Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở tỉnh Bình Dương - Pdf 28


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

BÙI THỊ MỸ HẠNH

PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƢỢNG CAO
Ở TỈNH BÌNH DƢƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Hà Nội – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ


Hà Nội – 2015
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng
dẫn của TS. Lê Thị Hồng Điệp.
Các số liệu, tài liệu nêu ra trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách
quan, khoa học. Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng.

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

STT
Ký hiệu
Nguyên nghĩa
1
CLC
Chất lượng cao
2
CNH, HĐH

STT
Số
hiệu
Tên bảng
Trang
1
2.1
Tỷ trọng lực lượng lao động đã qua đào tạo chia theo
trình độ chuyên môn kỹ thuật thời kỳ 2007-2010
39
2
2.2
Thực trạng chuyển dịch lao động từ khu vực Nhà
nước sang tư nhân tại một số tỉnh, thành, bộ, ngành ở
Việt Nam (từ 2005-2010)
50
3
2.3
Tỷ lệ lao động xin thôi việc so với tổng số lao động
hiện có trong khu vực nhà nước ở một số địa phương
52
4
2.4
Trình độ chuyên môn của lao động trong khu vực nhà
nước xin nghỉ việc ở một số tỉnh, bộ, ngành
53
5
2.5
Cơ cấu lứa tuổi của nhóm lao động xin nghỉ việc tại
một số bộ, ngành, địa phương

Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH 6
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu…………………………………….5
1.1.1. Sách, bài đăng trên tạp chí khoa học 5
1.1.2. Chuyên đề tốt nghiệp đại học, luận văn Thạc sĩ, luận án Tiến sĩ . 7
1.2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về cơ cấu kinh tế ngành và chuyển dịch cơ
cấu kinh tế ngành 8
1.2.1. Cơ cấu kinh tế ngành 8
1.2.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành 10
1.2.3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở một số địa phương và bài học kinh
nghiệm cho tỉnh Tuyên Quang……………………………………19
Chƣơng 2: PHƢƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU Error!
Bookmark not defined.5
2.1. Phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc sử dụng Error! Bookmark not defined.5
2.1.1. Phương pháp luận duy vật biện chứngError! Bookmark not
defined.5
2.1.2. Phương pháp luận duy vật lịch sửError! Bookmark not defined.6
2.1.3. Phương pháp thu thập tài liệu Error! Bookmark not defined.6
2.1.4. Phương pháp phân tích, xử lý dữ liệuError! Bookmark not
defined.7
2.1.5. Phương pháp so sánh, đánh giá số liệuError! Bookmark not
defined.7
2.1.6. Phương pháp dự báo Error! Bookmark not defined.8
2.2. Địa điểm và thời gian thực hiện nghiên cứuError! Bookmark not
defined.8
Chƣơng 3: THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH
Ở TỈNH TUYÊN QUANG GIAI ĐOẠN 2005-2014Error! Bookmark not
defined.30
3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội chi phối sự chuyển dịch cơ cấu kinh
tế ngành của tỉnh Tuyên Quang Error! Bookmark not defined.30

4.2.3. Nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo và chất lượng nguồn nhân
lực Error! Bookmark not defined.80
4.2.4. Quản lý và sử dụng có hiệu quả tài nguyên, tích cực và chủ động
bảo vệ môi trường, bảo đảm phát triển bền vững; đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ
khoa học công nghệ vào sản xuất kinh doanh ……………………………. 81
4.2.5. Phát triển và mở rộng thị trườngError! Bookmark not defined.3
4.2.6. Phát triển và khơi dậy nguồn lực của các thành phần kinh tếError!
Bookmark not defined.3
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, sự phát triển của nền kinh tế thế giới đang bước sang trang mới
với những thành tựu có tính chất đột phá trên các lĩnh vực khác nhau của đời
sống kinh tế - xã hội, đặc biệt trên lĩnh vực khoa học, công nghệ, kinh tế, trong
đó nhân tố đóng vai trò quyết định sự biến đổi về chất dẫn tới sự ra đời của kinh
tế tri thức, chính là nguồn nhân lực (NNL) chất lượng cao (CLC). Nguồn nhân
lực chất lượng cao và nhân tài được xem là nhân tố quan trọng hàng đầu quyết
định sự thành bại của bất kì quốc gia nào trong quá trình hòa nhập vào xu hướng
phát triển mới của thời đại.
Ở Việt Nam, trải qua thực tiễn 10 năm thực hiện chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội (2001 – 2010), Đảng ta đã rút ra 4 bài học, trong đó có “Bài
học về huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển đất
nước”. Cũng tại Đại hội XI (01/ 2011) trong định hướng phát triển kinh tế -

trong thời gian tới. Nghị quyết Đại hội Tỉnh Đảng bộ lần thứ IX (nhiệm kỳ
2010-2015) đã đề ra chương trình đột phá về “Nâng cao chất lượng NNL tỉnh
Bình Dương giai đoạn 2011-2015” nói lên tầm quan trọng của chất lượng NNL
trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.
Tuy nhiên trong những năm qua, việc phát triển nguồn nhân lực CLC tỉnh
Bình Dương vẫn còn gặp những hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu của sự
nghiệp CNH, HĐH, chưa thực sự là động lực để phát triển kinh tế - xã hội của
tỉnh: Nguồn nhân lực CLC đã có sự gia tăng chưa phù hợp với tỷ trọng nguồn nhân
lực của tỉnh; Chất lượng nguồn nhân lực CLC chưa được đào tạo theo yêu cầu
của sự phát triển công nghiệp, dẫn đến tình trạng mâu thuẫn giữa lượng và chất,
tính kỷ luật, chuyên nghiệp của người lao động chưa cao; Sự dịch chuyển cơ cấu
nguồn nhân lực CLC trong những ngành kinh tế tri thức còn thấp; Về đào tạo và
sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao của tỉnh cũng đang là một thách thức
trong quá trình phát triển nguồn nhân lực CLC phục vụ nhu cầu CNH, HĐH của
tỉnh trong những năm tới. Thực tế này đặt là một câu hỏi lớn là: Cần phải làm gì để
phát triển nguồn nhân lực CLC của tỉnh Bình Dương trong thời gian tới?
Do đó, việc nghiên cứu tình hình phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
để tìm ra những giải pháp nhằm phát triển hơn nữa nguồn nhân lực chất lượng
3

cao đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH của tỉnh Bình Dương trở thành
nhiệm vụ cấp thiết.
Với ý nghĩa trên, tác giả chọn đề tài: “Phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao ở tỉnh Bình Dương” làm luận văn thạc sĩ - chuyên ngành Kinh tế
chính trị.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tàì
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về phát triển nguồn nhân
lực CLC và phân tích thực trạng phát triển nguồn nhân lực CLC của tỉnh Bình
Dương, luận văn hướng tới việc đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục

5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính
của luận văn được trình bày theo 4 chương.
Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề cơ bản về
phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Chƣơng 2: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu
Chƣơng 3: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Bình
Dương
Chƣơng 4: Giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Bình
Dương trong thời gian tới 5

Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ
BẢN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƢỢNG CAO


Nolwen Henaff, Jean Yves Martin ( 2001), Labour, employment and
human resources in Viet Nam after 15 years of renovation(Lao động, việc
làm và nguồn nhân lực Việt nam sau 15 năm đổi mới)Nxb Thế giới, Hà Nội.
Các tác giả đã phân tích tình trạng lao động, việc làm và thực trạng nguồn nhân
lực của Việt Nam sau 15 năm đổi mới. Điều này giúp cho người đọc thấy được
thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực
công nghệ thông tin ở Việt nam là một điều rất cần thiết trong tiến trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa.
William J. Rothwell, Robert K. Prescott và Maria W. Taylor, Vũ
Thanh Vân dịch(2010), Human resources transformation (Chuyển hóa nguồn
nhân lực), Kinh tế Quốc dân, Hà Nội. Cuốn sách lấy vấn đề chuyển đổi nhân sự
làm trung tâm, nó lột tả, khám phá và khắc họa chính xác vai trò, nhiệm vụ của
nhân sự trong hơn thập kỉ qua và đưa ra dự đoán các xu hướng mới trong tương
lai. Các tác giả đã dành riêng hai phần đầu trong cuốn sách để dẫn dắt người đọc
làm quen với khái niệm chuyển đổi nhân sự thông qua cái nhìn toàn cảnh trong
quá khứ, các yếu tố tác động hiện tại, tiền đề của sự đổi mới và xu hướng hình
thái cấp tiến của nhân sự hiện đại. Qua đó, ngành nhân sự như được thoát khỏi
cái bóng thầm lặng, thụ động trong thành công của tổ chức.Từ đó người đọc sẽ
rút ra cho mình những kinh nghiệm, bài học và cách thức thực hiện chuyển đổi
nhân sự phù hợp nhất với bối cảnh hiện tại. Ngoài ra, trong phần phụ lục, các tác
giả còn đưa ra bài nghiên cứu thực tế dựa trên các ý kiến, quan điểm của các nhà
quản lý trong việc áp dụng chuyển đổi nhân sự. Cùng với đó là Bảng khảo sát
dành cho độc giả nhằm xác định, đánh giá mức độ ưu thế nhân sự trong doanh
nghiệp để ngay lập tức có thể đề ra chiến lược và phương hướng hành động cho
bản thân trong việc chuyển đổi nhân sự có tác động rất lớn đối với quá trình sử
dụng một cách hợp lý nguồn nhân lực.
1.1.3. Các nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực của các tác giả
trong nước
Comment [s3]: CĂN LỀ
7

trường công nghệ, kỹ thuật ngày càng đổi mới và phát triển. Do vậy phát triển
8

nhân lực phải tập trung vào thế hệ trẻ. Vấn đề đặt ra là trong điều kiện đẩy mạnh
CNH, hội nhập thì giáo dục, đào tạo phải làm sao để thanh niên, thế hệ trẻ trở
thành đội quân xung kích đi vào khoa học công nghệ mới. Tuy lực lượng lao
động trẻ nước ta được xếp vào hạng quốc gia có trình độ học vấn khá, có nhiều
học sinh, sinh viên thông minh đạt giải quốc tế, nhưng lại thiếu những nhà kỹ
nghệ trẻ tài năng, những doanh nhân, nhà doanh nghiệp trẻ có tài và những lao
động tinh thông công nghệ mới”.
TS Trần Anh Phương (2011) Phát triển nguồn nhân lực và xây dựng các
khu kinh tế biển đảo giải pháp phát triển kinh tế-xã hội và ứng phó với biến đổi
khí hậu Tạp chí Dân số và Phát triển, số 9.(102). Tác giả cho rằng việc quan
trọng trước hết chúng ta cần làm ngay, đó là đánh giá và dự báo đúng nhu cầu
phát triển qui mô dân số hợp lý, nâng cao chất lượng dân số và nguồn nhân lực
chất lượng cao của các vùng ven biển, vùng biển và hải đảo, trong đó nòng cốt
là cán bộ nghiên cứu, cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ, các
chuyên gia và đội ngũ lao động chuyên ngành kỹ thuật thuộc lĩnh vực kinh tế
biển. Trên cơ sở đó lập kế hoạch phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao
trung hạn và dài hạn, cùng với việc xây dựng cơ chế, chính sách đào tạo gắn với
cơ chế cử tuyển để khuyến khích cán bộ khoa học và quản lý công tác tại các hải
đảo, các vùng ven biển
GS.TS Đặng Hữu – TS Đinh Quang Ty (2005), Đề tài KX.02.03 – Xu
hướng phát triển nền kinh tế tri thức và tác động của nó đến sự phát triển và lựa
chọn chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam”, Hà Nội.
Đề tài nghiên cứu nhằm làm rõ bản chất của kinh tế tri thức, những đặc điểm
cơ bản và xu thế phát triển của nó, tác động của nó đến sự phát triển xã hội, kinh
nghiệm của các nền kinh tế đang tiến tới kinh tế tri thức; đồng thời phân tích
thực trạng kinh tế nước ta dưới góc nhìn của kinh tế tri thức, từ đó đề xuất các
kiến nghị về phát triển kinh tế tri thức ở nước ta, nhằm đẩy nhanh, rút ngắn quá

chuyên biệt về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Bình Dương.
Xuất phát từ thực tế đó đề tài: “ Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở tỉnh
Bình Dương” được lựa chọn để thực hiện luận văn thạc sĩ chuyên ngành kinh tế
chính trị.
Comment [s4]: CĂN LỀ
Comment [s5]: CĂN LỀ
10

Đề tài tiếp tục nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nguồn nhân
lực chất lượng cao; phân tích, đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao ở Bình Dương; từ đó đề xuất một số giải pháp mang tính đặc thù để
phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã
hội của tỉnh Bình Dương trong thời gian tới.
Các công trình nghiên cứu nêu trên là tài liệu tham khảo về lý luận và thực tiễn
quý báu để tác giả kế thừa, sử dụng trong thực hiện luận văn của mình.
1.2. Những vấn đề cơ bản về phát triển nguồn nhân lực chất lƣợng
cao
1.2.1. Các khái niệm
1.2.1.1. Nguồn nhân lực
Khái niệm nguồn nhân lực được sử dụng từ những năm 60 ở nhiều nước
phương Tây và một số nước châu Á. Do có nhiều cách tiếp cận và nghiên cứu
khác nhau nên có khá nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu đã đưa ra các định
nghĩa, quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực.
Theo Liên Hiệp Quốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ
năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự
phát triển của mỗi cá nhân và đất nước” [5; 13]
Ngân hàng thế giới (WB) thì cho rằng: Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con
người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp của mỗi cá nhân. Như vậy ở
đây nguồn lực con người được coi như nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất
khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên.

1.2.1.2. Nguồn nhân lực chất lượng cao
Thuật ngữ nguồn nhân lực chất lượng cao được xuất hiện phổ biến ở Việt
Nam trong những năm gần đây do những yêu cầu ngày càng cao về chất lượng
nguồn nhân lực của một nền kinh tế đang chuyển đổi và hội nhập quốc tế. Trước
thực tế này, Đại hội Đảng lần thức X (2006) đã nêu trong văn kiện thuật ngữ
nguồn nhân lực chất lượng cao để khẳng định sự hiện diện của một bộ phận
nguồn nhân lực đàu tàu trong quá trình phát triển đất nước.
Về vấn đề này C.Mác đã từng quan niệm: “Vậy thì nền công nghiệp do
toàn xã hội thực hiện một cách tập thể và có kế hoạch lại càng cần những con
người có năng lực phát triển toàn diện, đủ sức tinh thông và nắm nhanh chóng
12

toàn bộ hệ thống sản xuất trong thực tiễn” [1; tr.474]. Ông phân tích lao động
giản đơn và lao động phức tạp và kết luận : lao động phức tạp ( lao động được
đào tạo) là bội số của lao động giản đơn.
Khi bàn tới thuật ngữ “nguồn nhân lực CLC”, đại từ điển Kinh tế thị
trường của Trung Quốc cho rằng, đó là những người, trong điều kiện xã hội nhất
định, có tri thức chuyên môn nhất định, có năng lực và kỹ năng cao, với tính lao
động sáng tạo của bản thân trong hoạt động xã hội, có khả năng góp phần cống
hiến nào đó đối với sự phát triển của xã hội.
Ở Việt Nam, thuật ngữ “nguồn nhân lực CLC” thường được tiếp cận theo
nhiều cách thức khác nhau.
Thứ nhất, cách tiếp cận nhấn mạnh tới khả năng và vai trò của nguồn
nhân lực CLC gắn với quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam
Cách tiếp cận này cho rằng, nguồn nhân lực CLC là đội ngũ nhân lực có trình độ
và năng lực cao, là lực lượng xung kích tiếp nhận chuyển giao công nghệ tiên
tiến, thực hiện có hiệu quả việc ứng dụng vào điều kiện nước ta, là hạt nhân đưa
lĩnh vực của mình đi vào CNH, HĐH được mở rộng theo kiểu “ vết dầu loang”
bằng cách dẫn dắt những bộ phận có trình độ và năng lực thấp hơn đi lên với tốc
độ nhanh.

Dù các nhà nghiên cứu có những góc độ tiếp cận khác nhau về nguồn
nhân lực nhưng tổng hợp lại, có thể nhấn mạnh tới những đặc trưng cốt lõi sau
của lực lượng này:
Một là, về vai trò và tầm quan trọng: Nguồn nhân lực CLC là lực lượng
ưu tú nhất, thực hiện vai trò dẫn đường đối với nguồn nhân lực nói chung trong
quá trình phát triển KT- XH.
Hai là, về số lượng: Nguồn nhân lực CLC chỉ bao gồm một bộ phận nhân
lực trong tổng số nguồn nhân lực quốc gia.
Ba là, về chất lượng: Nguồn nhân lực CLC được đánh giá thông qua các
yếu tố cơ bản sau: (1) phẩm chất đạo đức, (2) trình độ chuyên môn nghiệp vụ
được đào tạo, (3) khả năng thích ứng và sáng tạo trong công việc.
Bên cạnh đó theo tài liệu khác, TS Nguyễn Hữu Dũng (2002) cho rằng:
“Nguồn nhân lực chất lượng cao là khái niệm để chỉ một con người, một người
lao động cụ thể có trình độ lành nghề (về chuyên môn, kỹ thuật) ứng với một
ngành nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn, kỹ thuật
nhất định (trên Đại học, cao đẳng, lao động kỹ thuật lành nghề) có kỹ năng lao
động giỏi và có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi nhanh chóng của
công nghệ sản xuất; có sức khỏe và phẩm chất tốt, có khả năng vận dụng sáng
tạo những tri thức, những kỹ năng đã được đào tạo vào quá trình lao động sản
xuất nhằm đem lại năng suất, chất lượng và hiệu quả cao” [20, tr.20]. Theo các
thống kê chính thức, nguồn nhân lực chất lượng cao bao gồm những người được
đào tạo một cách hệ thống và có bằng cấp. Tuy nhiên cũng thấy rằng, trên thực
Comment [s8]: CÔ ĐÃ XEM LẠI DANH MỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO, TÀI LIỆU SỐ 12
KHÔNG PHẢI LÀ NGUYỄN HỮU DŨNG, ÔNG
N.H.DŨNG CHỈ CÓ Ở SÔ 20,21; TUY NHIÊN LẠI
CHẲNG CÓ NGUYỄN HỮU DŨNG (2002) MÀ
CHỈ CÓ N.HDUNG (2010) VÀ (2003).
EM PHẢI RẤT CẨN THẬN VÀ TRÍCH DẪN CHO
ĐÚNG KHÔNG THÌ HỘI ĐỒNG HỌ ĐÁNH GIÁ

một quốc gia, trong đó nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ phận cấu thành đặc
biệt quan trọng, là nhóm tinh túy nhất. Bởi vậy, khi bàn về nguồn nhân lực chất
lượng cao không thể không đặt nó trong tổng thể vấn đề chất lượng nguồn nhân
lực nói chung
1.2.1.3 Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
15

Từ những phân tích trên có thể đưa ra quan niệm về phát triển nguồn nhân
lực chất lượng cao như sau:
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là quá trình tạo lập và sử dụng
hợp lý năng lực toàn diện của lực lượng lao động trình độ cao vì sự tiến bộ kinh
tế - xã hội và sự hoàn thiện bản thân mỗi con người
Như vậy, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời kỳ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá phải là những con người phát triển cả về trí lực và thể
lực, cả về khả năng lao động, về tính tích cực chính trị – xã hội, về đạo đức, tình
cảm trong sáng. Việc xác lập các chuẩn mực, định hướng các giá trị xã hội để
xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là hết sức cần thiết. Chìa khóa vạn năng để
phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao chính là phải nâng cao giáo dục toàn
diện, đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý, nội dung, phương pháp dạy và
học; thực hiện “chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, chấn hưng nền giáo dục
Việt ” [ 7, tr.95]
1.2.2. Vai trò của việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Thứ nhất, phát triển nguồn nhân lực chất lƣợng cao đóng vai trò thúc
đẩy hàng đầu đến sự tăng trƣởng và phát triển kinh tế nói chung. Ngoài
việc gia tăng nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn và thúc đẩy sự phát triển
của khoa học công nghệ thì trên phương diện lý luận và cả thực tiễn đều khẳng
định phát triển nguồn nhân lực đặc biệt là phát triển nguồn nhân lực chất lượng
cao là yếu tố quyết định hàng đầu tới quy mô tăng trưởng kinh tế, là nhân tố cơ
bản giữ vai trò quyết định trong việc khai thác, sử dụng, tái tạo và phát triển có

vọt. Vì vậy cần những biện pháp hữu hiệu hơn để có thể phát triển nhanh và
hiệu quả cả về giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, tiếp cận nhanh và hiệu quả
cả về giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, tiếp cận nhanh với cơ cấu kinh tế
theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa. Chính trong quá trình này sự phát
triển máy móc, thiết bị, dưới tác động của khoa học công nghệ đã phát triển, tính
chất xã hội hoá lực lượng sản xuất ngày càng cao thì chất lượng nguồn nhân lực,
trình độ nguồn nhân lực chất lượng cao càng giữ vai trò quan trọng và quyết
định.
17

Điều đấy được chứng minh ở các nước trong quá trình công nghiệp hoá,
đã nhập những dây chuyền công nghệ rất tiên tiến nhưng do trình độ nguồn nhân
lực chưa phát triển, chưa cao nên hiệu quả sử dụng dây chuyền công nghệ đấy
rất thấp và nhiều trường hợp bị ngừng hoạt động, chịu hao mòn hữu hình và vô
hình. Trái lại ở một số nước tuy máy móc chưa hiện đại nhưng nhờ có sự đầu tư
và phát triển về nguồn nhân lực, trình độ cao, họ đã công nghiệp hoá thành
công, chủ động tiếp nhận và chuyển giao công nghệ để phát triển nhanh. Qua đó
chúng ta có thể thấy, để có thiết bị, công nghệ hay vốn thì các nước đang phát
triển phải tiến hành “nhập” và “vay” ở các nước phát triển. Nhưng thực tế cho
thấy nguồn nhân lực thì không thể có được nhờ con đường nhập khẩu. Ở nước
ta, chính con người là nguồn nội lực đóng vai trò, một yếu tố quyết định đến sự
thành công của công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đảng ta đã xác định phải lấy việc
phát huy chất lượng nguồn nhân lực – phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững
Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực chất lƣợng cao là điều kiện để rút
ngắn khoảng cách tụt hậu và thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế nhanh trong tiến
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc nhằm phát triển bền vững
Ngày nay, sự tiến bộ nhanh chóng của cuộc cách mạng khoa học công
nghệ đã đưa đến bước chuyển mới về vai trò nguồn nhân lực. Triết lý kinh
doanh “coi công nghệ là trung tâm” được chuyển sang “coi con người là trung


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status