Đánh giá khả năng sinh sản, sinh trưởng và cho thịt của hai dòng ngan thuần VS1, v72 và con lai thương phẩm hướng thịt VS172 - Pdf 28

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI








TẠ THỊ HƯƠNG GIANG

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH SẢN, SINH TRƯỞNG
VÀ CHO THỊT CỦA HAI DÒNG NGAN THUẦN VS1, V72
VÀ CON LAI THƯƠNG PHẨM HƯỚNG THỊT VS172 LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành : CHĂN NUÔI
Mã số : 60.62.40
Tạ Thị Hương Giang

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………

ii

LỜI CẢM ƠN

Có được công trình nghiên cứu này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và kính
trọng sâu sắc tới Ban Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Gia cầm Thụy Phương
- Viện Chăn nuôi, Khoa sau Đại học và Khoa Chăn nuôi - Thủy sản - Trường
Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho
tôi trong quá trình học tập và thực tập, thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn TS. Phùng Đức Tiến - Giám đốc Trung tâm
Nghiên cứu Gia cầm Thụy Phương, PGS. TS Phan Xuân Hảo đã đầu tư nhiều
công sức và thời gian chỉ bảo tận tình tôi thực hiện đề tài và hoàn thành luận
văn. Các Thầy, Cô giáo Bộ môn Chăn nuôi Chuyên khoa - Khoa Chăn nuôi
Thủy sản - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã động viên tinh thần trong


Danh mục hình vii

1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu của đề tài 2

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Cơ sở lý luận của đề tài 3

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 34

3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 43

3.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 43

3.2 Nội dung nghiên cứu 43

3.3 Phương pháp nghiên cứu 43

4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 54

4.1 Trên đàn ngan sinh sản 54



4.2.5 Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể 82

4.2.6 Chỉ số sản xuất (PN), chỉ số kinh tế (EN) 84

4.2.7 Năng suất thịt và chất lượng thịt 86

4.2.8 Kết quả sản xuất thịt hơi của 1 ngan mái mẹ 89

4.2.9 Hiệu quả kinh tế 90

5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 92

5.1 Kết luận 92

5.2 Đề nghị 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

PHỤ LỤC 103Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………

v

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

LTATN Lượng thức ăn thu nhận
ME Năng lượng trao đổi

3.3 Chế độ dinh dưỡng nuôi ngan 45

4.1 Tỷ lệ nuôi sống giai đoạn con, dò, hậu bị (đvt: %) 55

4.2 Khối lượng cơ thể ngan giai đoạn ngan con, dò, hậu bị (đvt: g) 56

4.3 Lượng thức ăn tiêu thụ cho 1 ngan bố mẹ từ 1-24 tuần tuổi (đvt: kg) 58

4.4 Tuổi đẻ, khối lượng trứng của ngan 61

4.5 Khối lượng cơ thể ngan mái ở 25-38 tuần tuổi (g) 63

4.6 Năng suất trứng/chu kỳ 1 và thức ăn tiêu tốn/10 trứng 65

4.7 Kết quả khảo sát chất lượng trứng 67

4.8 Tỷ lệ trứng có phôi và kết quả ấp nở 69

4.9 Kích thước một số chiều đo (đvt:cm) 71

4.10 Tỷ lệ nuôi sống qua các tuần tuổi (đvt: %) 72

4.11 Khối lượng cơ thể qua các tuần tuổi (đvt:g) 73

4.12 Sinh trưởng tuyệt đối, sinh trưởng tương đối ngan thương phẩm 77

4.13 Hệ số tốc độ sinh trưởng 80

4.14 Tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng (đvt: kg) 82Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………

1

1. MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi thuỷ cầm ở nước ta nói chung và chăn nuôi ngan nói riêng
trong những năm qua đã có những bước phát triển nhanh chóng. Từ chăn nuôi
phân tán, quy mô nhỏ, tự cung tự cấp chuyển sang chăn nuôi tập chung với
quy mô lớn.
Các dòng ngan Pháp có năng suất, chất lượng cao, phù hợp với yêu cầu
của sản xuất đã và đang phát triển mạnh ở nước ta, góp phần tích cực đưa tổng
đàn ngan toàn quốc đạt 14 triệu con năm 2003.
Song trong điều kiện nền kinh tế nước ta còn nhiều khó khăn, giá nhập
ngan giống rất cao (80-85 USD/một ngan ông bà) cho nên không thể thường
xuyên nhập được các giống ngan mới, hơn nữa các dòng ngan mới nhập về mỗi
dòng chỉ có một giới tính, sau một chu kỳ khai thác phải tiếp tục nhập.
Để bảo tồn, nâng cao chất lượng nguồn gen giống ngan đã có, đồng thời
nhằm giảm bớt kinh phí đầu tư nhập giống và từng bước chủ động được con
giống, Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương đã tiến hành chọn tạo được
6 dòng ngan giá trị kinh tế cao qua 3 thế hệ trong đó có 2 dòng ngan VS1 và
V72 có năng suất cao hơn các dòng ngan hiện tại 6 - 8%, phù hợp với chăn
nuôi trang trại và thị hiếu người tiêu dùng.
Tuy nhiên các đặc điểm di truyền và tính trạng sản xuất của các dòng
ngan vẫn chưa ổn định. Do đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã
cho phép tiếp tục nghiên cứu chọn tạo 6 dòng ngan giá trị kinh tế cao thêm 2 Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………

3

2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Cơ sở lý luận của đề tài
2.1.1. Cơ sở lý luận về đặc điểm ngoại hình của gia cầm
Các đặc điểm về ngoại hình của gia cầm là những đặc trưng cho giống,
thể hiện khuynh hướng sản xuất và giá trị kinh tế của vật nuôi.
2.1.1.1. Đặc điểm ngoại hình
Sơ khai ngan có 2 màu đen và trắng, sau quá trình thuần hóa ngan có
nhiều màu khác nhau: trắng, đen, nâu và xanh. Ngan có đầu nhỏ, trán phẳng.
Mào có màu đỏ tía, ở con trống mào to, rộng hơn con mái. Khác với vịt, tiếng
kêu của ngan khàn gần như câm, có mống thịt ở gốc mỏ màu rượu vang kéo
dài đến tận sau mang tai, mắt sáng, dáng đi nặng nề và chắc chắn. Mỏ ngan
dẹt, dễ tiếp xúc với thức ăn dưới nước và đưa vào miệng dễ dàng. So với vịt
tính bầy đàn của ngan kém hơn, hiền lành và chậm chạp hơn.
2.1.1.2. Sự mọc lông
Tốc độ mọc lông cũng là một trong những đặc tính di truyền liên quan
đến trao đổi chất, sinh trưởng và phát triển của gia cầm. Đây là một chỉ tiêu
phản ánh tính thành thục sinh dục. Biến dị di truyền về sự mọc lông cũng phụ
thuộc vào giới tính. Trong một dòng mọc lông nhanh, thì con mái mọc lông
đều hơn con trống. Điều này liên quan đến hoocmon, vì hoocmon có tác động
ngược chiều với gen liên kết giới tính quy định sự mọc lông nhanh.
Theo Phan Cự Nhân (1971) [32], Phan Sỹ Điệt (1975) [10], Trần Đình

các chiều đo có mối tương quan dương với tỷ lệ (%) thịt ức của ngan, vịt và
ngỗng. Đặc biệt cho đến nay người ta không thấy mối tương quan giữa độ dày
cơ ngực với tỷ lệ da và lớp mỡ dưới da. Bochno và cộng sự (1978), Boesting
(1981) cũng xem độ dày cơ ngực như là một chỉ số quan trọng để đánh giá
chất lượng thịt. Ngoài ra, Phùng Đức Tiến và cộng sự (2004) [48] còn đề
nghị, cần chú ý đến cả chu vi lườn. Theo ông các giống vịt thịt lúc 49 ngày,
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………

5

chu vi lườn biến động từ 32,5 - 35,7cm, chiều dài lườn từ 12,3 - 14,6cm, độ
dày cơ lườn từ 1,4 - 1,9cm.
Độ dài chân cũng là một chỉ số đáng tin cậy để chọn lọc. Theo Phùng
Đức Tiến và cộng sự (2004) [48] chỉ số này biến động từ 61,2 - 65,2mm ở vịt
Bắc kinh. Cũng theo tác giả này, giới tính ảnh hưởng có ý nghĩa đến độ dài
chân và khối lượng thịt. Ở nước ta hiện nay các nhà chăn nuôi thường dùng
các chiều đo dài thân, dài lườn, vòng ngực, sâu ngực, cao chân để nghiên cứu,
đánh giá tốc độ sinh trưởng và là cơ sở để chọn lọc kiểu hình giống thủy cầm.
2.1.2. Tính trạng sản xuất của gia cầm
2.1.2.1. Bản chất di truyền của các tính trạng sản xuất
Khi nghiên cứu các tính trạng về tính năng sản xuất của gia cầm , được
nuôi trong điều kiện cụ thể, thực chất là nghiên cứu các đặc điểm di truyền số
lượng và ảnh hưởng của những tác động môi trường lên tính trạng đó. Hầu hết
các tính trạng về năng suất của gia súc, gia cầm như sinh trưởng, sinh sản,
mọc lông, tăng trưởng thịt, đẻ trứng đều là tính trạng số lượng. Cơ sở di
truyền của các tính trạng số lượng cũng là do các gen nằm trên nhiễm sắc thể
quy định. Theo Nguyễn Ân và cộng sự (1983) [3], các tính trạng sản xuất là
các tính trạng số lượng, thường là các tính trạng đo lường như khối lượng cơ
thể, kích thước các chiều đo, sản lượng trứng, khối lượng trứng…
Khác với các tính trạng chất lượng, tính trạng số lượng chịu ảnh hưởng

động lên toàn bộ các cá thể trong nhóm vật nuôi. Loại yếu tố này có tính chất
thường xuyên như: thức ăn, khí hậu,…
- Sai lệch môi trường riêng (Es) là sai lệch do các yếu tố môi trường tác
động riêng rẽ lên từng cá thể trong nhóm vật nuôi, hoặc ở một giai đoạn nhất
định trong cuộc đời con vật. Loại này có tính chất không thường xuyên. Nếu
bỏ qua mối tương tác giữa di truyền và ngoại cảnh thì quan hệ của kiểu hình
(P), kiểu gen (G) và môi trường (E) của một cá thể biểu thị cụ thể:
P = A + D + I + Eg + Es.
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………

7

Qua phân tích cho thấy các giống gia cầm, cũng như các giống sinh vật
khác, con cái đều nhận được ở bố mẹ một số gen quy định tính trạng số lượng
nào đó. Tính trạng đó được xem như nhận từ bố mẹ một khả năng di truyền,
nhưng khả năng đó phát huy được hay không còn phụ thuộc vào môi trường
sống như: chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý…
Người ta có thể xác định các tính trạng số lượng qua mức độ tập chung
(
X
), mức độ biến dị (Cv%), hệ số di truyền của các tính trạng (h
2
), hệ số lặp
lại của các tính trạng (R), hệ số tương quan (r) giữa các tính trạng,…
2.1.2.2. Tỷ lệ nuôi sống
Tỷ lệ nuôi sống của gia cầm khi nở là chỉ tiêu chủ yếu đánh giá sức sống
của gia cầm. Tỷ lệ nuôi sống được xác định bằng tỷ lệ phần trăm số cá thể còn
sống ở cuối giai đoạn so với các cá thể ở đầu giai đoạn. Khavecman (1972)
[21] cho rằng cận huyết làm giảm tỷ lệ nuôi sống, ưu thế lai làm tăng tỷ lệ
nuôi sống. Có thể nâng cao tỷ lệ nuôi sống bằng biện pháp nuôi dưỡng tốt, vệ

* Năng suất trứng
+ Cơ sở di truyền của năng suất trứng
Sinh sản là chỉ tiêu cần được quan tâm lâu dài trong công tác giống gia
cầm, nhằm tăng số lượng và chất lượng con giống.
Đối với gia cầm sự di truyền về sinh sản rất phức tạp. Theo các công
trình nghiên cứu của nhiều tác giả, việc sản xuất trứng của gia cầm có thể do
5 yếu tố ảnh hưởng mang tính di truyền.
- Tuổi thành thục về sinh dục
Tuổi đẻ quả trứng đầu là một chỉ tiêu đánh giá sự thành thục sinh dục,
cũng được coi là một yếu tố cấu thành năng suất. Tuổi đẻ quả trứng đầu được
xác định bằng số ngày kể từ khi ngan nở đến khi ngan đẻ trứng lần đầu. Theo
Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường (1992) [28] có ít nhất 2 cặp gen cùng qui
định, cặp thứ nhất E và e liên kết với giới tính, cặp thứ hai E’ và e’. Gen trội E
chịu trách nhiệm tính thành thục về sinh dục. Các tác giả này cho rằng có mối
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………

9

tương quan nghịch giữa tuổi đẻ và năng suất trứng, tương quan thuận giữa
tuổi đẻ và khối lượng trứng
Gudeil, Lerner và một số tác giả cho rằng: có các gen trên nhóm nhiễm
sắc thể giới tính cùng tham gia hình thành tính trạng này dẫn theo Khavecman
(1972) [21].Tuổi đẻ quả trứng đầu phụ thuộc vào chế độ nuôi dưỡng, các yếu
tố môi trường đặc biệt là thời gian chiếu sáng dài sẽ thúc đẩy gia cầm đẻ sớm
[(Khavecman, 1972) dẫn theo Phạm Minh Thu, 1996] [43].
Theo tài liệu nghiên cứu của hãng Grimaud Frères thì ngan Pháp đẻ
trứng ở đầu tuần tuổi thứ 28, tăng lên nhanh ở tuần thứ 29, đẻ 50% ở tuần thứ
30 và tỉ lệ đẻ đỉnh cao ở tuần thứ 34.
Theo kết quả nghiên cứu của Bùi Quang Tiến và cộng sự (1999) [44],
với điều kiện chăn nuôi ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam ngan Pháp đã đẻ trứng

và thời gian nghỉ đẻ ngắn, còn những gia cầm đẻ kém có dấu hiệu ngược
lại. Nói chung, thời gian kéo dài chu kỳ đẻ trứng sinh học có tính di
truyền phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau nhất là chế độ chăm sóc,
dinh dưỡng, mùa vụ.
Yếu tố thứ 5 và yếu tố thứ nhất là hai yếu tố kết hợp với nhau, cũng có
nghĩa là các cặp gen Pp và Ee có phối hợp với nhau.
Tất nhiên ngoài các gen chính tham gia vào việc điều khiển các yếu tố trên,
có thể còn có nhiều gen khác nhau phụ lực vào. Ngoài 5 yếu tố di truyền cá thể,
sức đẻ trứng còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác như dòng, giống gia cầm, tuổi
gia cầm đẻ, mùa vụ, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, tiểu khí hậu chuồng
nuôi Trong đó đáng quan tâm là ảnh hưởng của mùa vụ và chế độ dinh dưỡng.
- Ảnh hưởng của mùa vụ
Mùa vụ có ảnh hưởng nhất định đến tuổi thành thục sinh dục, do đó ảnh
hưởng đến khả năng sản xuất trứng của thủy cầm. Chu kỳ ánh sáng tự nhiên giữ
một vai trò vô cùng quan trọng trong sự điều chỉnh chu kỳ sinh sản hàng năm
của gia cầm. Theo Croutte cho biết ngan mái nở vào mùa thu (ngày ngắn) sẽ đẻ
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………

11

sớm hơn ngan ngan mái đẻ vào mùa xuân (ngày dài).
- Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng
Dinh dưỡng và chế độ chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởng đến sản lượng
trứng ấp. Nguyễn Chí Bảo (1978) [13] cho biết: hàm lượng protein và vitamin
trong thức ăn ảnh hưởng đến sự tạo thành tinh dịch. Từ lâu người ta đã biết, chất
lượng tinh dịch phụ thuộc vào sự có mặt của vitamin A. Các chất dinh dưỡng
trong thức ăn ảnh hưởng quyết định đến sự hình thành trứng. Nếu thiếu hoặc
hoàn toàn không có mặt một vài chất dinh dưỡng, muối khoáng, các chất có hoạt
tính sinh học thì gia cầm có thể hoàn toàn ngừng đẻ. Theo Bùi Quang Toàn và
cộng sự (1975) [55] cho biết trứng ấp từ đàn gia cầm nuôi thiếu dinh dưỡng cho

gia cầm ăn hạn chế trong giai đoạn con, dò, hậu bị để đảm bảo năng suất
trứng trong giai đoạn sinh sản. Năng suất trứng phụ thuộc nhiều vào số lượng
và chất lượng thức ăn, phụ thuộc vào mức năng lượng, hàm lượng protein và
các thành phần khác trong khẩu phần thức ăn (Bùi Thị Oanh (1996) [33]).
Năng suất trứng có hệ số di truyền không cao, dao động lớn. Theo Hutt,
(1978) [12] cho biết hệ số tương quan giữa sản lượng trứng 3 tháng đầu với
sản lượng trứng cả năm là rất chặt chẽ (từ 0,7-0,9).
Về tỷ lệ đẻ gia cầm có tỷ lệ đẻ thấp trong mấy tuần đầu của chu kỳ đẻ,
sau đó tăng dần và đạt tỷ lệ cao ở những tuần tiếp theo rồi giảm dần và đạt tỷ
lệ thấp ở cuối thời kỳ sinh sản.
* Khối lượng trứng, chỉ số hình dạng và chất lượng trứng
+ Khối lượng trứng
Là một tính trạng số lượng chịu ảnh hưởng của một số lượng lớn các
gen. Cho đến nay, người ta xác định được chính xác số lượng gen quy định số
lượng trứng, vì ngoài các yếu tố trực tiếp khối lượng trứng còn do các yếu tố
gián tiếp tác động như: Khối lượng cơ thể ngan mái khi thành thục sinh dục;
chế độ chăm sóc nuôi dưỡng. Trong khái niệm “năng suất” ở gia cầm sinh
sản, có hai yếu tố hợp thành đó là số lượng trứng đẻ ra và khối lượng trứng.
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………

13

Nghiên cứu trên ngan, Jonhason (1972) [20] đã phát hiện: thể trọng ngan tăng
thì khối lượng trứng tăng, song mối tương quan này không phải là mối tương
quan tuyến tính, bởi vì những giống gia cầm nặng cân nhiều khi có thể trọng
gấp đôi giống nhẹ cân, song trứng đẻ ra chỉ cao hơn 1/3 (dẫn theo Phan Sĩ
Điệt, 1975 [10]), đã tìm thấy mối quan hệ giữa 3 tính trạng: tuổi thành thục
sinh dục, khối lượng trứng và khối lượng cơ thể. Hệ số di truyền về khối
lượng trứng khá cao h
2

là 0,03 - 0,15 và 0,27. Ngoài ra độ dày vỏ trứng còn chịu tác động của của
môi trường như thức ăn, tuổi, nhiệt độ xung quanh, stress và nhiều nhân tố
khác (Phùng Đức Tiến và cộng sự, 2004 [48]).
Lê Thị Thuý (1993) [41], nghiên cứu trên trứng ngan nội cho biết độ dày
vỏ đạt từ 0,44 - 0,49 mm. Vì trứng có vỏ dày nên thực tế trứng ngan ít dập vỡ
hơn nhiều so với trứng gà, trứng vịt. Và đây cũng có thể là một nguyên nhân
làm cho thời gian ấp của trứng ngan là dài nhất.
+ Bề mặt vỏ trứng
Thông thường trứng gia cầm đẻ ra có bề mặt trơn, đều, song bên cạnh đó
cũng có một số cá thể thường đẻ ra những trứng có bề mặt xấu, xù xì, có vệt
canxi hay đường gờ lượn sóng, loại trứng này có ảnh hưởng xấu đến tỷ lệ ấp
nở cũng như thị hiếu của người tiêu dùng.
+ Chất lượng trứng
Khi đánh giá chất lượng trứng, cần đặc biệt chú ý đến chỉ số lòng đỏ,
lòng trắng và đơn vị Haugh. Các chỉ số này càng cao thì tỷ lệ nở càng lớn và
chất lượng trứng càng tốt (Tạ An Bình, 1973 [5]).
Chỉ số lòng đỏ: chất lượng lòng đỏ được xác định bằng chỉ số lòng đỏ.
Chỉ số lòng đỏ là tỷ số giữa chiều cao lòng đỏ so với đường kính của nó.
Trứng có chỉ số lòng đỏ càng lớn thì chất lượng trứng càng tốt.
Chỉ số lòng trắng: là chỉ tiêu đánh giá chất lượng lòng trắng, chỉ số này
được tính bằng tỷ lệ giữa chiều cao lòng trắng đặc so với trung bình cộng đường
kính lớn và đường kính nhỏ của nó. Chỉ số này càng lớn, chất lượng trứng càng
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………

15

cao. Chỉ số lòng trắng bị ảnh hưởng bởi giống, tuổi và chế độ nuôi dưỡng.
Lòng trắng trứng chủ yếu là albumin, nó là thành phần quan trọng trong
việc cung cấp nước và muối khoáng cho phôi phát triển trong quá trình ấp.
Đối với trứng giống, lòng đỏ không những quan hệ chặt chẽ đến việc

(Bernier và cộng sự, 1951) [57].
Tỷ lệ ấp nở của gia cầm là tính trạng đầu tiên biểu hiện sức sống ở đời
con, đó cũng là thước đo về sự phát triển của phôi và sức sống của gia cầm
con. Trạng thái di truyền của mẹ có thể ảnh hưởng trực tiếp về nhiều mặt
đến tỷ lệ nở. Theo Jonhanson (1972) [20] cho biết, các gen gây chết và nửa
gây chết làm giảm khả năng nở. Trong số 21 gen gây chết đã biết ở gia
cầm, có 16 gen tác động lên khả năng nở gây sự phát triển không bình
thường của phôi. Hệ số di truyền của tính trạng ấp nở rất thấp. Theo
Taylor, Bogart (1988) thì h
2
= 0,1, theo Đặng Hữu Lanh và cộng sự (1985)
hệ số di truyền của tính trạng này là h
2
= 0,26, một số tác giả khác như Hill
và cộng sự (1954) thì h
2
= 0,08. Tỷ lệ nở phụ thuộc rất lớn vào điều kiện
ngoại cảnh, khối lượng trứng, chỉ số hình dạng, thời gian và chế độ bảo
quản trứng như nhiệt độ, ẩm độ, thông thoáng…Hơn nữa tỷ lệ nở còn liên
quan đến cấu tạo trứng. Ngoài ra có sự tương quan giữa diện tích bề mặt
của trứng và sự bốc hơi nước qua vỏ trứng trong thời gian ấp; quả trứng
nhỏ có diện tích bề mặt tương đối lớn so với khối lượng của nó, do đó tỷ lệ
hao hụt khối lượng trong thời gian ấp cao hơn.
2.1.3. Khả năng sinh trưởng, cho thịt và tiêu tốn thức ăn ở gia cầm
2.1.3.1. Khả năng sinh trưởng
* Khái niệm về sinh trưởng
Sinh trưởng là quá trình tích luỹ các chất hữu cơ do quá trình đồng hoá
và dị hoá, là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng các bộ phận
và toàn bộ cơ thể của con vật trên cơ sở tính di truyền của đời trước. Sự sinh
trưởng chính là tích luỹ dần dần các chất mà chủ yếu là protein, nên tốc độ

không có ranh giới. Có phát dục, đồng thời cũng có sinh trưởng và ngược lại.

Trích đoạn Chất lượng trứng Đặc điểm ngoại hỡnh và kớch thước cỏc chiều đo Sinh trưởng tuyệt đối, sinh trưởng tương đố Chỉ số sản xuất (PN), chỉ số kinh tế (EN) Kết quả sản xuất thịt hơi của 1 ngan mỏi mẹ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status