật cuộc đời, nó giúp những người
như Phùng, Đẩu hiểu rõ nguyên do của những điều tưởng
như vô lí. Nhìn bề ngoài, đó là người đàn bàn quá nhẫn nhục,
cam chịu, bị đánh đập mà vẫn nhất quyết gắn bó với lão
chồng vũ phu. Nhưng tất cả đều xuất phát từ tình thương vô
bờ đối với những đứa con. Trong đau khổ triền miên, người
đàn bà ấy vẫn chắt lọc những niềm hạnh phúc nhỏ nhoi
Qua câu chuyện của người đàn bà làng chài, tác giả giúp
người đọc hiểu rõ: không thể dễ dãi, đơn giản trong việc nhìn
nhận mọi sự việc, hiện tượng của đời sống.
3. Về các nhân vật trong truyện
- Về người đàn bà vùng biển:
+ Tác giả gọi một cách phiếm định “người đàn bà”. Điều
tác giả gây ấn tượng chính là số phận của chị.
+ Ngoại hình: Ngoài 40, thô kệch, mặt rỗ, xuất hiện với
“khuôn mặt mệt mỏi”, người đàn bà gợi ấn tượng về một
cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ, nhiều cay đắng.
- Phẩm chất:
+ Bà thầm lặng nhẫn nhục, chịu mọi đau đớn khi bị chồng
đánh không kêu một tiếng, không chống trả, không trốn
chạy=> nghị lực sống mãnh liệt.
+ “tình thương con cũng như nỗi đau, sự thâm trầm trong
cái việc hiểu thấu các lẽ đời hình như mụ chẳng để lộ ra bên
21
(HS làm việc cá nhân,
phát biểu trước lớp)
Gợi ý: Về người đàn ông
độc ác? Từ các chi tiết để
này thì mẹ nó không bị đánh”. Hình ảnh thằng Phác khiến
người đọc cảm động bởi tình thương mẹ dạt dào.
- Người nghệ sĩ nhiếp ảnh:
+ Vốn là người lính thường vào sinh ra tử, Phùng căm ghét
22
GV tổ chức cho HS tìm
hiểu cốt truyện:
Cách xây dựng cốt truyện
của Nguyễn Minh Châu
trong tác phẩm này có gì
độc đáo?
HS tiến hành:
a) Tóm tắt lại tình huống.
b) Bình luận về ý nghĩa
của tình huống
HS nhận xét về ngôn ngữ
nghệ thuật của tác phẩm
mọi sự áp bức, bất công, sẵn sàng làm tất cả vì điều thiện, lẽ
công bằng.
+ Tâm hồn tinh tế: Anh xúc động ngỡ ngàng trước vẻ đẹp
tinh khôi của thuyền biển lúc bình minh. Một người nhạy
cảm như anh tránh sao khỏi nỗi tức giận khi phát hiện ra sự
bạo hành của cái xấu, cái ác ngay sau cảnh đẹp huyền ảo trên
biển
+Hơn bao giờ hết, Phùng hiểu rõ: trước khi là một nghệ sĩ
biết rung động trước cái đẹp, hãy làm ột người biết yêu ghét
vui buồn trước mọi lẽ đời thường tình, biết hành động để có
một cuộc sống xứng đáng với con người.
4. Cách xây dựng cốt truyện độc đáo
5. Ngôn ngữ nghệ thuật của tác phẩm
- Ngôn ngữ người kể chuyện: Thể hiện qua nhân vật
Phùng, sự hóa thân của tác giả. Chọn người kể chuyện như
thế đã tạo ra một điểm nhìn trần thuật sắc sảo, tăng cường
khả năng khám phá đời sống, lời kể trở nên khách quan, chân
thật, giàu sức thuyết phục.
- Ngôn ngữ nhân vật: Phù hợp với đặc điểm tính cách của
từng người.
III. TỔNG KẾT
Vẻ đẹp của ngòi bút Nguyễn Minh Châu là vẻ đẹp toát ra
từ tình yêu tha thiết đối với con người. Tình yêu ấy bao hàm
cả khát vọng tìm kiếm, phát hiện, tôn vinh những vẻ đẹp con
người còn tiềm ẩn, những khắc khoải, lo âu trước cái xấu, cái
ác. Đó cũng là vẻ đẹp của một cốt cách nghệ sĩ mẫn cảm, đôn
hậu, điềm đạm chiêm nghiệm lẽ đời để rút ra những triết lí
nhân sinh sâu sắc. Chiếc thuyền ngoài xa là một trong số rất
nhiều tác phẩm của Nguyễn Minh Châu đã đặt ra những vấn
đề có ý nghĩa với mọi thời, mọi người.
V. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
Sau hai năm kiên trì sử dụng kĩ thuật dạy học tích cực trong các giờ đọc -
hiểu văn bản văn học, tôi nhận thấy không khí các giờ học được cải thiện đáng kể.
Số lượng học sinh xung phong phát biểu xây dựng bài cũng như số học sinh trả lời
được câu hỏi do giáo viên nêu ra ngày càng nhiều hơn. Một số em thì thực sự thích
học môn Ngữ Văn.
Đặc biệt, qua việc xây dựng và lập kế hoạch trong khi ôn tập củng cố lại
kiến thức, khả năng nắm bắt và kiến thức về tác phẩm của nhiều học sinh được mở
24
rộng, khắc sâu. Nhờ thế, các em có vốn liếng văn học nhất định để làm tốt các bài
nghị luận văn học. Điểm số của các bài Làm văn cũng như điểm số môn Ngữ Văn
của các em được cải thiện đáng kể. Ở các lớp tôi phụ trách, tỷ lệ học sinh có điểm
12A12 50 1 2 38 76 1 2 8 16
Sau khi thực nghiệm:
Lớp
Sĩ
số
Không
hiểu bài
Hiểu bài
Không
hứng thú
Hứng thú
Số
lượng
%
Số
lượng
%
Số
lượng
%
Số
lượng
%
12A11 48 2 4.2 36 75 2 4.2 8 16.6
12A12 50 0 0 40 80 0 0 10 20
Kết quả chất lượng kiểm tra
1. Năm học 2011- 2012 (Lớp: 12A11 và 12A12)
Số lượng và tỷ lệ
điểm trên trung
bình trở lên