BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
MAI THỊ THU HƯƠNG
ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN STEVIA ĐẾN SINH TRƯỞNG
PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT GIỐNG LÚA BT7
TRỒNG VỤ XUÂN 2013 TẠI KIẾN XƯƠNG- THÁI BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ HÀ NỘI, 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Tác giả luận văn
Mai Thị Thu Hương
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các cơ
quan, các thầy, các cô, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình.
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới PGS.TS Vũ Quang
Sáng đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, đóng góp nhiều ý kiến quý báu trong quá trình
thực hiện và hoàn thành luận văn.
Tôi xin gửi tới Ông Nguyễn Như Liên - Giám đốc Trung tâm Khảo nghiệm
Khuyến nông Khuyến ngư Thái Bình, lời cảm ơn về sự quan tâm, giúp đỡ tạo thuận
lợi khi tôi làm thí nghiệm.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô Viện đào tạo Sau Đại học, các thầy
cô Bộ môn Sinh lý, khoa Nông Học, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã nhiệt
tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi trong thời gian học tập cũng như khi
hoàn thành và báo cáo luận văn.
2.1 Đối tượng, vật liệu và địa điểm nghiên cứu
25
2.1.1 Đối tượng, vật liệu nghiên cứu
25
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 26
2.2. Nội dung nghiên cứu 26
2.3 Phương pháp nghiên cứu 26
2.3.1 Bố trí thí nghiệm 26
2.3.2 Các biện pháp kỹ thuật 28
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32
3.1 Ảnh hưởng của phân bón Stevia pellet (SP) đến sinh trưởng, phát triển và
năng suất lúa giống BT7 trồng vụ xuân 2013 tại Kiến Xương - Thái Bình 32
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv
3.1.1 Thời gian sinh trưởng 32
3.1.2 Động thái đẻ nhánh 36
3.1.3 Động thái tăng trưởng chiều cao cây 38
3.1.4 Chỉ số diện tích lá LAI 39
3.1.5 Khả năng tích lũy chất khô 41
3.1.6 Khả năng chống chịu sâu bệnh 43
3.1.7 Ảnh hưởng của phân bón Stevia pellet (SP) đến các yếu tố cấu thành năng
suất của giống lúa BT7 vụ xuân 2013 tại Kiến Xương- Thái Bình 45
3.1.8 Ảnh hưởng của phân bón Stevia pellet (SP) đến năng suất giống lúa BT7 vụ
xuân 2013 tại Kiến Xương -Thái Bình 47
3.2. Ảnh hưởng của phân bón lá Stevia Green Plus (SGP) đến sinh trưởng, phát triển và
năng suất lúa giống BT7 trồng vụ xuân 2013 tại Kiến Xương-Thái Bình 49
3.2.1 Thời gian sinh trưởng 49
3.2.2 Động thái đẻ nhánh 52
3.2.3 Động thái tăng trưởng chiều cao cây 54
khô của giống lúa BT7 vụ xuân 2013 tại Kiến Xương-Thái Bình 42
3.6. Ảnh hưởng của phân bón Stevia pellet (SP) đến khả năng chống chịu
sâu bệnh của giống lúa BT7 vụ xuân 2013 tại Kiến Xương- Thái Bình 44
3.7. Ảnh hưởng của phân bón Stevia pellet (SP) đến các yếu tố cấu thành
năng suất giống lúa BT7 vụ xuân 2013 tại Kiến Xương- Thái Bình 46
3.8. Ảnh hưởng của phân bón Stevia pellet (SP) đến năng suất giống lúa
BT7 vụ xuân 2013 tại Kiến Xương- Thái Bình 48
3.9. Ảnh hưởng của phân bón lá Stevia Green plus (SGP) đến thời gian sinh
trưởng của giống BT7 trồng vụ xuân 2013 tại Kiến Xương – Thái Bình 50
3.10. Ảnh hưởng của phân bón lá Stevia green plus (SGP) đến khả năng đẻ
nhánh của lúa BT7 vụ xuân 2013 tại Kiến Xương- Thái Bình 53
3.11. Ảnh hưởng của phân bón lá Stevia Green plus (SGP) đến động thái
tăng trưởng chiều cao của giống lúa BT7 vụ xuân 2013 tại Kiến
Xương – Thái Bình 54
3.12. Ảnh hưởng của phân bón lá Stevia Green plus (SGP) đến chỉ số diện
tích lá LAI của lúa BT7 vụ xuân 2013 tại Kiến Xương- Thái Bình 55
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
3.13. Ảnh hưởng của phân bón lá Stevia green plus (SGP) đến khả năng
tích lũy chất khô của giống lúa BT7 vụ xuân 2013 tại Kiến Xương-
Thái Bình 57
3.14. Ảnh hưởng của phân bón lá Stevia Green plus (SGP) đến khả năng chống
chịu sâu bệnh của giống lúa BT7 vụ xuân 2013 tại Kiến Xương- Thái Bình. 59
3.15. Ảnh hưởng của phân bón lá Stevia Green plus (SGP) đến các yếu tố cấu
thành năng suất của giống lúa BT7 vụ xuân 2013 tại Kiến Xương- Thái Bình 61
3.16. Ảnh hưởng của phân bón lá Stevia Green plus (SGP) đến năng suất
giống lúa BT7 vụ xuân 2013 tại Kiến Xương- Thái Bình 63
3.17. Hiệu quả kinh tế khi sử dụng phân bón lá Stevia Green plus (SGP) cho
giống lúa BT7 vụ xuân 2013 tại Kiến Xương- Thái Bình 65
SP Stevia pellet
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Lúa (Oryza sativa L.) là cây lương thực chính ở các nước châu Á, chiếm
khoảng 92% sản lượng lúa gạo trên toàn thế giới (IRR, 2002). Nhu cầu lương thực
ngày càng tăng nên sản xuất lúa gạo phải tăng để đáp ứng được nhu cầu lương thực.
Tuy nhiên, việc mở rộng diện tích trồng lúa là vô cùng khó khăn vì nhiều diện tích
trồng lúa trên thế giới cũng như Việt Nam đã và đang bị chuyển đổi thành đất đô
thị, khu công nghiệp (Horie, 2005). Vì vậy, để tăng sản lượng lương thực phải đi
theo hướng tăng năng suất trên đơn vị sản xuất. Bên cạnh đó, tăng năng suất lúa là
chìa khóa để cải thiện đời sống cho người nông dân và đóng góp cho sự phát triển
kinh tế, giảm đói nghèo (Dawe, 2000). Có nhiều biện pháp làm tăng năng suất lúa
song quan trọng là giống tốt và các biện pháp kỹ thuật phù hợp, tiên tiến. Trong đó
phân bón là biện pháp kỹ thuật quan trọng làm tăng năng suất cây trồng. Hiện nay,
sự phát triển của nền nông nghiệp nước ta đang đi vào mức độ thâm canh cao với
việc sử dụng ngày càng nhiều phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật hóa học và
hàng loạt các biện pháp như trồng lúa 3 vụ, phá rừng canh tác cà phê, hồ tiêu, điều,
đậu tương, rau… với mục đích khai thác, chạy theo năng suất và sản lượng (Nguyễn
Quang Thạch, 2001).
Chính vì vậy, với sự canh tác trên đã làm cho đất đai ngày càng thoái hóa,
dinh dưỡng bị mất cân đối, mất cân bằng hệ sinh thái trong đất, hệ vi sinh vật trong
đất bị phá hủy, tồn dư các chất độc hại trong đất ngày càng cao, nguồn bệnh tích
lũy trong đất càng nhiều dẫn đến phát sinh một số dịch hại không dự báo trước.
- Địa điểm: xã Hòa Bình huyện Kiến Xương - Thái Bình.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Vai trò của cây lúa
Lúa là loại cây trồng gắn bó với truyền thống sản xuất nông nghiệp của
nhiều quốc gia. Sản phẩm chính của lúa là gạo, trong gạo chứa nhiều chất dinh
dưỡng vitamin nhóm B và các axit amin không thay thế. Theo Lu.B.R.Lorestto G.C
(1980), tại Châu Á gạo là nguồn cung cấp dinh dưỡng chủ yếu đóng góp 56% năng
lượng, 42,9% protein hàng ngày. Nó đặc biệt quan trọng đối với người nghèo khi
mà lương thực cung cấp tới 70% năng lượng và protein thông qua bữa ăn hàng
ngày. Tuỳ theo truyền thống ẩm thực và thu nhập của các quốc gia, bộ phận dân cư
khác nhau mà yêu cầu về chất lượng gạo cũng khác nhau. Những nơi mà gạo
là lương thực thứ yếu (Châu Âu) thì họ yêu cầu loại gạo tốt. Gạo 5-10% tấm được
tiêu thụ nhiều ở Tây Âu, 10-13% gạo sử dụng làm lương thực ở các nước Đông Âu.
Ở Châu Á gần 90% dân số Bangladesh và phần lớn dân số Ấn Độ, Srilanca,
Pakistan, các nước thuộc Châu Phi tiêu dùng loại gạo đồ, còn gạo nếp được tiêu thụ
chính ở Lào, Camphuchia và một số vùng ở Thái Lan.
Thành phần của các chất chứa trong 100g gạo lứt: Carbohydrate: 71,1g;
Protein % (N x 6,25): 7,3 ; Dầu thô: 2,2 g; Chất xơ: 4,0 g; Vitamin B: 0,29 mg; Vitamin
B2 (mg): 0,04; Niacin (mg): 4,0; Vitamin E (mg): 0,8; Sắt (mg %): 3,0; Kẽm (mg %):
2,0; Lysine (g/16gN): 3,8; Threonine (g/16gN): 3,6; Methionin + Cystine (g/16gN): 3,9;
Tryptophan (g/16gN): 1,1 và axit amin khác.
Ngoài cung cấp lương thực cho nhân dân trong nước, lúa gạo còn là một mặt
hàng xuất khẩu của nhiều quốc gia góp phần trong tăng trưởng kinh tế.
1.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất lúa trên thế giới
Trong thống kê nông nghiệp của FAO các loại lương thực truyền thống chủ
yếu được sản xuất và tiêu thụ trên thế giới bao gồm năm loại là lúa mì, lúa gạo, ngô,
kê và đại mạch. Trong đó lúa mì và lúa gạo là hai loại lương thực cơ bản nhất dùng
nghiên cứu phát triển lúa lai của Trung Quốc trong thế kỷ 21 là phát triển lúa lai 2
dòng và đẩy mạnh nghiên cứu lúa lai 1 dòng và lúa lai siêu cao sản nhằm tăng năng
suất và sản lượng lúa gạo của đất nước (Lin, S.C., 2001). Theo Jenning P.R.,
Coffmen W.R., Kauffman H.E. (1979. Hiện nay các nhà chọn tạo giống đang tập
trung và định hướng chọn tạo kiểu hình cây lúa có chiều cao lý tưởng là 100 cm
(FAOSTAT.FAO.ORG).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
Gần đây Thái Lan đã lai tạo được giống lúa giàu chất sắt lớn gấp 30 lần so với
các giống thường. Ngoài ra còn chứa protein, kẽm và các tác nhân chống oxy hoá
(Nguyễn Văn Luật, 2001).
Hiện nay trên thế giới có khoảng trên 100 quốc gia trồng và sản xuất lúa gạo,
trong đó tập trung nhiều ở các nước Châu Á, 85% sản lượng lúa trên thế giới phụ
thuộc vào 8 nước ở Châu Á: Thái Lan, Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonexia,
Banglades, Myamar và Nhật Bản. Ở khu vực Đông Á còn có các nước trồng lúa
khác như: Hàn Quốc, Bắc Triều Tiên, Đài Loan (Hoang, C.H., 1999). Tùy thuộc vị
trí địa lí, điều kiện tự nhiên, xã hội và trình độ thâm canh của mỗi nước mà năng
suất và sản lượng có sự chênh lệch nhau nhưng theo xu hướng tăng dần trong những
năm gần đây. Ví dụ: năm 2005 sản xuất lúa gạo trên thế giới về diện tích là 154,987
triệu ha, năng suất 40,935 tạ/ha với sản lượng là 634,444 tr.tấn đến năm 2011 tương
ứng là: diện tích 164,125 tr.ha, năng suất 44,037 tạ/ha và sản lượng là 422,760 triệu
tấn, năm 2012 là 489,8 triệu tấn và năm 2013 là 494 triệu tấn (Nguồn:FAOSTAT,
2013). Những nước sản xuất lúa gạo nhiều nhất tính đến năm 2011 là: Trung Quốc
(202,667 tr.tấn); Ấn Độ (155,700 tr.tấn); Indonexia (65,740 tr.tấn); Bangladet
(50,627 tr.tấn); Thái Lan (34,588 tr.tấn); Việt Nam (42,331 tr.tấn); Myamar (32,800
tr.tấn); Philippin (16,684 tr.tấn); Braxin (13,477 tr.tấn) và Nhật Bản (8,402 tr.tấn) (
Nguồn: FAOSTAT, 2012)
1.3 Tình hình nghiên cứu và sản xuất lúa tại Việt Nam
Ở Việt Nam sản xuất lúa chiếm tỉ trọng lớn trong sản xuất nông nghiệp, thu
thể đưa vào sản xuất lúa hàng hoá vì chúng khắc phục được những khiếm khuyết về
tính không ổn định thường gặp ở cây biến đổi gen (Nguyễn Hữu Nghĩa, 1996). Viện
Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam đã tiến hành chọn tạo và đã thành công
với ba giống BM9603, HT1 và N97 (Lê Vĩnh Thảo, Nguyễn Ngọc Tiến, 2003).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
Bảng 1.1. Diện tích, năng suất và sản lượng lúa ở Việt Nam (2001 – 2014)
Năm
Diện tích
(nghìn ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(nghìn tấn)
2001 7.492,7 42,9 32.108,4
2002 7.504,3 45,9 34.447,2
2003 7.452,2 46,4 34.568,8
2004 7.445,3 48,6 36.148,9
2005 7.329,2 48,9 35.832,9
2006 7.324,8 48,9 35.849,5
2007 7.207,4 49,9 35.942,7
2008 7.400,2 52,3 38.729,8
2009 7.437,2 52,4 38.950,2
2010 7.489,4 53,4 40.005,6
2011 7.651,4 55,3 42.324,9
2012 7.750,0 56,0 43.400,0
2013 7.730,0 55,8 44.100,0
2014 (dự kiến) 7.600,0 57,1 43.400,0
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
trong đó 90,1% sống ở khu vực nông thôn với nền văn minh lúa nước sông Hồng.
Năm 1966 đánh dấu Thái Bình là tỉnh đầu tiên ở miền Bắc đạt năng suất lúa
5 tấn/ha/năm và tăng liên tục lên 8 – 10 tấn/ha/năm, nhiều năm qua giữ ở mức 12,5
– 13 tấn/ha/năm.
Năng suất lúa tại Thái Bình 2008-2012 (tạ/ha)
Năm Trung bình Lúa đông xuân Lúa mùa
2008 65,67 70,01 61,32
2009 66,15 70,35 62,00
2010 66,37 70,60 62,19
2011 65,86 72,60 59,18
2012 65,07 71,62 58,55
(Nguồn: Chi cục thống kê Thái Bình)
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9
Sản lượng lúa cả năm tại Thái Bình 2008-1012 (nghìn tấn)
Năm Tổng số Lúa đông xuân Lúa mùa
2008 1105,2 589,4 515,7
2009 1105,8 585,3 520,5
2010 1104,4 583,7 520,7
2011 1091,3 598,5 492,8
2012 1059,5 581,2 479,3
(Nguồn: Chi cục thống kê Thái Bình)
Tổng diện tích đất lúa hiện nay của tỉnh gần 84.660 ha. Thái Bình chú trọng
đầu tư, nâng cấp hạ tầng hệ thống sản xuất giống, hệ thống thủy lợi, đê điều, đẩy
mạnh cơ giới hóa trong sản xuất, đặc biệt ứng dụng mạnh mẽ, có hiệu quả các tiến
bộ khoa học, công nghệ ở tất cả các khâu của quá trình sản xuất lúa gạo. Đặc biệt,
có một số giống lúa được chọn lọc, nhân giống tại Thái Bình như: CNR36, TBR1,
BC15, TBR36, TBR45 Thái Xuyên 111 đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn công nhận là giống Quốc gia.
tích canh tác trở lên, diện tích cây vụ đông chiếm 50% diện tích canh tác trở lên,
chăn nuôi chiếm tỷ trọng 46% giá trị sản xuất nông nghiệp.
Để hoàn thành các nhiệm vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, tỉnh xác
định, tiếp tục phát triển sản xuất lúa gạo theo hướng sản xuất hàng hóa có giá trị và
hiệu quả cao, bền vững. Trong đó, tập trung “Phát triển vùng sản xuất lúa chất
lượng, hiệu quả cao giai đoạn 2012 - 2015” với mục tiêu tổng quát là xây dựng,
phát triển vùng sản xuất lúa chất lượng mang thương hiệu Thái Bình, phát triển
thương hiệu sản phẩm gạo Nhật sản xuất tại Thái Bình; “Xây dựng cánh đồng mẫu
lớn” để hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, quy mô lớn, hiệu quả cao.
1.5 Vai trò của nguyên tố khoáng và một số kết quả nghiên cứu về phân bón
cho cây lúa tại Việt Nam
1.5.1 Vai trò của các nguyên tố khoáng
Mỗi nguyên tố dinh dưỡng trong phân bón lá có vai trò khác nhau và nếu thiếu
nó, cây trồng sẽ sinh trưởng phát triển kém, năng suất, chất lượng nông sản giảm rõ
rệt, nhất là với những nguyên tố trung lượng và vi lượng như: Canxi, Kẽm, Molipden,
Bo, Magie…, chúng có tác dụng thúc đẩy và kích thích khả năng sinh trưởng cũng
như ra hoa, đậu quả của cây (Bùi Huy Hiền , 2002)
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11
+ Vai trò của canxi (Ca): Ca tham gia vào sự hình thành tế bào, khi canxi kết
hợp với pectatcanxi tạo nên thành tế bào và có mặt ở các lớp giữa tế bào, ở thành tế
bào, lông hút và ở ống phấn. Do vậy, khi thiếu canxi sự nẩy mầm và sinh trưởng
của hạt phấn bị ức chế, mô phân sinh và nhất là mô phân sinh đỉnh rễ bị hại (Võ
Minh Kha, 1996). Canxi thích hợp cho sự phát triển của vi khuẩn nốt sần, sự hình
thành và hoạt động cố định đạm của cây
+ Vai trò của Magiê (Mg): Mg có trong thành phần của diệp lục nên vai trò
quan trọng nhất của Mg là quá trình quang hợp và trao đổi gluxit. Mg cùng với Ca
có tác dụng điều chỉnh pH đất và trong cây thích hợp cho vi khuẩn nốt sần phát triển
để tăng khả năng cố định đạm giúp cây sinh trưởng, phát triển tốt (Võ Thị Gương
biến dạng (Võ Minh Kha, 1996). Kẽm tham gia trực tiếp vào quá trình tổng hợp
diệp lục và ảnh hưởng tới quang hợp của cây. Zn có tác động tích cực trong việc
hình thành các vitamin nhóm B, C nên khi cây được cung cấp đầy đủ Zn sẽ thúc đẩy
quá trình tổng hợp vitamin, protein, lượng đường chứa saccaroza tăng
+ Vai trò của mangan (Mn): Mn đóng vai trò rất quan trọng cây như: hoạt
hóa nhiều enzim của chu trình Crebs và của quá trình khử nitrat, đặc biệt vai trò Mn
trong quang phân ly nước ở pha sáng của quang hợp. Mn có vai trò sinh lý trong
cây là tham gia vào quá trình oxi hóa chất hữu cơ trong hô hấp, Mn làm tăng hoạt
tính của các enzim chứa Fe và làm các phản ứng oxi hóa - khử hoạt động bình
thường. Mn kích thích sự hút lân, tăng hiệu lực của phân lân cũng như thúc đẩy quá
trình hô hấp thông qua vai trò xúc tiến oxi hóa các hydratcacbon tạo CO
2
và H
2
O.
Mn có tác dụng làm tăng hoạt động các enzim trong quá trình tổng hợp diệp lục
(Bùi Đình Dinh, 1999).
+ Vai trò của molypden (Mo): Mo có vai trò rất quan trọng trong trao đổi
nitơ, nó có mặt trong enzim nitratreductaza, nitrogenaza trong việc khử nitrat và cố
định nitơ phân tử nên Mo rất cần thiết cho cây họ đậu, Mo có tác dụng làm tăng sử
dụng lân. Mo còn có vai trò quan trọng trong việc vận chuyển các electron trong hệ
thống enzim thực hiện các phản ứng oxi hóa khử trong cây (Đường Hồng Dật,
2002), cây thiếu Mo có biểu hiện vàng lá và đình trệ sinh trưởng.
Như vậy, khi thiếu các nguyên tố vi lượng đều ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng
phát triển, năng suất và chất lượng sản phẩm thu hoạch. Ở Việt Nam, diện tích đất
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
canh tác bình quân đầu người trong vòng 65 năm qua đã giảm từ 2.548 m
2
(Nguyễn Thị Lẫm, 1994). Kết quả nghiên cứu trên 2 giống lúa ngắn ngày (Khang
Dân và giống mới chọn tạo) của Tăng Thị Hạnh (2013) cho thấy: khi tăng mức đạm
bón từ 0 đến 45kgN/ha đã làm tăng các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất ở cả
vụ xuân và vụ mùa. Khi nghiên cứu 3 dòng giống lúa chuyển gen, Jian et al (2014)
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14
cho thấy: năng suất của cả 3 dòng giống tăng từ mức bón 0 đến 90 và 135kgN/ha,
năng suất tăng có thể duy trì đến mức bón 180kgN/ha .
Viện Nông hoá thổ nhưỡng đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của đất, mùa vụ
và liều lượng phân đạm bón vào đến tỷ lệ đạm do cây lúa hút (Nguyễn Như Hà, 2006).
Không phải do bón nhiều đạm thì tỷ lệ đạm của lúa sử dụng nhiều. Ở mức phân đạm
80 kgN/ha, tỷ lệ sử dụng đạm là 46,6%, so với mức đạm này có phối hợp với phân
chuồng tỷ lệ đạm hút được là 47,4%. Nếu tiếp tục tăng liều lượng đạm đến 160N và
240N có bón phân chuồng thì tỷ lệ đạm mà cây lúa sử dụng cũng giảm xuống. Trên đất
bạc màu so với đất phù sa Sông Hồng thì hiệu suất sử dụng đạm của cây lúa thấp hơn.
Khi bón liều lượng đạm từ 40N - 120N thì hiệu suất sử dụng phân giảm xuống, tuy
lượng đạm tuyệt đối do lúa sử dụng có tăng lên (Cục Khuyến nông và Khuyến ngư,
1998). Kết quả nghiên cứu trên giống lúa chịu mặn (giống Cườm), Phạm Văn Cường
(2012) cho thấy: khi tăng nồng độ đạm từ 1,425mM đến 4,275mM diện tích lá và hàm
lượng diệp lục trong lá, tích lũy chất khô tăng sau 28 ngày trồng. Trên giống lúa Việt
Lai 20 khi giảm mức bón đạm từ 1,6g N/chậu 5 lít xuống mức thấp 0,8g N/chậu thì
diện tích lá giảm theo các thời kỳ theo dõi và cường độ quang hợp cũng giảm (Tăng
Thị Hạnh, 2008). Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Lan (2009), mức đạm bón khác
nhau (60, 90, 120 và 150 kgN/ha) đã ảnh hưởng đến chỉ số diện tích lá LAI ở các giai
đoạn đẻ nhánh rộ, trỗ và chín sáp. Kết quả cho thấy LAI tăng theo tuyến tính theo
lượng đạm bón ở mức tin cậy 95% .
Kết quả nghiên cứu sử dụng phân bón đạm trên đất phù sa sông Hồng của Viện
khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam đã tổng kết các thí nghiệm 4 mức đạm từ
năm 1992 đến năm 1994, kết quả cho thấy: Phản ứng của phân đạm đối với cây lúa phụ
thuần, ở mức năng suất 75 tạ/ha lúa lai hấp thu đạm thấp hơn lúa thuần 4,8%, hấp
thu lân thấp hơn 18,2% nhưng hấp thu kali cao hơn 30%. Với ruộng lúa cao sản thì
lúa lai hấp thu đạm cao hơn lúa thuần 10%, hấp thu kali cao hơn 45%, còn hấp thu
lân thì bằng lúa thuần (Nguyễn Thị Lẫm, 1994).
Kết quả thí nghiệm trong chậu cho thấy: Trên đất phù sa sông Hồng bón đạm
đơn độc làm tăng năng suất lúa lai 48,7% trong khi đó năng suất giống lúa CR203 chỉ
tăng 23,1%. Với thí nghiệm đồng ruộng, bón đạm, lân cho lúa lai có kết quả rõ rệt
(Cục Khuyến nông và Khuyến ngư, 1998). Nhiều thí nghiệm trong phòng cũng như
ngoài đồng ruộng cho thấy hiệu quả của đạm: 1kgN bón cho lúa lai làm tăng năng
suất 9-18kg thóc, so với lúa thuần thì tăng 2-13kg thóc. Như vậy, trên các loại đất có
vấn đề như đất bạc màu, đất gley khi các yếu tố khác chưa được khắc phục về độ
chua, lân và kali thì vai trò của phân đạm không phát huy được, do bón đạm, lân nên
năng suất lúa lai tăng có 17,7% trên đất bạc màu và 11,5% trên đất gley.
Với đất phù sa sông Hồng, bón đạm với mức 180kg/ha trong vụ xuân và
150kgN/ha trong vụ mùa cho lúa lai vẫn không làm giảm năng suất lúa. Tuy nhiên,
ở mức đạm bón 120kgN/ha làm cho hiệu quả cao hơn các mức khác (Nguyễn Như
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 16
Hà, 1999). Thời kỳ bón đạm là thời kỳ rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu lực
của phân để làm tăng năng suất lúa. Với phương pháp bón đạm (bón tập trung vào
giai đoạn đầu và bón nhẹ vào giai đoạn cuối) của Việt Nam vẫn cho năng suất lúa
cao, năng suất lúa tăng thêm từ 3,5 tạ/ha (Nguyễn Văn Bộ, 1998), (Nguyễn Thị
Lẫm, 1994), (Phạm Văn Toản, 2004).
Kết quả nghiên cứu thời kỳ bón đạm cho thấy rất rõ hiệu quả của phân đạm
trên đất phù sa sông Hồng đạt cao nhất ở thời kỳ bón lót từ 50-75% tổng lượng
đạm, lượng đạm bón nuôi đòng chỉ từ 12,5- 25%. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng
của phân đạm bón đối với lúa lai, Phạm Văn Cường và Cs (2005), cho thấy khi tăng
lượng đạm bón khả năng sinh trưởng của lúa lai tốt hơn, tăng diện tích lá, tăng khả
năng trao đổi khí CO
Năm 1994, kết quả thí nghiệm bón lân cho lúa của trường Đại học Nông
nghiệp II tại xã Thuỷ Dương - Huyện Hương Thuỷ (Thừa Thiên Huế) cho thấy:
Trong vụ xuân bón lân cho lúa từ 30-120 kg P
2
O
5
/ha đều làm tăng năng suất lúa từ
10 - 17%. Với liều lượng bón 90 kg P
2
O
5
là đạt năng suất cao nhất và nếu bón hơn
liều lượng 90 kg P
2
O
5
/ha thì năng suất có xu hướng giảm. Trong vụ hè thu, với
giống lúa VM1, bón supe lân hay lân nung chảy đều làm tăng năng suất rất rõ rệt
(Nguyễn Văn Bộ, 1998). Các thí nghiệm trong chậu và ngoài đồng đều cho thấy