1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN DANH KIÊN
PHÁP LUẬT VỀ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số : 60 38 50 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Doãn Hồng Nhung
Hà Nội – 2012 MỞ ĐẦU
1
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỬ DỤNG
ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM
1.
Tổng quan về đất nông nghiệp
5
1.1.
Đất – Tài nguyên đất ở Việt Nam
5
1.1.1.
Phân loại tài nguyên đất, nhóm đất nông nghiệp
8
1.1.2.
Vai trò, ý nghĩa của đất đai - đất nông nghiệp
11
1.2.
Khái quát quá trình phát triển của pháp luật đất đai về
sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam
15
1.2.1.
Thời kỳ từ năm 1945 đến 1954.
15
1.2.2.
Bảo vệ nghiêm ngặt đất nông nghiệp và đảm bảo an
ninh lương thực quốc gia
32
1.4.2.
Sử dụng đất nông nghiệp linh hoạt, tiết kiệm, hiệu quả
và bền vững.
34
CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ SỬ DỤNG ĐẤT
NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1.
Pháp luật về sử dụng đất nông nghiệp
38
2.1.1.
Các quy định pháp luật về giao đất nông nghiệp.
38
2.1.2.
Các quy định pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp.
47
2.1.3.
Các quy định pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi
đất nông nghiệp
51
2.1.4.
Các quy định pháp luật về giá đất.
HIỆN NAY
3.1.
Cơ sở, phương hướng hoàn thiện pháp luật đất nông
nghiệp.
79
3.1.1.
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin đối với đất đai
và nông nghiệp.
79
3.1.2.
Chủ trương, đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam
đối với đất đai và nông nghiệp.
84
3.1.3.
Nông nghiệp trong bối cảnh toàn cầu hoá.
92
3.2.
Các giải pháp nâng cao hiệu quả về sử dụng đất nông
nghiệp
95
3.2.1.
Hoàn thiện pháp luật trong sử dụng đất nông nghiệp.
95
3.2.1.1.
Sửa đổi các quy định về hạn mức, khắc phục tình
trạng ruộng đất manh mún, tiếp tục giao đất lâu dài
cho người sử dụng đất.
người nông dân.
105
3.3.4.
Áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, cải tạo giống, cơ
giới hoá, sản xuất theo hướng hàng hoá, năng xuất cây
trồng, tạo việc làm cho người nông dân khi thu hồi
đất. 106
KẾT LUẬN
109
TÀI LIỆU THAM KHẢO
111 6
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, Tôi đã nhận
được sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của thầy cô Khoa Luật - Đại
học Quốc gia Hà Nội, tôi xin chân thành cảm ơn đến thầy cô Khoa Luật - Đại
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƢỜI CAM ĐOAN Nguyễn Danh Kiên
8
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT BCHTƯ:
Ban chấp hành trung ương
CNTB:
Tư bản chủ nghĩa
Bảng 2. 1
Biến động đất nông nghiệp của cả nƣớc
Bảng 2.2 Mức độ manh mún đất đai ở một số tỉnh Bắc Bộ
10
Việc tự do hóa sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lúa gạo, đã giúp
Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo. Đồng thời, Việt Nam
còn là nước xuất khẩu các mặt hàng nông sản có giá trị lớn như: cà phê, sợi
bông, cao su, chè… Hiện nay, đất nông nghiệp ngày càng suy giảm nhanh
chóng một mặt do phải thu hồi nhiều diện tích đất nông nghiệp phục vụ xây
dựng cơ sở hạ tầng, sản xuất công nghiệp, xây dựng đô thị hoặc nhiều mục
đích khác nhau. Mặt khác nhiều năm gần đây hiện tượng biến đổi khí hậu, ô
nhiễm môi trường, các thảm hoạ thiên tai luôn đe doạ đến diện tích đất đai và
ảnh hưởng nghiêm trọng đến vấn đề an ninh lương thực quốc gia. Vì vậy, vấn
đề sử dụng có hiệu quả đất nông nghiệp là rất cấp bách và cần thiết.
Từ những lý do trên, tác giả luận văn chọn đề tài nghiên cứu: "Pháp
luật về sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam " với mong muốn góp phần
tìm ra những giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trong chính
sách pháp luật đất đai liên quan đến đất nông nghiệp hiện nay, trên cơ sở đó
nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp góp phần giải phóng sức lao
động, tính chủ động sáng tạo, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và quản lý
trong sản xuất nông nghiệp nâng cao hiệu quả trong sản xuất phục vụ cho
mục đích công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đặc biệt là đối với chính
sách xây dựng nông thôn mới của nước ta hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu, tính mới của đề tài 12
Hiện nay có rất nhiều công trình nghiên cứu các góc độ, khía cạnh
pháp lý khác nhau về đất nông nghiệp của các tác giả: PGS.TS. Trần Thị
Minh Châu chủ biên (2007), Về chính sách đất nông nghiệp ở nước ta hiện
nay - NXB Chính trị Quốc gia; Ths. Nguyễn Mạnh Tuân (2003-2004), Chính
sách đất đai nông nghiệp ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới: Thực trạng và
những vấn đề đặt ra, Khoa Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội; Tô Văn Châu
(2003), Tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với đất đai ở Việt
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định
liên quan đến chế độ pháp lý của nhóm đất nông nghiệp, chủ yếu là đối với
loại đất hàng năm trong đó tập trung đối với loại đất trồng lúa.
Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm các các
quy định pháp lý liên quan về sử dụng nhóm đất nông nghiệp, chủ yếu là đối
với đất nông nghiệp hàng năm - đất lúa. Thực trạng các quy định pháp luật từ
khi Luật đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành đến nay, nhằm đề xuất giải
pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật hiện hành góp phần nâng cao hiệu
quả quản lý, khai thác, sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh về nông nghiệp - nông
thôn. Sử dụng phương pháp thu thập thống kê, quan sát, so sánh…. nhằm
phân tích, đánh giá thực trạng của các quy định liên quan, đưa ra các kết luận
mang tính khoa học để hoàn thiện chính sách pháp luật trong sử dụng đất
nông nghiệp ở Việt Nam.
6. Ý nghĩa của luận văn
Về mặt lý luận: Đề tài luận văn có ý nghĩa làm rõ hệ thống lý luận, 14
những vấn đề pháp lý cơ bản về đất nông nghiệp. Từ đó có những nhận thức
mới, sâu sắc hơn đối với đất nông nghiệp. Bảo đảm nguyên tắc bảo vệ nghiêm
ngặt đất nông nghiệp và sử dụng có hiệu quả trong hoạt động khai thác sử
dụng, nhất là trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay.
Về mặt thực tiễn: Qua phân tích thực trạng của vấn đề pháp lý và thực
tiễn trong việc sử dụng đất nông nghiệp nhằm đưa ra các đề xuất kiến nghị
nhằm hoàn thiện cơ sở chính sách pháp luật, góp phần tăng cường hiệu quả
quản lý nhà nước, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động khai thác sử dụng
góc độ là tài sản…[51, tr.758] Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, năm 1998,
Đất là phần chất rắn, nơi người và động thực vật sinh sống; phân biệt với
biển, trời. Theo định nghĩa của Từ điển Bách Khoa Việt Nam 1, năm 1995,
Đất là lớp mỏng trên cùng của vỏ trái đất tương đối tơi xốp do các loại đá
phong hóa ra, có độ phì trên đó cây cỏ có thể mọc được. Đất được hình
thành do tác dụng tổng hợp của nước, không khí và sinh vật lên đá mẹ. Đất
có độ phì nhiêu ít hay nhiều và bao gồm các thành phần chất rắn, chất lỏng
(dung dịch đất), chất khí và sinh vật (động, thực vật, vi sinh vật). Đất được
phân loại theo kiểu phát sinh: Đất đỏ Bazan; đất phù sa; đất phù sa cổ;
đất rừng xám; đất Potzon; đất mặn kiềm hay chua mặn,vv. Đất đồng bằng
tùy thuộc các quy luật phân vùng theo địa giới; đất miền núi chịu sự chi
phối của chiều cao. Trong nông, lâm nghiệp, đất được phân hạng thành các
loại theo khả năng sử dụng và yêu cầu bảo vệ đất: Đất rừng, đất trồng cây
hàng năm, cây lâu năm, đất chăn thả, đất thổ cư, đất chuyên dùng (giao
thông, xây dựng, thủy lợi, du lịch, vv).
Đất đai là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học nên có nhiều
cách nhận thức khác nhau về đất đai. Đối với ngành khoa học thổ nhưỡng, đất
đai với tư cách là đối tượng nghiên cứu nhằm làm rõ quá trình hình thành, quy 16
luật phân bố các loại đất trên địa cầu cùng những đặc tính khác nhau của các
loại đất nên những thành tựu nghiên cứu của ngành khoa học thổ nhưỡng là
hệ thống tri thức tương đối đầy đủ về nhận thức khoa học về đất đai. Định
nghĩa đất của Đacutraep – nhà thổ nhưỡng học người Nga được thừa nhận
rộng rãi nhất. Theo tác giả: Đất là vật thể tự nhiên được hình thành qua một
thời gian dài do kết quả tác động tổng hợp của 5 yếu tố: đá mẹ, sinh vật, khí
hậu, địa hình và thời gian. Các loại đá và khoáng chất cấu tạo nên vỏ trái đất
dưới tác động của khí hậu, sinh vật địa hình trải qua một thời gian nhất định
dần dần bị vụn nát. Chính con người tác động và đất đã làm thay đổi nhiều
nhưng chỉ chiếm 16,4% tổng diện tích đất nông nghiệp của cả nước. Trong
khi đó, đồng bằng sông Hồng chiếm 3,78% diện tích đất tự nhiên nhưng
chiếm 8,7% diện tích đất nông nghiệp. Đồng bằng sông Cửu Long chiếm
11,95% diện tích đất tự nhiên, nhưng chiếm 34,30% tổng diện tích đất nông
nghiệp.
Diện tích đất tự nhiên và đất nông nghiệp trên đầu người ngày càng
giảm do tốc độ tăng dân số cao, sự phát triển mạnh của các yếu tố như đô thị
hoá, công nghiệp hoá và các cơ sở hạ tầng mà ở đó chủ yếu là đất nông
nghiệp bị chuyển đổi mục đích sang các hoạt động kinh tế khác với số lượng
ngày càng tăng. Diện tích đất trung bình trên đầu người thuộc loại thấp trên
thế giới, diện tích đất trung bình trên đầu người là 0,46 ha, đứng thứ 10 trong
khu vực Đông Nam Á, đứng thứ 135 trong tổng số 200 nước trên thế giới.
Bình quân đất nông nghiệp trên đầu người của Việt Nam chỉ còn dưới 0,11
ha, thuộc nhóm 7 là nhóm các nước có diện tích đất nông nghiệp trên đầu
người thấp trên thế giới [3, tr 49]. Do đó chính sách pháp luật đất nông nghiệp
đóng vai trò quan trọng trong việc khai thác tài nguyên đất đai nhằm phát
triển kinh tế xã hội của nước ta.
1.1.2. Phân loại đất đai, nhóm đất nông nghiệp theo pháp luật ở
Việt Nam 18
Phân loại đất là việc phân chia đất thành từng nhóm hay các loại đất
khác nhau với những tên gọi đặc trưng nhằm mục đích tạo điều kiện cho việc
nghiên cứu bản chất, quá trình phát sinh, phát triển của từng loại đất khác
nhau từ đó đề ra phương hướng quản lý và sử dụng hiệu quả. Khoa học
nghiên cứu về đất, đặc biệt là ngành thổ nhưỡng nghiên cứu về đất đã tiến
hành phân loại đất nhằm kiến giải các hiện tượng, tính chất đặc điểm tự nhiên
của đất đai nhằm phục vụ cho sử dụng khai thác hợp lý đất đai nhất là đối với
ngành kỹ thuật trồng trọt. Dựa trên những đặc điểm tự nhiên của đất và những
- Nhóm đất nông nghiệp;
- Nhóm đất phi nông nghiệp;
- Nhóm đất chưa sử dụng;
Như vậy, chúng ta đã mở rộng khái niệm đất nông nghiệp với tên gọi
“nhóm đất nông nghiệp” thay cho “ đất nông nghiệp” trước đây. Theo quy
định của Luật đất đai năm 2003, có thể hiểu nhóm đất nông nghiệp là tổng thể
các loại đất có đặc tính sử dụng giống nhau, với tư cách là tư liệu sản xuất chủ
yếu phục vụ cho mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp như trồng trọt,
chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng rừng, khoanh nuôi tu bổ bảo vệ rừng,
nghiên cứu thí nghiệp về nông nghiệp, lâm nghiệp. Cụ thể tại Khoản 1 Điều
13 của Luật đất đai năm 2003 và Thông tư số 28/2004/TT-BTNMT ngày 01
tháng 01 năm 2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn thực
hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất,
nhóm đất nông nghiệp gồm các loại đất như sau:
Một là, đất trồng cây hàng năm: Đó là đất chuyên trồng các loại cây có
thời gian sinh trưởng từ khi gieo trồng tới khi thu hoạch không quá một năm
kể cả đất sử dụng theo chế độ canh tác không thường xuyên, đất cỏ tự nhiên
có cải tạo sử dụng vào mục đích chăn nuôi; bao gồm đất trồng lúa, đất cỏ 20
dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác. Ở nước ta, diện tích đất
này tập trung chủ yếu ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long
và một phần đồng bằng duyên hải miền Trung. Trong khi đó các tỉnh miền núi
phía Bắc diện tích đất hàng năm phục vụ cho trồng lúa đảm bảo lương thực
đồng bào miền núi còn rất hạn chế, điều kiện canh tác rất khó khăn.
Hai là, đất trồng cây lâu năm: Đất trồng cây lâu năm là đất trồng các
loại cây có thời gian sinh trưởng trên một năm từ khi gieo trồng tới khi thu
hoạch kể cả cây có thời gian sinh trưởng như cây hàng năm nhưng cho thu
hoạch trong nhiều năm như thanh long, chuối, dứa, nho, v.v.; bao gồm đất
lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy sản, xây dựng cơ sở ươm tạo cây giống, con
giống; xây dựng kho, nhà của hộ gia đình, cá nhân để chứa nông sản, thuốc
bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ sản xuât nông nghiệp.
Trong phạm vi luận văn, tác giả chỉ đề cập nghiên cứu đất nông nghiệp
đối với đất hàng năm chủ yếu là đất lúa nhằm phân tích thực trạng sử dụng
loại đất này để đưa ra các giải pháp hoàn thiện, tăng khả năng khai thác, sử
dụng hợp lý, kết hợp yếu tố sản xuất hiệu quả, đảm bảo bền vững trong việc
sử dụng trước những yêu cầu cấp thiết hiện nay.
1.1.3. Vai trò, ý nghĩa của đất đai - đất nông nghiệp
Dưới góc độ chính trị, pháp lý: Đất đai là một bộ phận không thể
tách rời của lãnh thổ quốc gia, nó gắn liền với chủ quyền của một nhà
nước. Xâm phạm đất đai là xâm phạm chủ quyền lãnh thổ quốc gia. Nhà
nước là đại diện cho chủ quyền quốc gia có quyền và trách nhiệm thực
hiện các biện pháp quản lý, bảo vệ đất đai khỏi sự xâm phạm từ bên ngoài.
Đất nông nghiệp có vị trí quan trọng và được coi là một trong những đảm bảo
cho sự ổn định an toàn cho tồn tại và phát triển của đất nước. 22
Dưới góc độ kinh tế - xã hội: Các Mác cho rằng, đất là một phòng thí
nghiệm vĩ đại, là kho tàng cung cấp các tư liệu lao động, vật chất, là vị trí để
định cư, là nền tảng của tập thể. Khi nói về vai trò ý nghĩa của đất đối với sản
xuất xã hội, Mác khẳng định: “ Lao động không phải là nguồn duy nhất sinh
ra của cải vật chất và giá trị tiêu thụ” Hay như William Petti (1622-1687) nhà
sáng lập khoa kinh tế chính trị hiện đại đã tổng kết: “Lao động chỉ là cha của
của cải vật chất, còn đất là mẹ”. Nhà sử học Phan Huy Chú qua nghiên cứu
thực tiễn đã rút ra kết luận: “Của cải của một nước không gì bằng đất đai,
nhân dân và của cải do đấy mà sinh ra”. Tất cả những nhận định trên cho thấy
đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng có vai trò đối với đời sống
kinh tế xã hội là hết sức to lớn.
người sử dụng đất. Trong những năm gần đây hầu hết các lý luận kinh tế
đều thừa nhận: sức lao động, vốn tài chính, đất đai là những nguồn lực đầu
vào của nền kinh tế và đầu ra là sản phẩm hàng hóa, bao gồm cả hàng hóa
và dịch vụ. Do đó đất đai là động lực quan trọng để thúc đẩy kinh tế - xã hội
phát triển.
Đất đai trong nền kinh tế thị trường và bối cảnh hội nhập nền kinh tế
xã hội, cũng như tiến trình CNH - HĐH của nước ta hiện nay có ý nghĩa sâu
sắc. Vì vậy, sử dụng có hiệu quả đất đai luôn là vấn đề hệ trọng, nó ảnh
hưởng trực tiếp đến đời sống và lợi ích của các giai cấp, tầng lớp dân cư
trong xã hội.
Việc quản lý tài nguyên đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói
riêng rất cần thiết nhằm phát huy những lợi thế về tài nguyên và giải
phóng nguồn lực tạo nên bước đột phát trong phát triển kinh tế xã hội,
giữ vững ổn định và an ninh lương thực của mỗi quốc gia trên thế giới.
Đối với Việt Nam, khi chúng ta cơ bản vẫn là nước nông nghiệp hầu hết
bộ phận dân cư vẫn sinh sống ở nông thôn, sinh kế ổn định chủ yếu vẫn
dựa vào nông nghiệp. Quá trình CNH-HĐH góp phần thúc đẩy mạnh mẽ
sự phát triển kinh tế đất nước nhưng việc thu hồi đất nông nghiệp cho 24
phát triển công nghiệp, xây dựng và các mục đích khác làm cho bộ phận
dân cư sinh sống bằng nông nghiệp bị “tổn thương” do thiếu việc làm,
sinh kế của họ mất đi mà không hoặc khó có thể thay thế được bằng sinh
kế khác, nguy cơ bất ổn xã hội tiềm ẩn khi nhà nước thực hiện các chính
sách về đất đai nhất là khi thu hồi đất nông nghiệp phục vụ cho các nhu
cầu phi nông nghiệp. Chúng ta phải thừa nhận rằng vấn đề giải quyết
việc làm và giải quyết các vấn đề xã hội như nhà ở, điều kiện làm việc,
đạo đức văn hoá truyền thống trong bối cảnh chúng ta đang “ưu ái”
phát triển công nghiệp hiện nay đang xuất hiện nhiều vấn đề nan giải,
hài hòa giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, giữa lợi ích cục bộ và lợi ích
toàn cục, giữa lợi ích kinh tế và lợi ích văn hóa - xã hội [ 49 ]
1.2. Khái quát quá trình phát triển của pháp luật đất đai về đất
nông nghiệp ở Việt Nam
1.2.1. Thời kỳ từ năm 1945 đến 1954
Sau Cách mạng Tháng Tám, chính quyền nhân dân vừa mới được thành
lập đã phải đương đầu với những khó khăn, thử thách rất nghiêm trọng đất
nước bị kẻ thù bao vây từ nhiều phía. Thù trong giặc ngoài câu kết với nhau.
nạn đói dịch bệnh xảy ra triền miên khắp cả nước. Đứng trước tình thế đó,
Đảng và Chính phủ ra sức củng cố chính quyển nhân dân và chăm lo phát
triển kinh tế.
Sắc lệnh ngày 22/9/1945, Chính Phủ đã ban hành sắc lệnh nằm xoá bỏ
chế độ chiếm đoạt đất đai của thực dân, đế quốc thu hồi về tay nông dân. Đến
Sắc lệnh ngày 26/10/1945 ban hành nhằm thúc đẩy các phương thức chấn
hưng nông nghiệp quy định “những điền sản và hoa lợi không bị chia, ai cày
cấy, trồng trọt thì được hưởng khuyến khích dân quê và thành thị ra sức trồng
trọt không nên bỏ phí một tấc đất nào”. Đây là chính sách vô cùng cần thiết
trong giai đoạn lịch sử này nhằm ổn định cuộc sống của người dân.