Hợp tác kiềm chế giữa các nước lớn thập niên 90 - Pdf 28

Đặc điểm hợp tác và kiềm chế giữa các nớc lớn.
Lời mở đầu
Dù ở bất kỳ giai đoạn nào, quan hệ quốc tế cũng bào hàm những rối
ren và phức tạp. Để lý giải sự vận động của thế giới thì việc nghiên cứu và
tìm hiểu nó là hết sức cần thiết nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi mà tình
hình thế giới có những biến chuyển lớn, sâu sắc và phức tạp. Chiến tranh
lạnh kết thúc, thế giới đành bớc vào một thời kỳ mới trong quan hệ quốc tế.
Quan hệ giữa các nớc lớn luôn là mối quan tâm của thế giới, điều này cũng
dễ hiểu bởi quan hệ giữa các nớc lớn luôn có ảnh hởng quan trọng trong đời
sống quan hệ quốc tế. Thế giới đang hình thành những mối quan hệ quốc tế
mới trong phạm vi toàn cầu, có nhiều nhân tố tích cực trong hoà bình, ổn
định và hợp tác. Tuy nhiên, ở nhiều khu vực đã và đang xuất hiện những
nhân tố bất trắc mới gây ra bất ổn định không lờng trớc đợc. Quan hệ giữa
các nớc lớn tốt lên hay xấu đi đều có ảnh hởng rất sâu sắc đối với thế giới.
Bởi vậy em đã chọn đề tài Đặc điểm hợp tác và kiềm chế giữa các n ớc
lớn từ thập niên 90 đến nay để làm đề tài của mình.
Trong khuôn khổ của bài khoá luận tốt nghiệp này, do thời gian
nghiên cứu và tiếp cận vấn đề còn nhiều hạn chế cho nên em chỉ xin tập
trung vào đặc điểm vừa hợp tác vừa kiềm chế giữa các nớc lớn trong lĩnh vực
chính trị, kinh tế, những lĩnh vực đợc cho là nóng bỏng và đợc thế giới quan
tâm nhất hiện nay.
Đề tài gồm ba chơng (không kể mục lục, lời mở đầu và kết luận)
Chơng 1
Những nhân tố tác động đến quan hệ giữa các nớc lớn thời kỳ sau
chiến tranh lạnh
Chơng 2
Hợp tác và kiềm chế giữa các nớc lớn từ thập niên 90 đến nay
Chơng 3
Tống Thị Hoài Hơng - ĐN1 - K5
1
Đặc điểm hợp tác và kiềm chế giữa các nớc lớn.

Mỹ . Trớc năm 1939 , Mỹ và các nớc đế quốc muốn lợi dụng con bài phát xít
để tiêu diệt Liên xô . Đây là một cuộc đụng đầu thử thách quyết liệt giữa hai
thế lực tiến bộ và phản động trên thế giới . Chính nhờ vậy mà sau thắng lợi
có tính quyết định của Liên Xô trong cuộc chiến tranh chống phát xít đã làm
cho uy tín của Liên Xô đợc nâng cao và trở thành một yếu tố trong việc hình
thành một trật tự thế giới mới sau chiến tranh . Đặc biệt , từ sau chiến tranh
lần thứ hai kết thúc , Liên Xô bớc ra vũ đài chính trị thế giới với một vị thế
mới , một vị thế hết sức quan trọng , là một cực đối trọng với Mỹ nói riêng và
TBCN nói chung . Đây là nguyên nhân dẫn tới cuộc chiến tranh lạnh , cuộc
đối đầu Đông - Tây Giữa một phe là XHCN , một phe là TBCN , đại diện là
Liên Xô và Mỹ . một cuộc chiến có một không hai trong lịch sử nhân loại
Tống Thị Hoài Hơng - ĐN1 - K5
3
Đặc điểm hợp tác và kiềm chế giữa các nớc lớn.
kéo dài hơn 40 năm mà tổn thất của nó có lẽ còn để lại hậu quả cho tới ngày
hôm nay .
Lo ngại trớc ảnh hởng ngày càng lớn mạnh của Liên Xô và hệ thống
XHCN trên toàn thế giới , Mỹ và các nớc phơng Tây đã cấu hợp tác với nhau
để tìm cách đối phó . Tháng 3 / 1947 , tổng thống Mỹ Truman đã chính thức
phát động cuộc chiến tranh lạnh chống lại Liên Xô và các nớc XHCN . Vậy
chiến tranh lạnh là gì ?
Chiến tranh lạnh là một kiểu chiến tranh đặc biệt , một cuộc chiến tranh
không hề có tiếng súng . Có thể nói đây la một cuộc chiến hết sức phức tạp ,
họ tìm mọi cách để tiêu diệt đối thủ . Mỹ phát động chiến tranh lạnh để
nhằm tiêu diệt Liên Xô , tiêu diệt CNCS . Mỹ cho rằng chừng nào còn
CNXH thì CNTB còn bị đe dọa mà Mỹ là nớc đầu tiên . Mỹ không muốn thế
giới cùng tồn tại hai cực mà Mỹ chỉ muốn thế giới một cực do Mỹ chi phối .
Thực chất chiến tranh lạnh là một cuộc chạy đua vũ trang . Mỹ nhận thấy
rằng giải quyết tranh chấp bằng chiến tranh nóng không còn là giải pháp tốt
nữa . Tuy nhiên , cuộc chiến tranh này không những gây ra thiệt hại nặng nề

II .
Trật tự thế giới sau năm 1945 thực chất là cuộc đối đầu gay gắt giữa hai
hệ thống chính trị XH, nhằm đấu tranh, phủ định lẫn nhau. Xét về mặt hình
thức, đây là mối quan hệ quốc tế song phơng lớn nhất giữa hai quốc gia có
thể chế chính trị hoàn toàn khác nhau mang tinh đấu tranh và phủ định lẫn
nhau. Cả hai đều là các quốc gia hùng mạnh nhất. Về bản chất , do khả năng
và thực lực mỗi bên cùng với sự công nhận pháp lý tại hội nghị Yalta, cả
Liên Xô và Mỹ đều có quyền lợi và nghĩa vụ trong việc quyết định các vấn
đề quốc tế cho nên trong cùng một thời điểm hai nớc vừa là địch thủ vừa là
những đối tác bất đắc dĩ trong việc phân chia chịu trách nhiệm trớc vận mệnh
của nền hoà bình thế giới.
Trong giai đoạn này, hệ thống TBCN trải qua những biến đổi sâu sắc
trong so sánh lực lợng có lợi cho Mỹ. Các đối thủ hùng mạnh có khả năng
cạnh tranh với Mỹ là Đức, ý, Nhật nay đều trở thành nớc bại trận, còn Anh ,
Pháp tuy thắng trận nhng đều bị thiệt hại nặng nề và kiệt quệ sau chiến tranh.
Trong khi đó, nhờ chiến tranh Mỹ thu dợc 114 tỷ USD nhờ bán vũ khí, trở
thành một quốc gia hùng mạnh nhất trong hệ thống TBCN. Nền kinh tế Mỹ
Tống Thị Hoài Hơng - ĐN1 - K5
5
Đặc điểm hợp tác và kiềm chế giữa các nớc lớn.
chiếm 52% GNP thế giới , là chủ nợ lớn nhất nắm giữ 70% lợng vàng dự trữ
thế giới. Về quân sự, ngoài lực lợng hải quân hùng mạnh, đợc trang bị vũ khí
và thiết bị hiện đại Mỹ còn nắm độc quyền về vũ khí hạt nhân trong lúc bấy
giờ. Với tiềm lực to lớn nh thế Mỹ đã vơn lên nắm vai trò lãnh đạo trong hệ
thống TBCN và mở rộng phạm vi ảnh hởng trên mọi khu vực trên thế giới.
Không những thế Mỹ còn tham vọng làm bá chủ thế giới. Mỹ hoàn toàn có
thể thực hiện đợc điều đó nếu không gặp phải sự ngáng trở của Liên Xô. Đây
là trở ngại lớn nhất mà Mỹ muốn tiêu diệt để thực hiện tham vọng của mình.
Mỹ đề ra mục tiêu :
-Chiến lợc u tiên hàng đầu là ngăn chặn Liên Xô , tiến tới xoá bỏ lực l-

Từ đầu những năm 70, thế giới t bản hình thành ba trung tâm Mỹ, EU.
Nhật Bản, ba trung tâm vừa thống nhất vùa đấu tranh gay gắt để chia sẻ
quyền lợi. Cũng trong giai đoạn này phong trào cộng sản và công nhân quốc
tế phát triển mạnh mẽ cả chiều rộng lẫn chiều sâu, trở thành một dòng thác
cách mạng, ngay cả trong lòng các nớc TBCN cuộc đấu tranh này đã góp
phần từng bớc đánh đổ từng bộ phận của CNĐQ .
Giai đoạn này, hệ thống XHCN từ chỗ chiếm vị thế cân bằng chiến lợc
so với CNĐQ trên nhiều lĩnh vực đã chiếm đợc u thế. Song, do những yếu tố
khách quan và chủ quan CNXH thế giới dần mắc phải những sai lầm nghiêm
trọng, do không khắc phục đợc kịp thời nên đã rơi vào khủng hoảng nghiêm
trọng và toàn diện. Nhất là từ năm 80 trở đi , do sai lầm trong đờng lối cải tổ,
chế đọ xã hội ở Liên Xô và Đông Âu dần mất đi u thế và vị thế của mình
trong cục diện chính trị quốc tế .
Mỹ cũng thấy rằng không thể dùng sức mạnh quân sự để bao vây tiêu
diệt Liên Xô đợc nên cũng từ đây Mỹ thay đổi cơ bản chính sách với Liên
Xô và các nớc XHCN từ ngăn chặn đến vợt lên ngăn chặn . Với chính
sách này, bên ngoài Mỹ vẫn tiếp tục duy trì lực lợng quân sự lớn làm hậu
thuẫn, mặt khác, Mỹ chú trọng hơn đến việc dùng vũ khí tuyên truyền và sức
mạnh đồng đô la đến đánh sâu vào bên trong lòng Liên Xô và các nớc
XHCN Đông Âu. Nguy hiểm hơn, đối tợng chủ yếu của chiến lợc này là
nhằm vào Đảng Cộng Sản lực lợng đầu não đang lãnh đạo Liên Xô và các
nớc XHCN, tuyên truyền dân chủ đa nguyên làm thoái hoá biến chất đội
Tống Thị Hoài Hơng - ĐN1 - K5
7
Đặc điểm hợp tác và kiềm chế giữa các nớc lớn.
ngũ lãnh đạo cao cấp của Đảng, tiến tới làm chệch hớng XHCN và đi đến
làm sụp đổ chế độ XHCN ở các nớc này.
Khi nhắc tới chiến tranh lạnh không thể không nhắc tới cuộc chạy đua
vũ trang. Đây là một cuộc chiến hết sức khốc liệt. Nó đợc ví nh một cuộc
chạy dài hơi, khiến cả hai bên đều chịu những thiệt hại nặng nề mà hậu quả

mình . Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc cùng với sự tan rã của thế giới hai
cực . QHQT mở ra một thời kì mới đó là xu hớng đa phơng hoá, đa dạng hoá.
Trật tự thế giới cũ bị mất đi một trong hai siêu cờng, so sánh lực lợng trên thế
giới trên bình diện toàn cầu từ chỗ cân bằng chuyển sang hớng có lợi cho
TBCN nói chung và Mỹ nói riêng. Trật tự thế giới đang trong quá trình hình
thành không phải là một cực do Mỹ chi phối lãnh đạo nhng cũng không phải
hẳn là đa cực. Do vậy khi nói đến các trung tâm quyền lực là nói đến thực lực
và mối liên quan giữa các trung tâm này , đó là các nớc lớn nh Mỹ, EU, Nhật
Bản, Trung Quốc, Nga... Các nớc đều xác lập và củng cố những điều kiện
quốc tế có lợi, mở rộng môi trờng hợp tác quốc tế, xây dựng cho mình một
chính sách đối ngoại độc lập nhất quán và ít phụ thuộc hơn, trên cơ sở đó xây
dựng các mối quan hệ theo kiểu bạn bè đối tác chiến lợc can bằng, ổn định
và lâu dài ở các cấp độ khác nhau. Sự sụp đổ của thế giới hai cực đã dẫn tới
một xu hớng phân chia và tập hợp các lực lợng mới giữa các quốc gia. Do
vậy quan hệ giữa các nớc lớn cũng có những điều chỉnh nhanh chóng, quan
trọng và sâu sắc. Từ chỗ mất cân bằng chuyển sang cân bằng hơn, tìm kiếm
ổn định, kiềm chế bất đồng tránh những xung đột mang tính chất đối kháng.
Giữa các nớc lớn đã từng bớc hình thành các cặp quan hệ đối tác chiến lợc.
Xu hớng của thế giới hiện nay theo các học giả cho rằng đó là xu hớng đa
cực hoá. Bên cạnh đó các nớc vừa và nhỏ cũng điều chỉnh chính sách đối
ngoại cho phù hợp với môi trờng quốc tế mới. Tất cả các nớc đều có chiều h-
ớng chung là thi hành một chính sách đối ngoại độc lập theo chiều hớng đa
dạng hoá , tập hợp trên cơ sở lợi ích song trùng, quan hệ tuỳ thuộc trên nhiều
bình diện khác nhau cả về kinh tế, chính trị cũng nh an ninh ngày càng chặt
chẽ và đang trở lên phổ biển ở khắp mọi nơi trên thế giới. Với trào lu này thì
ngày càng ngày nhiều vấn đề vợt ra ngoài ranh giới của một quốc gia mà
không thể bằng ngoại giao song phơng có thể giải quyết đợc .
Tống Thị Hoài Hơng - ĐN1 - K5
9
Đặc điểm hợp tác và kiềm chế giữa các nớc lớn.

10
Đặc điểm hợp tác và kiềm chế giữa các nớc lớn.
Mô hình hai cực của hệ thống quan hệ quốc tế bị phá vỡ, Mỹ mất đi một
đối trọng, cũng là đối thủ mạnh trên chính trờng quốc tế. Đây là thời cơ cần
phải chớp lấy để xác lập một trật tự thế giới đơn cực do Mỹ lãnh đạo. Mỹ
cho rằng với sức mạnh tổng hợp ( quân sự , KT , KHKT , chính trị ) của
mình Mỹ có thể áp đặt mô hình Mỹ, phổ biến các giá trị và lối sống Mỹ ra
khắp mọi nơi trên hành tinh. Đó là mong muốn và mục tiêu chiến lợc nhng
không dễ gì đợc nhân dân các nớc chấp nhận. Sự kiện Mỹ bị khủng bố ngày
11/ 9/ 2001 cho thấy chính sách sử dụng tuỳ tiện sức mạnh của Mỹ đã đa
lại các giá trị phải trả đắt đến nh thế nào. Alechxandor Konovalov trong
những sự kiện vẽ lên khuôn mặt thế kỷ XX của thông tấn xã Việt Nam ( tài
liệu tham khảo đặc biệt 4/1/2001) đã nhận định nói chung chính sách của
Mỹ đã xuất hiện những triệu chứng của căn bệnh rất nguy hiểm , mà ta tạm
gọi là triệu chứng của nhà khổng lồ cô đơn .
Chiến tranh lạnh kết thúc, nhất là trong giai đoạn hiện nay thì việc chạy
đua vũ trang đã trở lên lỗi thời, thế giới đã và đang thay đổi một cách sâu sắc
theo một xu hớng mới. Hiện nay việc phát triển của tất cả các quốc gia trên
thế giới đợc đặt lên vị trí u tiên hàng đầu và đây cũng là thời kỳ diễn ra mạnh
mẽ quá trình toàn cầu hoá và khu vực hoá trên rất nhiều lĩnh vực. Một số
hình thức biểu hiện qua những diễn đàn toàn cầu nh Liên Hợp Quốc, WTO
Việc phát triển nền kinh tế vững mạnh là điều sống còn với các quốc gia dân
tộc, nó quyết định vị thế của các quốc gia trên trờng quốc tế .
Ngày nay tính tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia ngày càng tăng,
cùng với xu hớng toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ. Mỹ không thể một
mình giải quyết đợc tất cả các vấn đề trên thế giới, mà ngợc lại cần có sự
phối hợp của nhiều nớc. Trong bối cảnh đó các cờng quốc nh Nga, Tây Âu,
Nhật Bản, Trung Quốc đều đang cố gắng vơn lên tạo cho mình một vị thế có
lợi hơn, nhằm chia sẻ quyền lực, chi phối đời sống QHQT. Họ không muốn
và không chịu để cho Mỹ múa cây gậy chỉ huy để khống chế thế giới.

luật cho sự phát triển. Một nhân tố khác thúc đẩy sự tăng trởng kinh tế là sự
tăng nhanh của nền ( kinh tế thế giới ) thơng mại thế giới theo hớng tự do
hoá. Tuy nhiên sự phát triển của nền kinh tế thế giới là không đồng đều giữa
các nớc. Đây vẫn là một xu thế không thể đảo ngợc. Một điều nghịch ký là
càng phát triển thì hố ngăn cách giữa các nền kinh tế thế giới lại càng rộng
Tống Thị Hoài Hơng - ĐN1 - K5
12
Đặc điểm hợp tác và kiềm chế giữa các nớc lớn.
ra. Sự phát triển của nền kinh tế thế giới diễn ra chủ yếu ở ba trung tâm t bản
lớn là Mỹ, Nhật và Tây Âu. Quá trình liên kết kinh tế khu vực hoặc đại khu
vực cũng chỉ ở trình độ thấp dới dạng tự do mậu dịch hay liên minh thuế
quan. Đặc điểm nổi bật nhất trong giai đoạn này là xu thế toàn cầu hoá kinh
tế, đây là một xu thế khách quan . Một quốc gia sẽ không thể phát triển nếu
nh không mở cửa hội nhập. Tuy vậy , hội nhập một nặt đón nhận đợc cơ hội
phát triển , song mặt khác phải đối mặt với hàng loạt thách thức đặt ra. Toàn
cầu hoá và khu vực hoá bên cạnh mặt tích cực thì nó cũng có một số hạn chế,
nó làm cho cạnh tranh giữa các nớc và các khu vực trở lên hết sức khốc liệt
và có xu hớng dẫn đến chế độ bảo hộ mậu dịch khu vực. Phần thiệt thòi luôn
thuộc về những nền kinh tế yếu kém hơn. Quá trình toàn cầu hoá còn có tác
động đến lĩnh vực chính trị, dẫn đến sự hình thành các tổ chức chính trị quốc
tế đặc biệt là LHQ. Toàn cầu hoá tạo ra cơ hội lớn cho sự phát triển, nhất là
vấn đề kinh tế, tuy nhiên đó cũng là quá trình cho chủ nghia t bản nuôi hi
vọng riêng của mình cho toàn cầu : muốn thông qua toàn cầu hoá buộc các
nớc phải lệ thuộc vào mình, tạo nguy cơ đánh mất bản sắc dân tộc, đánh mất
độc lập tự chủ của mỗi quốc gia. Nhng cũng cần thấy rằng đây là xu hớng tât
yếu của kinh tế thế giới, khi lực lợng sản xuất đã vợt ra khỏi biên giới của
mỗi quốc gia. Cùng với sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật
dẫn đến sự thay đổi cơ cấu của lực lợng sản xuất. Cuộc chạy đua về vốn và
khoa học công nghệ diễn ra trên phạm vi toàn cầu. Các nớc đấu tranh và hợp
tác để cùng tồn tại , mục đích cốt yếu là có thể phát triển tối đa mức có thể

này thể hiện sự biến đổi không ngừng trong QHQT ở mọi thời kì , mọi lĩnh
vực . Mỗi một thời kì , một giai đoạn phát triể , QHQT đều mang đậm dấu ấn
riêng của thời k , giai đoạn đ . Đặc điểm bao trùm toàn bộ QHQT thời kì
chiến trnh lạnh chủ yếu là cuộc đối đầu Đông Tây, giữa hai siêu cờng là
Liên Xô và Mỹ, là đại diện cho XHCN và TBCN. Bản chất của chiến tranh
lạnh là Xô - Mỹ giành giật bá quyền trên phạm vi toàn cầu, đơng nhiên là cả
về ý thức hệ. Nhng nguyên nhân căn bản là phe nào cũng muốn kiểm soat thế
giới theo ý muốn của mình. Sự đụng đầu hai cực của thế giới diễn ra gay gắt
trên mọi phơng diện. Sự đối đầu trực tiếp đã đẫn đến một cuộc chạy đua vũ
trang lớn cha từng có. Sự đối đầu giữa hai cực của thế giới chi phối toàn bộ
đời sống QHQT thơi kì chiến tranh lạnh. Hai thế lực thù địch luôn tìm cách
Tống Thị Hoài Hơng - ĐN1 - K5
14
Đặc điểm hợp tác và kiềm chế giữa các nớc lớn.
chống mphá nhằm xoá bỏ nhau do sự đối lập về lợi ích , hệ t tởng. Một tham
vọng xuyên suốt trong tất cả các chính sách đối ngoại của Mỹ qua mọi thời
kì đó là : tham vọng bá chủ thế giới. Với tiềm lực to lớn của Mỹ thì tham
vọng đó có thể đạt đợc, nếu không có sự ngáng trở của một siêu cờng lớn
mạnh không kém là Liên Xô. Bởi vậy, Mỹ tìm mọi cách để loại bỏ đối thủ
của mình là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, với sự sụp đổ của Liên Xô và các nớc
Đông Âu đã dẫn đến CNXN thoái trào với sự sụp đổ. Chiến tranh kết thúc
( 1991 ), đã phá vỡ thế đối đầu giữa hai cực, làm thay đổi hoàn toàn cục diện
của thế giới. Chạy đua vũ trang và chiến tranh cục bộ hay các cuộc đối đầu
trực tiếp đã không còn nữa. Các cuộc chạy đua vũ trang, chạy đua vũ khí hạt
nhân, vũ khí sinh học đã trở nên lỗi thời. Các hình thức đối đầu cạnh tranh
trong thời kì chiến tranh lạnh đã đợc thay thế bằng hợp tác để phát triển kinh
tế. Sau chiến tranh lạnh kết thúc, phát triển kinh tế là u tiên hàng đầu cùng
với xu thế toàn cầu hoá. Chính sách đối ngoại của các nớc đa ra nói chung là
hoà dịu hơn.


điểm ý thức hệ, lịch sử, văn hóa giữa các quốc gia luôn là nhân tố chủ yếu
chi phối vấn đề xung đột và hợp tác. Sự xung đột diễn ra nhiều cấp độ, tầng
nấc khác nhau bên cạnh đó là sự hợp tác với mục đích cùng nhau phát triển.
Các nớc lớn đều muốn vơn lên là nớc có ảnh hởng lớn trong quan hệ quốc tế,
nhng một cờng quốc muốn lãnh đạo thế giới luôn vận động và phát triển đặc
biệt là trong bối cảnh đầy mâu thuẫn và phức tạp của thế giới hiện nay thì
xung đột và hợp tác hay hợp tác và kiềm chế có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau, xuất phát từ lợi ích quốc gia dân tộc và điều này nhằm đảm bảo cho
những lợi ích đó. Trong hợp tác đã hàm chứa sự cạnh tranh, kiềm chế, cạnh
tranh trong những hình thức phù hợp để quá trình hợp tác đợc tốt hơn, bền
vững hơn.
Tống Thị Hoài Hơng - ĐN1 - K5
16
Đặc điểm hợp tác và kiềm chế giữa các nớc lớn.
Các nhà học giả trên thế giới đa ta hai công thức trong quan hệ giữa
các nớc lớn đó là công thức 4+1 và 2+3. Đây là số lợng các nớc lớn sau
chiến tranh lạnh.
Với công thức 4+1 các học giả đa ra tức là Mỹ vợt trội hơn hẳn 4 n-
ớc kia (không có nghĩa là Mỹ vợt trội hơn 4 nớc kia cộng lại là Nhật Bản,
Tây Âu, Nga và Trung Quốc). Công thức này ít nói về tập hợp lực lợng và
không nên hiểu 4 nớc này liên kết lại để chống lại Mỹ.
Công thức 2+3 chủ yếu nói về vấn đề tập hợp lực lợng, ở công thức
này thì Nga và Trung Quốc cha phải là đồng minh mà chỉ là đối tác chiến l-
ợc. Tuy nhiên giữa các nớc lớn là Nga, Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản, Trung Quốc
các quan hệ song phơng vẫn đợc giữ, dù là chiến lợng hay sách lợc thì cái
đầu tiên để hoạch định chính sách là so sánh lực lợng. Các công thức này chỉ
nói lên mức độ hợp tác thân thiện chứ không phải là chống lại nhau. Tuy
nhiên qua đây ta có thể thấy rõ ràng tất cả những nớc lớn đều không bỏ qua
bất kì cơ hội nào để nhằm nân cao vị thế của mình trên trờng quốc tế. Tất cả
Nga, Mỹ, Eu, Trung Quốc, Nhật Bản đều muốn mình có ảnh hởng đều muốn

mình trong trờng quốc tế.
Hợp tác và đấu tranh là hai mặt trong quan hệ quốc tế, nó chi phối phơng
thức quan hệ quốc tế, nó chi phối phơng thức quan hệ các nớc trong quá trình
hội nhập và giao lu quốc tế. Đấu tranh và hợp tác để cùng tồn tại và phát
triển là điều mà các quốc gia hớng tới, bởi nó phù hợp với các đặc điểm và
xu thế đa phơng hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế và đờng lối đối ngoại của
mỗi nớc.
2.2.Quan hệ cụ thể giữa các nớc lớn:
2.2.1. Quan hệ về chính trị:
Thế giới luốn biến đổi không ngừng, chính vì vậy quan hệ quốc tế là
một hoạt động vô cùng phức tạp, nhất là quan hệ về chính trị. Bất cứ chính
sách nào đợc đa ra trong quan hệ quốc tế đều có ảnh hởng trực tiếp đến quan
hệ quốc tế nói chung và với từng quốc gia nói riêng. Quan hệ giữa các nớc
lớn cũng vậy, có lúc thăng, có lúc trầm. Do xuất phát từ lợi ích riêng của
từng quốc gia mà quan hệ giữa các nớc không trành khỏi những xung đột và
hợp tác.
Tống Thị Hoài Hơng - ĐN1 - K5
18
Đặc điểm hợp tác và kiềm chế giữa các nớc lớn.
Xung đột và hợp tác về chính trị trong quan hệ giữa các nớc lớn sau
chiến tranh lạnh đợc biểu hiện rõ nét qua những mối quan hệ song phơng cụ
thể : Mỹ (bao hàm cả Tây Âu) với Nga , Mỹ với EU, Mỹ Trung Quốc,
Mỹ Nhật, Nga Trung Quốc Và trên bình diện của khu vực, những
mối quan hệ song phơng này đan xen nhau, tạo thành những tam giác, tứ giác
chiến lợc trên cơ sở những tơng đồng và khác biệt về cụ thể trong từng thời
kì, từng giai đoạn cụ thể.
Sau chiến tranh lạnh, Nga là nớc thừa kế hợp pháp những gì mà Liên
Xô trớc đây để lại. Tình trạng khủng hoảng trầm trọng và toàn diện đã làm
cho vị thế của nớc Nga bị suy giảm một cách đáng kể, làm ảnh hởng đến
quan hệ giữa Nga và các nớc trên thế giới, đặc biệt với các nớc trong tứ giác

thế kỉ 21. Quan hệ Trung Quốc và Mỹ là quan hệ chiến lợc mang tính xây
dựng ; Trung Quốc và Nhật Bản là quan hệ láng giềng hữu nghị mang tính
xây dựng ; Nga và Nhật Bản đã thoả thuận kế hoạch Yelsin- Hashimoto
tiến tới hiệp ớc kí hòa bình; giữa Mỹ và Nhật Bản đã thoả thuận phơng châm
sửa đổi hiệp ớc an ninh Mỹ - Nhật
Giai đoạn từ cuối 98 đến nay : Quan hệ giữa các nớc lớn lại xáo động
nghiêm trọng do các sự kiện Anh Mỹ không kích Irac (12/98), diến biến
78 ngày đêm Mỹ và NATO tấn công Nam T (1999), Mỹ phản đối hoạt động
của Nga ở Chesnia, Mỹ sửa đổi hiệp ớc giới hạn vũ khí phòng thủ chiến lợc
ABM kí với Nga năm 1972; Mỹ- Nhật kí kết triển khai hệ thống phòng thủ
tên lửa chiến trờng (TMD) ở vùng Viễn Đông Chịu tác động mạnh mẽ nhất
là quan hệ Mỹ Nga và Mỹ Trung nhng xung đột giữa các cờng quốc
vẫn còn nằm trong giới hạn, trớc mắt khó có thể xảy ra đổ vỡ lớn hầu hết các
nớc đều không muốn đối đầu trực tiếp với nhau. Ví dụ nh cả Nga và Trung
Quốc đều cần tranh thủ Mỹ, còn Mỹ tuy có phần lấn át song cũng cần sự hỗ
trợ của Nga và Trung Quốc trong một số vấn đề quốc tế.
Về cơ bản thì sự phân chia giai đoạn chỉ mang tính chất tơng đối. Trên
thực tế trong mỗi giai đoạn, quan hệ quốc tế giữa các nớc lớn đều bao hàm cả
hợp tác và kiềm chế lẫn nhau tuỳ theo trờng hợp nhất định, tính chất hợp tác
hay kiềm chế mới nổi lên chiếm u thế. Quan hệ giữa các nớc lớn với nhau
trải qua những thăng trầm, lúc hợp tác, lúc kiềm chế không ổn định và luôn
luôn biến đổi do xu hớng vận động của quan hệ quốc tế luôn luôn thay đổi
Tống Thị Hoài Hơng - ĐN1 - K5
20
Đặc điểm hợp tác và kiềm chế giữa các nớc lớn.
do tơng quan lực lợng giữa các nớc lớn đang thay đổi. Các quan hệ song ph-
ơng cụ thể đợc trình bày một cách khái quát sau đây sẽ cho thấy rõ hơn về
những nhận định đó.
Sau khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, với tham vọng bá chủ thế giới và
với tiềm lực kinh tế, chính trị, quân sự của một siêu cờng duy nhất, Mỹ coi

Trong các hội nghị quốc tế, các quan hệ song phơng và đa phơng trên diễn
đàn LHQ giữa các nớc Anh, Pháp, Đức công khai bày tỏ quan điểm đòi
thiết lập lại thế giới đa cực, bác bỏ tham vọng của Mỹ trở thành một cực duy
nhất của trật tự thế giới mới.
Trung Quốc đang trở thành một đối thủ đáng gờm của Mỹ trong thế kỉ
21. Là một quốc gia rộng lớn với gần 1,3 tỷ ngời, Trung Quốc cũng đầy tham
vọng trong quan hệ quốc tế. Với những thành tựu đạt đợc trong lĩnh vực kinh
tế trong quá trình cải cách mở cửa, tốc độ tăng trởng kinh tế tăng liên tục.
Trong quan hệ chính trị thế giới, Trung Quốc ứng xử mọi cách độc lập, tự
chủ, lấy lợi ích quốc gia làm nền tảng cơng nhu tuỳ lúc, tuỳ thời cơ.
Những năm gần đây, Trung Quốc không ngừng mở rộng ảnh hởng ra khắp
các khu vực, thành lập quan hệ hợp tác chiến lợc với Nga, hữu hảo với Nga,
thân thiết với Pháp, Đức, Anh hoà dịu với ấn Độ, đối thoại với ASEAN. Điều
này làm Trung Quốc ngày càng có vai trò của một trung tâm kinh tế, chính
trị thế giới cạnh tranh và cản trở Mỹ thực hiện tham vọng lớn sâu xa của
mình.
Quan hệ giữa các nớc lớn với nhau cũng trải qua không ít thăng trầm.
Những thăng trầm trong quan hệ giữa các nớc lớn bị chi phối bởi nhiều
nguyên nhân, nhng nổi bật nhất là do tơng quan lực lợng giữa họ bị thay đổi.
Mỹ tuy ở thế mạnh hơn các đối thủ khác nhng cũng có những mặt hạn chế,
khó có thể áp đặt sức mạnh của mình lên các đối tác. Quan trọng hơn là Mỹ
cha từ bỏ mu đồ xác lập bá quyền lãnh đạo thế giới và thực hiện ý đồ này,
Mỹ luôn thay đổi chính lợc cũng nh sách lợc Nhiều sự kiện cho thấy
những bất ổn trong quan hệ Mỹ Nga, Mỹ Trung đều bắt đầu hoặc có
nguyên nhân sâu xa từ sự thay đổi trong chính sách của Mỹ. Nhiều xung đột
điểm nóng trên thế giới đều có bàn tay dính líu hoặc can thiệp của Mỹ đã gây
lo ngại và phản ứng từ Nga, Trung Quốc, buộc hai nớc có xu hớng nhích lại
gần nhau để đối phó với Mỹ và các cờng quốc đồng minh thân cận của Mỹ
Tống Thị Hoài Hơng - ĐN1 - K5
22

chế khu vực ảnh hởng mà Nga thừa kế của Liên Xô (Trung Đông, các nớc
Tống Thị Hoài Hơng - ĐN1 - K5
23
Đặc điểm hợp tác và kiềm chế giữa các nớc lớn.
SNG, Đông Âu, bán đảo Ban-Căng ). Về phía mình, do gặp phải những khó
khăn về kinh tế, xã hội trong quá trình cải cách tự do hoá, Nga buộc phải
chịu lép vế về nhiều mặt trong quan hệ với Mỹ nhằm tìm kiếm đợc nguồn
ngoại lực cần thiết từ phơng Tây.
Từ năm 1994 đến nay, do tích tụ quá nhiều mâu thuẫn, quan hệ Mỹ
Nga chuyển sang một cục diện mới : Vừa hợp tác vừa kiềm chế một cách
mạnh mẽ hơn. Do có những lợi ích chung, Nga Mỹ hợp tác chặt chẽ hơn
trong các vấn đề an ninh nh không phổ biến vũ khí hạt nhân, vũ khí giết ngời
hàng loạt, chống khủng bố Tuy nhiên Mỹ vẫn ch a sẵn sàng phát triển mối
quan hệ bình đẳng với Nga và có xu hớng sử dụng sức mạnh của mình trong
việc giải quyết các vấn đề quốc tế. Mặc dù Nga không còn bị coi là đối thủ
trực tiếp của Mỹ nhng Nga vẫn cha đợc thừa nhận là bộ phận cấu thành hay
đối tác tin cậy của Mỹ và phơng Tây. Quan hệ với Nga không còn đợc coi là
hớng chủ đạo trong chính sách đối ngoại của Mỹ, Mỹ đặc biệt chú ý đến việc
củng cố phát triển quan hệ đồng minh NATO và Nhật Bản. Vì vậy bất chấp
phản ứng của Nga, Mỹ đã khởi xớng và thực thi chiến lợc mới của NATO,
mở rộng tổ chức này tới sát biên giới và đe doạ trực tiếp đến lợi ích an ninh
quốc gia của Nga. Nguy hiểm hơn, Mỹ cùng các đồng minh NATO trực tiếp
gây ra cuộc chiến tranh với Nam T (nớc đồng minh thân cận với Nga) đồng
thời xúc tiến xây dựng hệ thống phòng thủ tên lửa quốc gia (NMD) nhằm
phá vỡ thế cân bằng vũ khí đạn đạo đã đạt đợc từ khi kí hiệp ớc ABM (1972)
đến nay.
Mối lo ngại chủ yếu của Mỹ đối với Nga là các công trình quân sự đồ
sộ. Trong khi mang tâm lí đề phòng Nga, Mỹ cũng tìm cách duy trì hợp tác
với Nga trên một số mặt. Đặc biệt là sau sự kiện 11/9 quan hệ Nga _ Mỹ đợc
cải thiện đáng kể, Nga tích cực ủng hộ Mỹ giáng trả lực lợc khủng bố, điều

lại vừa hợp tác trên cơ sở lợi ích chung.
Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, yếu tố chiến lợc quan trọng nâng đỡ
quan hệ Trung Mỹ bỗng bị giảm sút, sự bổ xung lẫn nhau về kinh tế cũng
làm cho nội dung quan hệ hai bên thay đổi. Cuối thập kỷ 80 đầu thập kỷ 90,
Đông Âu biến động dữ dội, Liên Xô tan rã, Trung Quốc cũng trải qua sóng
gió chính trị, Mỹ và phơng Tây dấy lên làn sang trừng phạt Trung Quốc, bài
Hoa. Năm 1992, Mỹ quyết định bán cho Đài Loan 150 máy bay F16. Năm
Tống Thị Hoài Hơng - ĐN1 - K5
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status