Nghiên cứu đánh giá tài nguyên và chất lượng môi trường nước dưới đất tỉnh Bắc Ninh làm cơ sở khoa học định hướng sử dụng hợp lý - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
 NGUYỄN THỊ XOAN

NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN VÀ CHẤT LƯỢNG
MÔI TRƯỜNG NƯỚC DƯỚI ĐẤT TỈNH BẮC NINH LÀM
CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG HỢP LÝ

Chuyên ngành: Khoa học môi trường
Mã số: 60440301 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. Nguyễn Thị Phương Loan


Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Xoan 3

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình của riêng tôi. Các số liệu, kết quả
nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ
công trình nào khác.

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

Tác giả luận văn


1.1.6.
c im thy vn 14

1.2. Tng quan thc trng nghiờn cu ti nguyờn nc di t tnh Bc Ninh 17

1.2.1.
Ngun gc v cỏc quỏ trỡnh hỡnh thnh thnh phn húa hc nc di t . 17

1.2.2.
Tng quan mc nghiờn cu ti nguyờn nc di t 23

1.2.3.
Nhng vn cũn tn ti trong khai thỏc s dng nc di t 24

Chơng 2. Đối tợng và phơng pháp nghiên cứu 26

2.1. i tng nghiờn cu 26

2.2. Phng phỏp nghiờn cu 26

2.3. Phng phỏp ỏnh giỏ tim nng nc di t 27

Chơng 3. Kết quả nghiên cứu 30

3.1. ỏnh giỏ hin trng ti nguyờn nc di t tnh Bc Ninh 30

3.1.1.
c im a cht thy vn v phõn b ti nguyờn nc di t 30



3.4.2.
Quy hoch khai thỏc, s dng ND 90

3.4.3.
Phõn vựng s b nc di t theo kh nng s dng 90

3.4.4.
D bỏo cỏc i tng v kh nng khai thỏc nc ngm 98

3.4.5.
Qun lớ bo v ti nguyờn ND v Mụi trng 102

3.4.6.
xut cỏc gii phỏp bo v ti nguyờn nc di t 104

Kết luận 107

Tài liệu tham khảo 111

5 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BTNMT Bộ Tài nguyên và Môi trường
BVMT Bảo vệ môi trường

Bảng 3.2. Kết quả phân tích mẫu Clo 32

Bảng 3.3. Kết quả hút nước thí nghiệm các lỗ khoan lớp trên tầng chứa nước qp 33

Bảng 3.4. Kết quả hút nước thí nghiệm các lỗ khoan 35

Bảng 3.5. Kết quả hút nước thí nghiệm các lỗ khoan trong khoảnh 36

Bảng 3.6. Kết quả hút nước thí nghiệm các lỗ khoan trong khoảnh 37

Bảng 3.7. Kết quả hút nước thí nghiệm các lỗ khoan trong khoảnh 37

Bảng 3.8. Kết quả hút nước thí nghiệm các lỗ khoan trong khoảnh 38

Bảng 3.9. Kết quả hút nước thí nghiệm các lỗ khoan trong khoảnh 39

Bảng 3.10. Kết quả hút nước thí nghiệm các lỗ khoan trong khoảnh 40

Bảng 3.11. Kết quả hút nước thí nghiệm các lỗ khoan trong khoảnh 41

Bảng 3.12. Kết quả hút nước thí nghiệm tầng chứa nước qp (vùng nước lợ) 42

Bảng 3.13. Kết quả hút nước thí nghiệm 43

Bảng 3.14. Tổng hợp kết quả tính trữ lượng khai thác dự báo cho các khu đô thị và
công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 48

Bảng 3.15. Một số chỉ tiêu chất lượng nước mưa trong tỉnh Bắc Ninh 50

Bảng 3.16. Chất lượng nước ao hồ tại thành phố Bắc Ninh 51
Më §ÇU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Sự suy kiệt nguồn nước dưới đất đang diễn ra ở hầu hết các khu vực trên địa
bàn tỉnh Bắc Ninh, thể hiện ở chỗ trong những năm gần đây, lưu lượng, mực nước,
chất lượng các nguồn nước mặt, nước dưới đất đều có xu hướng giảm. Nhiều khả
năng trong tương lai xu hướng này còn tiếp tục diễn ra.
Nguyên nhân của sự suy kiệt tài nguyên nước dưới đất được gắn với nhu cầu
sử dụng nước ngày càng tăng, tác động xấu của hoạt động phát triển lên các quá
trình tự nhiên hình thành tài nguyên và việc khai thác không đi đôi với các biện
pháp bảo vệ. Phát triển kinh tế xã hội, gia tăng dân số làm tăng mạnh nhu cầu dùng
nước, trong khi chỉ số lượng nước đảm bảo trên đầu người đang giảm liên tục. Quá
trình đô thị hoá, phát triển sản xuất công nghiệp, giao thông đã và đang làm biến đổi
mạnh mẽ các điều kiện tự nhiên hình thành tài nguyên nước dưới đất. Nước thải từ
các hoạt động dân sinh, kinh tế trên địa bàn tỉnh đã dẫn đến tình trạng ô nhiễm
nguồn nước mặt ngày càng trở nên nghiêm trọng, đặc biệt trên các đoạn sông chảy
qua các khu công nghiệp, làng nghề. Vấn đề này đã và đang ảnh hưởng rất nhiều
đến nhu cầu sử dụng nước khi mà nguồn nước đã khan hiếm lại bị ô nhiễm nặng nề,
không đảm bảo chất lượng sử dụng. Suy thoái tài nguyên nước đã và đang ảnh
hưởng tới sự phát triển bền vững của đô thị.
Nguồn nước nước dưới đất chính cung cấp cho thành phố Bắc Ninh là bãi
giếng khai thác trong tầng chứa nước Pleistocen trên địa bàn phường Hòa Long –
TP Bắc Ninh. Với tốc độ suy giảm mực nước và xâm nhập mặn như hiện nay, trong
tương lai rất gần nước dưới đất tại các khu vực nước nhạt có nguy cơ bị nhiễm mặn.
Vì vậy, cần phải điều tra, đánh giá chi tiết để có giải pháp bảo vệ, quy hoạch khai
thác, sử dụng hợp lý nguồn nước ngọt này.
2. Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các tầng chứa nước trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Phạm vi nghiên cứu là toàn bộ diện tích tỉnh Bắc Ninh.

1.1.1.
Vị trí địa lý
Bắc Ninh là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, nằm trong tam giác
kinh tế trọng điểm Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, cửa ngõ phía Đông Bắc của
thành phố Hà Nội. Tỉnh Bắc Ninh có tọa độ địa lý là từ 20
°
58' đến 21
°
16' vĩ độ Bắc
và 105
°
54' đến 106
°
19' kinh độ Đông. Ranh giới địa chính tỉnh Bắc Ninh xác định
như sau: phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên và một phần
Hà Nội, phía Đông và Đông - Nam giáp tỉnh Hải Dương, phía Tây giáp thành phố
Hà Nội.

Hình 1.1.
Sơ đồ vị trí địa lý của tỉnh Bắc Ninh

Tỉnh Bắc Ninh có nhiều điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội:
- Có các tuyến đường giao thông quan trọng chạy qua như quốc lộ QL1A,
QL18, đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn, đường thuỷ sông Đuống, sông Cầu, sông Thái
Bình nên rất thuận lợi cho vận chuyển hàng hoá và hành khách lưu thông với các 10

tỉnh trong cả nước, đặc biệt nhất là việc trở thành cầu nối giữa Hà Nội với các tỉnh

C, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất 28,9
o
C (tháng 7), nhiệt
độ trung bình tháng thấp nhất là 15,8
°
C (tháng 1), chênh lệch nhiệt độ giữa các 11

tháng cao nhất và thấp nhất là 13,1
°
C. Tổng số giờ nắng trong năm dao động từ
1.530 - 1.776 giờ, trong đó tháng 7 có nhiều giờ nắng, tháng 1 có ít giờ nắng nhất.
Hàng năm có 2 mùa gió chính: gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam.
Gió mùa Đông Bắc thịnh hành từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau, gió mùa
Đông-Nam thịnh hành từ tháng 4 đến tháng 9 mang theo hơi ẩm, gây mưa rào.
Nhìn chung Bắc Ninh có điều kiện khí hậu thuận lợi cho phát triển nền nông
nghiệp đa dạng và phong phú. Mùa Đông với khí hậu khô, lạnh làm cho vụ đông trở
thành vụ chính có thể trồng được nhiều loại cây rau màu ngắn ngày cho giá trị cao
và xuất khẩu. Yếu tố hạn chế lớn nhất đối với sử dụng đất là mưa lớn tập trung theo
mùa thường làm ngập úng các khu vực thấp trũng gây khó khăn cho việc thâm canh
tăng vụ mở rộng diện tích.
Tài nguyên nước mưa
Lượng mưa trung bình hàng năm tại Bắc Ninh là gần 1500mm. Mưa phân bố
không đều trong năm. Mùa mưa chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 80% tổng
lượng mưa cả năm, còn lại là mùa khô. Khu vực có lượng mưa trung bình lớn nhất
là Từ Sơn, Yên Phong, Tiên Du, huyện Quế Võ có lượng mưa trung bình nhỏ nhất,
khoảng 1200mm/năm.
1.1.4.

Bảng 1.1. Giá trị tổng sản phẩm của tỉnh Bắc Ninh phân theo khu vực kinh tế
(giai đoạn 1997-2011)
Chỉ tiêu
Đơn vị
tính
Năm
1997 2000 2005 2010 2011
1. Tổng sản phẩm theo giá so sánh 1994

Tỷ đồng

1.707,2 2.488,3 4.766,2 9.641,1 12.008,3

+ Nông - Lâm nghiệp - Thủy sản Tỷ đồng

762,6 937,4 1.206,1 1.262,4 1.277,1
+ Công nghiệp - XDCB Tỷ đồng

417,8 885,9 2.206,3 5.281,7 7.336,9
+ Dịch vụ Tỷ đồng

526,8 665,0 1.353,8 3.097,0 3.394,3
2. Tổng sản phẩm theo giá thực tế Tỷ đồng

2.019,7 3.366,8 8.331,1 37.111 51.533,9

+ Nông - Lâm nghiệp - Thủy sản Tỷ đồng

909,8 1.277,9 2.187,6 3.937,1 3.991,6
+ Công nghiệp - XDCB Tỷ đồng

vố đầu tư nước ngoài tăng vọt từ 0,34 tỷ đồng năm 1997 lên 5505,4 tỷ đồng năm
2012. Sản phẩm của ngành công nghiệp không chỉ phục vụ nhu cầu ngày càng cao
của thị trường trong nước mà còn tham gia vào thị trường xuất khẩu, tạo nguồn thu
ngoại tệ tiếp tục đầu tư và phát triển. Ngành tiểu thủ công nghiệp rất phát triển với
nhiều làng nghề truyền thống như là đồ gỗ mỹ nghệ, đúc đồng
b. Nông nghiệp.
Sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh có những chuyển dịch tích cực về cơ
cấu: Tỷ trọng ngành trồng trọt giảm từ 67,2% năm 2002 xuống 33,11% năm 2012,
tỷ trọng ngành chăn nuôi tăng từ 29,4% năm 2002 lên 41% năm 2012 và phát triển
theo hướng sản xuất hàng hóa từng bước gắn với thị trường, nâng cao năng xuất,
chất lượng và hiệu quả kinh tế. Trong ngành trồng trọt đang hình thành các vùng
sản xuất hàng hóa tập trung như vùng chuyên canh rau sạch, vùng trồng hoa cây
cảnh, vùng trồng lúa chất lượng cao. Việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất
đã làm tăng đáng kể cả về năng suất cũng như chất lượng của sản phẩm, nhưng lúa
vẫn là cây trồng chính của tỉnh. Chăn nuôi dần chuyển sang phương thức chăn nuôi
bán công nghiệp đã làm nâng cao hiệu quả kinh tế cho ngành chăn nuôi trong tỉnh,
tăng từ 338,5 tỷ đồng năm 2002 lên 791,3 tỷ đông năm 2012.
c. Giao thông 14

Tỉnh Bắc Ninh có điều kiện thuận lợi về giao thông vận tải. Mạng lưới giao
thông đường sắt, đường bộ, đường thuỷ đã được hình thành từ lâu, các tuyến đường
huyết mạch như Quốc lộ 1, quốc lộ 18, quốc lộ 38 và tuyến đường sắt Hà Nội - Bắc
Ninh - Lạng Sơn đã được Nhà nước đầu tư mạnh. Hệ thống đường nội tỉnh được
nâng cấp và xây dựng mới, đã góp phần tích cực vào việc mở rộng thông thương,
khai thác tiềm năng của tỉnh, rút ngắn “khoảng cách” giữa Bắc Ninh với các tỉnh
trong vùng, giữa thành thị và nông thôn. Tính đến nay trên địa bàn tỉnh đã có 375
km đường quốc lội trải nhựa. 290 km đường tỉnh lộ phần lớn được trải nhựa và hơn

3
/s. Phần lớn lưu vực sông bắt nguồn từ
các vùng đồi trọc miền Đông Bắc, đất đai bị xói mòn nhiều nên nước sông rất đục,
hàm lượng phù sa lớn. Do đặc điểm lòng sông rộng, ít dốc, đáy nông, nên Thái Bình
là một trong những sông bị bồi nhiều.
Trên địa bàn tỉnh có các hệ thống sông ngòi nội địa như sông Ngũ Huyện
Khê, sông Dâu, sông Đông Côi, sông Bùi, ngòi Tào Khê, sông Đồng Khởi, sông
Đại Quảng Bình. Các sông này đều có nhiệm vụ tưới, tiêu nước phục vụ dân sinh xã
hội và sản xuất nông nghiệp cho 8 huyện, thị xã, thành phố của tỉnh và một phần
của thành phố Hà Nội, Hưng Yên và Hải Dương
Tài nguyên nước mặt
a. Đặc điểm sông ngòi
Mạng lưới sông ngòi tỉnh Bắc Ninh khá dày đặc, mật độ 1,0-1,2km/km
2
.
- Sông Đuống là một phân lưu của sông Hồng, bắt đầu từ làng Xuân Canh
(Gia Lâm) chảy theo hướng Đông, đổ vào sông Thái Bình ở Phả Lại. Sông dài
67km, trong đó có 42km chảy qua tỉnh Bắc Ninh. Do lòng sông dốc, rộng, sâu, nên
hàng năm sông Đuống chuyển một lượng nước và phù sa rất lớn từ sông Hồng sang
sông Thái Bình, tổng lượng nước bình quân năm là 31,6 tỉ m
3
. Dòng chảy trung
bình nhiều năm của sông đo ở Thượng Cát khoảng 915 m
3
/s, mùa kiệt lưu lượng
giảm xuống chỉ còn 91,5m
3
/s. Lưu lượng dòng chảy trong năm biến động mạnh,
năm 2008 lưu lượng dòng chảy lớn nhất là 6150 m
3


- Sông Thái Bình là sông lớn thứ hai ở miền Bắc, do hợp lưu của 3 sông :
sông Cầu, sông Thương và sông Lục Nam tạo thành. Sông có tổng diện tích lưu vực
khoảng 12.680km
2
, dài 385 km, trong đó có 16 km chảy qua Bắc Ninh, có tổng lưu
lượng nước hằng năm khoảng 35,95 tỉ m
3
. Do phần lớn lưu vực sông bắt nguồn từ
các vùng đồi trọc miền Đông Bắc, đất đai bị xói mòn nhiều nên hàm lượng phù sa
tại đây lớn. Tại trạm thủy văn Cát Khê lưu lượng dòng chảy là 2274,1m
3
/s vào mùa
mưa còn vào mùa khô là 336,45m/s.
Chất lượng nước sông bị ảnh hưởng bởi các khu dân cư và các làng nghề,
khu công nghiệp vv dọc theo chi lưu của các con sông, đặc biệt là ở sông Cầu và
sông Thương (khu hoá chất Vĩnh Thịnh hoặc khu phân đạm-hoá chất Bắc Giang).
- Sông Cà Lồ là một nhánh của hệ thống sông Cầu, bắt nguồn từ dãy Thằn
Lằn (nhánh của dãy Tam Đảo), chảy qua các huyện Mê Linh, Sóc Sơn. Sông dài
khoảng 60 km, quanh co uốn khúc, lòng hẹp, bờ dốc, độ dốc lòng sông nhỏ. Đoạn
sông chảy qua địa phận Bắc Ninh khoảng 8km, bắt đầu từ cầu Đò Lo và gặp sông
Cầu tại ngã ba Lương Phúc (Tam Giang). Mặc dù là sông nhỏ, nhưng Cà Lồ phải
tiếp nhận nhiều nước thải từ khu công nghiệp Xuân Hoà (Phúc Yên) và các điểm
dân cư khá đông đúc dọc hai bờ, nên nước sông đã bắt đầu có dấu hiệu ô nhiễm. 17

- Sông Ngũ Huyện Khê bắt nguồn từ đầm Vân Trì (Đông Anh), dài 25km,
chảy qua 5 huyện, với 3 huyện của tỉnh Bắc Ninh, đổ ra sông Cầu ở xã Vạn An,

3
-Na-Ca, với độ khoáng hoá 0,02-0,07g/l,
giảm dần từ bờ biển vào lục địa, thành phần nước mưa cũng chuyển từ Cl-Na sang
HCO
3
-Na-Ca. Nước mưa thường bão hoà ôxy, có ảnh hưởng rất lớn đến sự dịch 18

chuyển các nguyên tố dễ biến đổi với điều kiện ôxy hoá-khử của môi trường và các
chất hữu cơ.
1.2.1.2. Quá trình hoà tan - rửa lũa
Rửa lũa là quá trình tách các nguyên tố trong mạng tinh thể của khoáng vật
đưa vào nước mà không phá vỡ cấu trúc mạng của nó. Hoà tan gây phá vỡ mạng
tinh thể khoáng vật, tạo ion và đưa chúng vào môi trường nước. Trong tự nhiên, hai
quá trình này không thể tách rời nhau. Hoà tan, rửa lũa diễn ra chủ yếu ở nước nhạt,
siêu nhạt, thành phần nước phụ thuộc thành phần nguồn nước cấp, thành phần đất
đá chứa nước và thời gian tồn tại của nước trong đất đá.
Nhiệt độ có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình rửa lũa - hoà tan. Thông thường
đô tan của nhiều muối tăng theo sự tăng nhiệt độ, nhưng chỉ tăng lên đến một mức
nào đó, sau đó lại giảm, thậm chí có loại muối khi nhiệt độ tăng thì lại kết tủa, như
CaCO
3
. Đối với các khí thì nhiệt độ tăng thường làm giảm độ hoà tan của các khí.
Độ pH của nước có ảnh hưởng khá lớn đến quá trình rửa lũa hoà tan. Hầu hết
các muối đều hoà tan tốt hơn khi độ pH của nước giảm đi. Quá trình rửa lũa hoà tan
còn chịu ảnh hưởng của sự chênh lệch nồng độ các thành phần trong nước và trong
đất đá và độ chênh lệch đó càng lớn thì quá trình rửa lũa diễn ra càng mạnh. Nước
vận động mạnh làm tăng quá trình rửa lũa hoà tan.

trình này là nguyên nhân chính gây nên sự dao động theo mùa của một số ion chính
trong nước ngầm.
1.2.1.5. Quá trình trao đổi - hấp phụ
Quá trình trao đổi - hấp phụ có ý nghĩa quan trọng trong sự hình thành thành
phần hoá học của nước dưới đất. Hấp phụ và trao đổi là hai quá trình không thể tách
rời nhau, nên thường được xem xét chung khi nghiên cứu thành phần hoá học của
nước dưới đất. Quá trình chung này xảy ra đặc biệt mạnh mẽ khi vật chất sét từ lục
địa được vận chuyển ra biển và được tích tụ trong môi trường biển.
Hấp phụ có thể xảy ra theo các cơ chế lý học, hoá học và sinh học… Trong
quá trình hấp thụ vật lý, hạt sét có thể hấp phụ các thành phần dưới dạng ion, phân
tử, keo… từ nước, không khí, gây thay đổi thành phần hoá học của nước dưới đất.
Quá trình hấp phụ xẩy ra mạnh mẽ trong các trầm tích biển. Quá trình trao đổi tác
động rất lớn đến sự thay đổi thành phần hoá học của nước dưới đất, do làm thay đổi
vị trí của các thành phần hấp phụ từ hạt sét với thành phần trong nước.
Thành phần khoáng vật của đất đá có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình trao
đổi hấp phụ. Nhóm khoáng vật Montmorilonit có khả năng hấp phụ lớn hơn nhóm
Inlit và nhóm Caolinit có khả năng hấp phụ kém nhất. Theo Ghedroi (1932), năng
lực trao đổi của các cation được sắp xếp theo thứ tự giảm dần của các nguyên tố: 20

Fe>Al>Ba>Ca>Mn>Mg>K>Na>Li. Ngoài ra, kích thước hạt càng nhỏ, khả năng
trao đổi hấp phụ càng lớn và nồng độ các ion trong dung dịch càng lớn thì khả năng
trao đổi càng mạnh, quá trình trao đổi mạnh mẽ.
Môi trường cũng có ảnh hưởng đến quá trình trao đổi. Trao đổi ion chủ yếu
với các thành phần khoáng vật của đất đá chứa nước; pha trộn: nhạt hoá, mặn hoá
1.2.1.6. Quá trình khuếch tán
Quá trình khuếch tán diễn ra với hướng di chuyển của các nguyên tố từ nơi
có nồng độ cao đến nơi có nồng độ thấp. Quá trình khuếch tán diễn ra rất phức tạp,

thường có
hàm lượng trong nước ngầm ứng với độ hoà tan trong môi trường và nhỏ hơn tích
số hoà tan của chúng. Khi có sự biến đổi các điều kiện, nồng độ của một số chất tăng
lên, làm tăng tích số hoà tan của chúng, khi vượt giới hạn chúng sẽ kết tủa và tách
khỏi nước tạo khoáng vật thứ sinh và lắng đọng muối. Quá trình này tạo nên các
mạch canxit xuyên cắt qua các tầng đá cứng, các loại đất bở rời được gắn kết bởi
ximăng các loại, hoặc các mạch thạch cao, thạch anh lấp đầy khe nứt các loại đất đá.
Sự lắng đọng muối hầu như luôn có liên quan với biến đổi chế độ nhiệt động, tức là
sự biến đổi của nhiệt độ và áp suất khí quyển và sự hỗn hợp các loại muối khác nhau,
hoặc có liên quan đến sự biến đổi của môi trường tự nhiên. Khi nước từ sâu đi lên do 21

áp suất giảm, khí CO
2
thoát ra khỏi nước làm cho CaCO
3
kết tủa tạo ra các
Travectin quanh các mạch lộ.
Khi nước dưới sâu đi lên gặp nước mưa ngấm xuống H
2
S bị oxy hoá có thể
tạo kết đọng lưu huỳnh theo phản ứng H
2
S + O
2
 S + H
2
O


1.2.1.9. Hiệu suất thấm
Thực nghiệm đã chứng minh rằng khi cho một dung dịch thấm qua các đất
đá có tính thấm khác nhau thì nhiều thành phần trong dung dịch không có khả năng
di chuyển đồng thời với dung môi, từ đó làm thay đổi nồng độ dung dịch thấm.
Hiện tượng đó là hiện tượng hiệu suất thấm, và quá trình đó gọi là quá trình hiệu 22

suất thấm. Quá trình này đã giải thích vì sao nước ở sâu lại có độ khoáng hoá hàng
trăm g/l mặc dù nguồn ban đầu chỉ là nước vũng vịnh với độ khoáng hoá 35g/l.
1.2.1.10. Quá trình thoát khí
Trong nước ngầm thường chứa các khí hoà tan, nhất là các tầng chứa nước ở
sâu trong các vùng phát triển các mỏ khí. Khi áp lực giảm đi, các khí hoà trong
nước trở thành quá bão hoà và tạo thành các bọt khí thoát ra khỏi nước. Chính quá
trình này đã tạo nên các mỏ khí và các vật chất lắng đọng. Khi các khí thoát ra
không chỉ làm thay đổi thành phần khí hoà tan, mà còn làm thay đổi cả thành phần
hoá học của nước.
1.2.1.11. Các quá trình vi sinh vật
Các quá trình vi sinh vật ngày càng được quan tâm vì nó có vai trò quan
trọng trong việc hình thành thành phần hoá học của nước ngầm. Các vật chất hữu cơ
khi chết đi bị các vi sinh vật phân huỷ thành các hợp chất đơn giản hơn. Ngược lại
các vi sinh vật còn có khả năng biến các vật chất vô cơ thành các hợp chất hữu cơ.
Các quá trình vi sinh vật có ý nghĩa rất quan trọng và có thể nói là có tính chất
quyết định trong sự hình thành dầu khí theo thuyết hữu cơ. Ngày nay trong xử lý
nước thải sinh hoạt người ta thường sử dụng vi khuẩn nhằm làm sạch nước.
1.2.1.12. Quá trình xâm nhập mặn
Quá trình thứ nhất: nước biển dâng cao, nước mặn tràn vào lục địa. Nước
mặn sẽ xâm nhập vào những chỗ trũng, những tầng thấm nước tốt. Kết quả khi nước

Ninh với diện tích khoảng 256km
2
. Kết quả đã đánh giá được trữ lượng tĩnh là
35.575 m
3
/ng, cấp C1 là 30.000 m
3
/ng, cấp C2 là 18.364 m
3
/ng.
- Năm 1982 - 1986 đoàn địa chất 58, Liên đoàn địa chất thuỷ văn địa chất
công trình hoàn thành Báo cáo tìm kiếm NDĐ vùng Bắc Ninh, trên cơ sở khoan
1497,90 m/37LK, hút nước thí nghiệm 37 lỗ khoan, lấy 230 mẫu nước các loại. Báo
cáo đã làm sáng tỏ được những nét cấu trúc địa chất cơ bản, phân chia được 6 đơn
vị chứa nước, trong đó riêng đối với tầng chứa nước qp, là đối tượng giàu nước
nhất, đã làm sáng tỏ quy luật phân bố, thành phần thạch học, sự biến đổi chiều dày,
quan hệ thuỷ lực, chiều sâu thế nằm, chất lượng nước. Đã đánh giá được trữ lượng
khai thác cấp A = 1.300 m
3
/ng, cấp B= 13.800 m
3
/ng, cấp C1 = 9.600 m
3
/ng và cấp
C2 = 26.000 m
3
/ng. 24

các lớp thấm nước yếu và một phần trữ lượng động thiên nhiên của tầng chứa nước
khai thác, có nghĩa là khi khai thác sẽ cuốn sự tham gia của tất cả các nguồn nước
trên địa bàn tỉnh. Do đó cần thiết phải đầu tư nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý
nước theo lưu vực. 25

4. Do công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, đô thị hoá đã và đang phát triển
rất mạnh làm biến đổi môi trường sinh thái của tỉnh cộng với xu thế biến đổi khí
hậu của toàn cầu, sẽ ảnh hưởng đến NDĐ. Vì vậy tỉnh nên tổ chức mạng lưới quan
trắc trên toàn tỉnh mới có thể kiểm soát được sự biến đổi về chất lượng cũng như trữ
lượng nước. Trên cơ sở đó đề ra các giải pháp quy hoạch khai thác hợp lý, bảo vệ
tài nguyên, bảo vệ môi trường.
5. Hệ thống khai thác nhỏ có ý nghĩa thực tế lớn, vốn đầu tư ít hiệu quả kinh
tế cao, nên phát triển hệ thống này.
6. Hệ thống khai thác lẻ tẻ, cấp nước nông thôn khai thác hết sức tuỳ tiện, cần
phải quản lý chặt chẽ hơn tiến tới loại bỏ. Cần tổ chức kiểm soát chặt chẽ và hướng
dẫn nông dân khai thác và bảo vệ nguồn nước
- Những nội dung chủ yếu của công tác quản lí và bảo vệ tài nguyên NDĐ:
Quản lý tốt việc khoan đào thăm dò địa chất và khai thác NDĐ, điều tra đánh giá
hiện trạng khai thác NDĐ, xử lý các lỗ khoan khai thác có kiến trúc không đảm bảo
chất lượng, đặc biệt các lỗ khoan tay trong các công trình khai thác tập trung.
+ Cần xác định độ sâu cho phép đối với các lỗ khoan tay để khai thác nước
cho tầng vùng, nên hạn chế khoan tay tại các vùng có qui mô lớn hoặc nhiễm mặn.
+ Sớm xây dựng quy hoạch kĩ thuật và bảo vệ nguồn nước, trữ lượng nước.
+ Từng bước xử lí các nguồn chất thải và cải tạo các hệ thống dẫn nước thải.
+ Chấm dứt ngay việc xây dựng các công trình có khối lượng chất thải độc
hại lớn tại các nơi khai thác nước ngầm, hố xí tại các phễu khai thác nước.
+ Tăng cường kiểm tra thanh tra việc khoan đào địa chất, khai thác nước.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status