1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ ANH ĐÀO
DƢ LUẬN XÃ HỘI CỦA SINH VIÊN
KHOA LUẬT – ĐẠI HỌC HUỀ VỀ HÔN NHÂN
ĐỒNG GIỚI Chuyên ngành Xã hội học
Mã số: 60 31 03 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Hoa
1.1.1. Khái niệm dư luận xã hội 19
3
1.1.2. Khái niệm sinh viên 21
1.1.3. Khái niệm đồng tính 21
1.1.4. Khái niệm giới 21
1.1.5. Khái niệm hôn nhân 22
1.1.6. Khái niệm hôn nhân đồng giới 22
1.1.7. Khái niệm thái độ 22
1.2. Lý thuyết áp dụng 23
1.2.1. Lý thuyết dán nhãn 23
1.2.2. Lý thuyết xã hội hoá vai trò giới 27
1.3. Khái quát về địa bàn nghiên cứu 28
CHƢƠNG 2: DƢ LUẬN XÃ HỘI CỦA SINH VIÊN KHOA LUẬT – ĐẠI
HỌC HUẾ VỀ VIỆC HỢP PHÁP HÓA HÔN NHÂN ĐỒNG GIỚI 31
2.1. Con đƣờng hình thành dƣ luận xã hội của sinh viên về việc hợp
pháp hóa hôn nhân đồng giới 31
2.1.1. Kênh giao tiếp đại chúng (truyền thông đại chúng) 31
2.1.2. Kênh giao tiếp cá nhân 36
2.2. Thực trạng dƣ luận xã hội của sinh viên về hôn nhân đồng giới 39
2.2.1. Dư luận xã hội của sinh viên về đồng tính 39
2.2.2. Dư luận xã hội của sinh viên về quan hệ sống chung đồng giới 48
2.2.3. Dư luận xã hội của sinh viên về việc hợp pháp hóa hôn nhân đồng
giới 52
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 76
1. Kết luận 76
2. Khuyến nghị 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
PHỤ LỤC 81
6
DANH MỤC BIỂU
Biểu đồ 2.1: Nguồn cung cấp thông tin về việc hợp pháp hóa HNĐG 32
Biểu đồ 2.2: Hiểu biết của sinh viên về nguyên nhân của đồng tính 40
Biểu đồ 2.3: Thái độ của SV đối với việc hai người đồng giới chung sống với
nhau như vợ chồng 50
Biểu đồ 2.4: Tương quan giữa năm học với cách hiểu về HNĐG 57
Biểu đồ 2.5: Thái độ của SV đối với việc hợp pháp hóa HNĐG ở VN 61 7
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tuyên Ngôn Quốc tế về Nhân quyền (1948) đã khẳng định: “Ai cũng
được hưởng những quyền tự do ghi trong bản Tuyên Ngôn này không phân
biệt đối xử vì bất cứ lý do nào, như chủng tộc, màu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn
giáo, chính kiến hay quan điểm, nguồn gốc dân tộc hay xã hội, tài sản, dòng
dõi, hay bất cứ thân trạng nào khác” [24]. Đến ngày 7 tháng 3 năm 2012,
Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Ban Ki-Moon đã có bài phát biểu lịch sử kêu gọi
các quốc gia trên toàn thế giới phi hình sự hóa đồng tính, chấm dứt kỳ thị với
những người đồng tính, song tính và chuyển giới (LGBT). Tuy nhiên hiện
nay, sự kỳ thị đối với người đồng tính vẫn đang diễn ra.
Hiện nay trên thế giới có 15/193 quốc gia công nhận hôn nhân đồng
giới (HNĐG), 76 quốc gia, pháp luật còn phân biệt đối xử và tội phạm hóa
những mối quan hệ đồng giới, người đồng tính bị bắt, truy tố và phạt tù. Khác
với nhiều nước trên thế giới, quan hệ đồng giới ở Việt nam không bị tội phạm
hóa nhưng luật pháp vẫn quy định: “cấm kết hôn giữa những người cùng giới
có AIDS. Đề tài đã khảo sát 92 đồng tính nam có HIV và 330 người bình
thường có HIV. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, những đồng tính nam bị
nhiễm HIV cảm thấy cô đơn, bị phân biệt đối xử. Họ bị mất việc làm, nơi ở.
Tuy chỉ ra được những tác động và hệ quả của quan hệ tình dục không an toàn
nhưng đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu về đồng tính nam và chưa phân tích
sâu về vấn đề kỳ thị và phân biệt đối xử với người đồng tính.
2.1.2. Ở Việt Nam
Vấn đề nghiên cứu về đồng tính ở Việt nam hiện nay chưa nhiều. Tuy
nhiên trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu đã quan tâm nhiều hơn
đến chủ đề “đồng tính”.
9
Đầu tiên phải kể đến nghiên cứu của tác giả Jacob Aronso (2002)
“Tình dục đồng giới ở Hà Nội: Chốn công cộng và tình dục nơi công cộng,
không gian Gay”. Trong nghiên cứu này, Jacob Aronso đã mô tả tình hình
tình dục đồng giới tại Việt Nam và thái độ, nhận thức, phản ứng từ người dân
địa phương về vấn đề đồng tính. Báo cáo nghiên cứu chỉ ra rằng, những người
đồng tính nam ở Việt Nam đang chịu áp lực nặng nề từ phía gia đình và xã
hội; đó chính là những rào cản tâm lý khiến họ không thể sống là chính mình.
Đề tài nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường
(2009) “Sống trong một xã hội dị tính: câu chuyện từ 40 người nữ yêu nữ -
Quan hệ với cha mẹ” đề cập đến câu chuyện của 40 người nữ yêu nữ. “Quan
hệ với cha mẹ” là một cuốn trong bộ báo cáo “Sống trong một xã hội dị tính”.
Nghiên cứu được thực hiện ở Hà Nội từ tháng 03 đến hết năm 2009. Đối
tượng nghiên cứu của đề tài này không xác định đối tượng là nữ tính hay
lesbian mà xác định là những người nữ yêu nữ. Như vậy, có nghĩa là cứ người
nữ mà có yêu người nữ khác thì là đối tượng nghiên cứu, bất kể là người đó
coi mình là người đồng tính luyến ái, lưỡng tính luyến ái hay hoàn toàn không
gọi mình bằng những khái niệm đó. Phương pháp thu thập dữ liệu là phỏng
vấn sâu. Kết quả nghiên cứu đã mô tả một cách chân thật và sống động những
mức độ kỳ thị trong các bài báo…Đây là một nghiên cứu được đánh giá cao
bởi nó đã chỉ ra rằng, một trong những nguyên nhân của nhận thức và thái độ
xã hội về vấn đề đồng tính có thể nằm ở thông điệp mà các phương tiện
truyền thông đại chúng đem lại. Những thông điệp mang tính định kiến sẽ tạo
ra hay củng cố những nhận thức sai lệch và thái độ kỳ thị.
11
2.2. Nghiên cứu dư luận xã hội về hôn nhân đồng giới
2.2.1. Trên thế giới
Ở Mỹ, các cuộc thăm dò gần đây nhất cho thấy phần lớn ủng hộ về hôn
nhân đồng giới, chiếm 50%. Trong hơn một thập kỷ, sự ủng hộ về vấn đề này
đang ngày càng tăng, cao nhất vào năm 2010. Vào 8/2010, kênh truyền hình
CNN đã trở thành nơi đầu tiên có số lượng người ủng hộ hôn nhân đồng tính
lớn nhất. Tuy nhiên, những ý kiến ủng hộ vấn đề này vẫn còn ít ở những tôn
giáo chính thống, những người trẻ, những người có trình độ giáo dục cao. Phụ
nữ thường có sẽ ủng hộ nhiều hơn nam giới.
Trường đại học Quinnipiac (2013) đã tiến hành khảo sát hôn nhân đồng
giới. Kết quả cho thấy, có 56% người Mỹ trưởng thành và 57% ủng hộ hôn
nhân đồng tính trong khi đó 36% không ủng hộ. Số liệu khảo sát của tờ Post-
ABC cho thấy có 55% người Mỹ ủng hộ hôn nhân đồng giới trong khi 40%
không ủng hộ.
Bài viết của tác giả Lydia Saad (2013) về “quan điểm hôn nhân đồng
tính”. Phương pháp điều tra được thực hiện bằng cách phỏng vấn qua điện
thoại trong thời gian từ 10-14/7/2013 với tỷ lệ mẫu ngẫu nhiên của 2027
người trưởng thành, sinh sống ở tất cả 50 bang của Mỹ. Kết quả dựa trên tổng
số mẫu của người trưởng thành, 95% tin tưởng vào sai số lấy mẫu là +- 3
điểm phần trăm. Với câu hỏi “Bạn nghĩ rằng nên pháp luật nên ủng hộ hôn
nhân của những cặp đồng tính hay không?”, câu trả lời được thể hiện qua
biểu đồ 1. Kết quả khảo sát cho thấy, có ít nhất 60% người dân ủng hộ hợp
pháp hóa hôn nhân đồng giới trên toàn quốc bao gồm Đảng Dân chủ, người
Nam chưa có công trình nào nghiên cứu dư luận xã hội về hôn nhân đồng
giới, đặc biệt là dư luận của sinh viên. Việc nghiên cứu dư luận xã hội sẽ giúp
hiểu rõ hơn quan điểm, nhận thức, đánh giá của SV về hôn nhân đồng giới.
3. Ý nghĩa nghiên cứu
13
3.1. Ý nghĩa lý luận
Nghiên cứu này được tiến hành thông qua việc vận dụng một số khái
niệm, lý thuyết như: khái niệm đồng tính, khái niệm hôn nhân đồng giới, khái
niệm dư luận xã hội; lý thuyết xã hội hóa vai trò giới, lý thuyết dán nhãn, để
tìm hiểu DLXH của SV về hôn nhân đồng giới như: nhận thức của sinh viên
về đồng tính, HNĐG; quan niệm của họ về ủng hộ hay không ủng hộ hôn
nhân đồng giới, Qua đó, phần nào làm sáng tỏ hơn những lý thuyết đã được
vận dụng.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu được thực hiện nhằm góp phần phác họa những ý kiến,
đánh giá, phản ứng của dư luận về HNĐG. Kết quả nghiên cứu có thể được
dùng làm tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu và các nhà quản lý xã
hội; góp phần đưa ý kiến của SV vào việc sửa đổi Luật Hôn nhân và Gia đình.
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu với mục đích làm sáng tỏ dư luận xã hội của sinh
viên về hôn nhân đồng giới. Từ đó, đưa ra các kiến nghị của SV về vấn đề
hợp pháp hóa HNĐG ở Việt Nam.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu con đường hình thành dư luận xã hội của sinh viên về HNĐG.
Phân tích thực trạng dư luận xã hội của sinh viên về HNĐG.
Đưa ra các khuyến nghị của SV về hình thức chung sống đồng giới và quyền
của những cặp đôi đồng giới sống chung.
5. Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
Thực trạng DLXH của sinh viên cụ thể như sau: Sinh viên đã có những
hiểu biết tương đối chính xác về nguyên nhân, biểu hiện của người đồng tính;
tỷ lệ sinh viên ủng hộ việc hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới nhiều hơn so với
phản đối.
15
Sống chung có đăng ký là giải pháp được phần lớn SV lựa chọn khi
hôn nhân đồng giới chưa được công nhận ở Việt Nam.
7. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp luận
Nghiên cứu này được thực hiện trên cơ sở các nguyên tắc của Chủ
nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng để lý giải các hiện
tượng, hoạt động được nghiên cứu giúp người nghiên cứu trong quá trình nhìn
nhận, đánh giá các vấn đề xã hội của đề tài.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng với quan niệm mọi sự vật, hiện tượng
đều nằm trong mối quan hệ qua lại, không một sự vật, hiện tượng nào có thể
tồn tại một cách độc lập, riêng rẽ. Chủ nghĩa Mác đã chỉ rõ, dư luận xã hội
thuộc lĩnh vực tinh thần, phản ánh thực tế của xã hội. Dư luận xã hội lại có tác
động đến tồn tại xã hội. Những đánh giá, ý kiến của dư luận xã hội sẽ giúp họ
lựa chọn những phương án hành động để thúc đẩy hoặc hạn chế vấn đề mà họ
đang quan tâm.
Bên cạnh đó, theo quan niệm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, tất cả sự
vật hiện tượng đều tồn tại trong một không gian, thời gian xác định và luôn
vận động và biến đổi. Việc những nhà lập pháp đưa ra dự thảo sửa đổi một số
điều trong Luật Hôn nhân và gia đình là sự phản ánh thực tiễn về cuộc sống
của những người đồng tính nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Vì vậy, việc thực hiện đề tài này trên cơ sở nguyên tắc của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử sẽ là định hướng đúng đắn
cho người nghiên cứu trong quá trình nghiên cứu đề tài.
7.2. Phương pháp nghiên cứu
Nam
Nữ
Tổng
theo
giới
% mỗi
năm
Năm 1
SL
139
304
443
27
73
184
257
32
%
31
69
100
28
72
100
Năm 2
SL
153
288
441
27
149
271
420
26
%
35
65
100
Tổng
552
1083
1635
100
240
566
806
100
Dung lượng mẫu: Do sự hạn chế về nguồn lực, nghiên cứu sẽ tiến hành
phòng vấn 365 sinh viên (với độ tin cậy là 95% và sai số chọn mẫu là 0,05,
17
trong đó đã bao gồm 10% lượng mẫu phụ). Công thức tính dung lượng mẫu
Luật
Luật kinh tế
Nam
Nữ
Tổng theo năm
Nam
Nữ
Tổng theo năm
Năm 1
21
45
66
11
27
38
Năm 2
23
43
66
16
34
50
Năm 3
17
33
50
9
23
32
9. Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm có 3 phần: Phần mở đầu, Phần nội dung và Phần kết
luận. Phần nội dung gồm 2 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của
đề tài; Chương 2: Thực trạng dư luận xã hội của sinh viên khoa Luật – Đại
học Huế về hôn nhân đồng giới.
- Điều kiện KT-CT-XH
- Dự thảo sửa đổi, bổ
sung Luật HN&GĐ
Dư luận xã hội của SV về
hôn nhân đồng giới
- Hiểu biết
- Đặc điểm
cá nhân:
19
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Khái niệm công cụ của đề tài
1.1.1. Khái niệm dư luận xã hội
Dư luận xã hội hay còn gọi là công luận xã hội là một trong những hiện
tượng tinh thần xã hội từ lâu đã được sử dụng khá phổ biến bởi các nhà tâm lý
học, xã hội học cũng như các nhà chính trị. Nhà văn, nhà hoạt động xã hội
người Anh Jonsonberi là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ này vào năm 1159
và cho đến thế kỷ XVIII thuật ngữ này được mọi người công nhận.
Thuật ngữ DLXH còn có những cách gọi khác như công luận, dư luận
công chúng, ý kiến công luận, ý kiến quần chúng [10, tr.44].
Dư luận xã hội được hiểu là sự thể hiện tâm trạng xã hội, phản ánh sự
đánh giá của các nhóm xã hội lớn, của nhân dân nói chung về các sự kiện,
hiện tượng. Khi một sự kiện xã hội xuất hiện và tác động đến số đông thì mỗi
người trong đó nêu ý kiến thể hiện sự đánh giá của mình. Từ đó trong các
nhóm nhỏ xuất hiện các ý kiến tập thể do sự tương tác ý kiến giữa các cá
nhân, sau đó mới trở thành dư luận xã hội trong các nhóm xã hội lớn.
Như vậy, trong đề tài này, DLXH của SV về HNĐG chính là sự đánh
giá, thái độ của SV về việc hợp pháp hóa HNĐG.
Chủ thể của DLXH
Chủ thể của DLXH là đơn vị xã hội mà ý kiến được coi là dư luận (ý
kiến) xã hội chứ không phải là một dạng ý kiến nào khác.
Có thể chia các cách tiếp cận về chủ thể của DLXH thành hai nhóm
quan điểm. Nhóm thứ nhất xem xét về chủ thể của DLXH theo cấp độ của hệ
thống xã hội. Trong nhóm này có ba dạng ý kiến.
Cấp độ toàn hệ thống xã hội.
Cấp độ các giai cấp tập đoàn lớn trong xã hội.
lĩnh vực công cộng.
Nguồn kiểm chứng về
Vấn đề của tin đồn có
thể là những vấn đề của
cá nhân và cũng có thể
là những vấn đề công
21
vấn đề DLXH có thể
thông qua hai nguồn:
các cơ quan chức năng
và các phương tiện
truyền thông đại chúng
cộng. Khó kiểm chứng
về vấn đề tin đồn đề cập
đến
Mức độ tham gia của
yếu tố tinh thần
Mức độ tham gia cao
Mức độ tham gia thấp
Kênh phổ biến
Chủ yếu qua kênh
truyền thông đại chúng
Chủ yếu qua kênh giao
tiếp cá nhân
Tính ổn định
Có sự ổn định cao hơn,
khó thay đổi hơn
Dễ thay đổi hơn
Hôn nhân đồng giới là hôn nhân giữa hai người có cùng giới tính. Là
hình thức kết đôi có đăng ký với Nhà nước, được cấp giấy chứng nhận đăng
ký kết hôn với đầy đủ tất cả những quyền, nghĩa vụ và sự công nhận pháp lý
như những cặp khác giới.
1.1.7. Khái niệm thái độ
Thuật ngữ thái độ có nhiều cách định nghĩa khác nhau. Theo Từ điển
Tiếng Việt, thái độ là tổng thể nói chung những biểu hiện ra bên ngoài (bằng
nét mặt, cử chỉ, lời nói…) của ý nghĩ, tình cảm với ai hoặc với sự việc nào đó,
cách nghĩ, cách nhìn, cách hành động theo một hướng nào đó trước một vấn
đề, một tình hình.
Gordon Allport (1991), một trong những người thành lập ra trường phái
nghiên cứu về thái độ đã nhấn mạnh tầm quan trọng của thái độ, giúp cho việc
giải thích trước sau như một hành vi của người nào đó. Theo ông đặc trưng
của thái độ là sự sẵn sàng trong phản ứng, là trạng thái tinh thần hay thần kinh
sẵn sàng. Nó được cấu tạo thông qua kinh nghiệm, ảnh hưởng trực tiếp hay
23
gián tiếp đến phản ứng của cá nhân đối với tất cả các đối tượng hay hoàn cảnh
mà nó liên quan.
Theo Shaver thì thái độ là: “một tâm thế ủng hộ hay phản đối đối với
một nhóm đối tượng nhất định” hay theo Fishbein và Aizen: “thái độ là một vị
trí trong thang lưỡng cực về tình cảm hoặc đánh giá”. [10, tr.163-164]
Theo Krech và Crutchfield, thái độ có cấu trúc như sau:
Thành phần tri thức: cho chúng ta biết thông tin về đối tượng (cái gì, ở
đâu, khi nào, như thế nào, của ai…)
Thành phần tình cảm: chỉ rõ yêu hay ghét, ủng hộ hay phản đối hay
một tâm trạng “nước đôi” với vấn đề hoặc đối tượng được đề cập đến
Thành phần hành vi: sẽ chỉ dẫn cho cá nhân phải làm thế nào với vấn
đề hoặc đối tượng của thái độ.
Trong nghiên cứu này, tác giả nghiên cứu thái độ của SV đối với việc
thức về sự không chắc chắn trong họ. Họ cảm thấy bị gán cho là lệch lạc bất
chấp những phủ nhận của họ và trở thành xấu xa vì họ bị xác định là xấu xa.
Kết quả lâu dài của quá trình dán nhãn là khóa các cá nhân vào những
vai trò sai lệch và hướng họ dọc theo những tiến trình hoặc sự nghiệp sai lệch
bằng cách đóng lại những cơ hội và buộc họ dựa vào những nhóm xã hội mà
qua những nhóm đó họ sẽ kéo dài mãi lệch lạc của họ. Từ đó củng cố và xác
định một cương vị “người ngoài cuộc” và một hình ảnh - tự thân tiêu cực và
ngăn ngừa khả năng lánh xa sự sai lệch của họ. Xã hội đã tạo nên sự sai lệch
do việc gán các nhãn lệch lạc và có thể sản sinh ra nhiều sự lệch lạc hơn là
ngăn chặn nó.
Có thể coi hành vi lệch lạc sơ cấp là cái dẫn đến sự dán nhãn, còn hành
vi lệch lạc thứ cấp là kết quả của sự dán nhãn.
Hành vi lệch lạc sơ cấp
25
Hành vi lệch lạc sơ cấp liên quan đến việc xác định, chuẩn đoán trạng
thái, hành vi của người có hành vi sai lệch, đó là một quá trình xem xét căn bệnh
cho các cá nhân, phân loại theo đó các cá nhân bị dán nhãn là ốm hay khỏe
mạnh. Sự dán nhãn như là một phương thức tạo ra các căn bệnh chứ không phải
nguyên nhân của các căn bệnh. Ở đây, đồng tính là một căn bệnh mà dù đã được
Tổ chức Y tế Thế giới xem không phải là một loại bệnh nhưng xã hội vẫn đang
có sự kỳ thị đối với những người đồng tính. Mọi người trong xã hội chưa có
những kiến thức hiểu biết về người đồng tính mà xem người đồng tính như là
một sự sai lệch xã hội, như một căn bệnh. Họ không biết và cũng không cần biết
đến nguyên nhân của đồng tính mà cứ chăm chăm nhìn vào vẻ bề ngoài, cách
biểu hiện của những người đồng tính để gán cho những các mác như “pê đê”, “ái
nam ái nữ”, “xăng pha nhớt”… Xã hội xem đồng tính là một thứ bệnh hoạn, do
ăn chơi đua đòi chứ không phải là nguyên nhân bẩm sinh.
Như vậy, sự dán nhãn ở xu hướng lệch lạc sơ cấp là một phương thức
theo đó trạng thái bình thường được xác nhận lại và người có xu hướng lệch lạc