CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUAN HỆ QUẢN LÝ TRONG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC - Pdf 29

MỤC LỤC
MỤC LỤC 5
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 8
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ 9
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 7
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUAN HỆ QUẢN LÝ TRONG QUẢN LÝ 7
HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 7
1.1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 7
1.1.1. Ở NƯỚC NGOÀI 7
1.1.2. CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở VIỆT NAM 12
1.2 CÁC KHÁI NIỆM CÔNG CỤ 14
1.2.1. QUẢN LÝ 14
1.2.2.QUẢN LÝ GIÁO DỤC 21
1.2.3. QUẢN LÝ NHÀ TRƯỜNG 24
1.2.4. TRƯỜNG TIỂU HỌC VÀ HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN 31
1.2.5. QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN 32
1.2.6. QUAN HỆ QUẢN LÝ 33
1.3. CÁC QUAN HỆ QUẢN LÝ TRONG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN CỦA TRƯỜNG TIỂU HỌC 37
1.3.1 CÁC QUAN HỆ CHỈ HUY – CHẤP HÀNH 37
1.3.2. CÁC QUAN HỆ HỢP TÁC PHỐI HỢP 44
1.4. PHÂN CẤP QUẢN LÝ TRONG QUẢN LÝ GIÁO DỤC TIỂU HỌC VÀ YÊU CẦU VỀ QUAN HỆ QUẢN LÝ TRONG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN CỦA TRƯỜNG TIỂU HỌC 47
1.4.1. PHÂN CẤP QUẢN LÝ TRONG QUẢN LÝ GIÁO DỤC TIỂU HỌC 48
1.4.2. QUAN HỆ QUẢN LÝ TRONG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN CỦA TRƯỜNG TIỂU HỌC THEO YÊU
CẦU CỦA PHÂN CẤP QUẢN LÝ GIÁO DỤC TIỂU HỌC 49
1.5. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUAN HỆ QUẢN LÝ TRONG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN Ở
TRƯỜNG TIỂU HỌC 51
1.5.1. CÁC YẾU TỐ CHỦ QUAN 51
1.5.2. CÁC YẾU TỐ KHÁCH QUAN 51
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 51

3.1. NGUYÊN TẮC ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP 86
3.1.1. NGUYÊN TẮC ĐẢM BẢO TÍNH KẾ THỪA 86
3.1.2. NGUYÊN TẮC ĐẢM BẢO TÍNH THỰC TIỄN 86
3.1.3. NGUYÊN TẮC ĐẢM BẢO TÍNH KHẢ THI 87
3.1.4. NGUYÊN TẮC ĐẢM BẢO TÍNH ĐỒNG BỘ CÁC BIỆN PHÁP 87
3.1.5. NGUYÊN TẮC ĐẢM BẢO TÍNH HIỆU QUẢ 87
3.2. ĐỊNH HƯỚNG ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP 87
3.3. CÁC BIỆN PHÁP ĐƯỢC ĐỀ XUẤT 90
3.3.1 NHÓM BIỆN PHÁP HÀNH CHÍNH - TỔ CHỨC 90
3.3.2. NHÓM BIỆN PHÁP KINH TẾ 90
3.2.3. NHÓM BIỆN PHÁP TÂM LÝ - GIÁO DỤC 90
3.2.4.NHÓM BIỆN PHÁP KỸ THUẬT 90
3.4. MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC BIỆN PHÁP 90
3.5. KHẢO NGHIỆM VÀ THỰC NGHIỆM CÁC BIỆN PHÁP 90
3.5.1 KHẢO NGHIỆM CÁC BIỆN PHÁP 90
3.5.2. THỰC NGHIỆM 90
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 91
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC 1
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
BẢNG 1.1: BẢNG MA TRẬN CÁC NỘI DUNG QUẢN LÝ VÀ CÁC CẤP QUẢN LÝ 37
ĐỂ NGHIÊN CỨU QUAN HỆ CHỈ HUY - CHẤP HÀNH TRONG QUẢN LÝ 37
HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN CỦA TRƯỜNG TIỂU HỌC 37
BẢNG 1.2: BẢNG MA TRẬN CÁC NỘI DUNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN CỦA PHÒNG GD&ĐT VÀ
TRƯỜNG TIỂU HỌC 42
BẢNG 1.3: BẢNG MA TRẬN CÁC NỘI DUNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN THEO CHỨC NĂNG
NHIỆM VỤ CỦA CÁC CHỦ THỂ QUẢN LÝ TRONG TRƯỜNG TIỂU HỌC 43
BẢNG 1.4: BẢNG MA TRẬN CÁC NỘI DUNG QUẢN LÝ THỰC HIỆN QUY CHẾ CHUYÊN MÔN THEO CHỨC
NĂNG NHIỆM VỤ CỦA CÁC CHỦ THỂ QUẢN LÝ 44

1. Lý do chọn đề tài
1.1. Trong bối cảnh hệ thống giáo dục quốc dân đang có những thay đổi
theo định hướng đổi mới căn bản và toàn diện, vấn đề đổi mới quản lý giáo
dục nói chung, quản lý trường học (mà bản chất là quản lý các hoạt động giáo
dục trong nhà trường) nói riêng trở thành vấn đề được đặc biệt quan tâm đối
với các nhà giáo dục và quản lý giáo dục. Đổi mới quản lý giáo dục (trong đó
có giáo dục tiểu học) được thực hiện ở tất cả các cấp, từ trung ương đến địa
phương đến các cơ sở giáo dục, ở tất cả các khâu của quá trình quản lý, từ xây
dựng kế hoạch đến tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá đối với các nội dung
cũng như lĩnh vực quản lý khác nhau ở cấp độ hệ thống giáo dục và ở từng cơ
sở giáo dục. Trong đó quản lý hoạt động chuyên môn ở các cơ sở giáo dục là
một nội dung quản lý quan trọng. Đề cập về vấn đề này, Chiến lược phát triển
giáo dục giai đoạn 2011-2020 của nước ta đã khẳng định: “Tăng cường và
hoàn thiện các qui định về công tác thanh tra, kiểm tra chuyên môn và quản lý
chất lượng giáo dục”.
Các hoạt động giáo dục là hoạt động đặc thù của nhà trường và giữ vị trí
trung tâm trong các hoạt động của nhà trường. Chất lượng giáo dục quyết
định uy tín của nhà trường. Giáo dục được thực hiện ở cấp độ hoạt động
thông qua hoạt động của giáo viên và hoạt động của học sinh. Các hoạt động
này được khái quát trong khái niệm hoạt động chuyên môn ở trường học, và
hoạt động chuyên môn lại được triển khai thực tiễn tại các tổ chuyên môn và
từng giáo viên.
Hoạt động chuyên môn góp phần quan trọng trong việc thực hiện các
nhiệm vụ giáo dục và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo của nhà trường.
Vì vậy, quản lý hoạt động chuyên môn là yêu cầu tất yếu và là một trong
những nội dung quản lý quan trọng trong quản lý trường học.
1
Khẳng định tính tất yếu và tầm quan trọng của quản lý hoạt động
chuyên môn của trường học cũng có nghĩa khẳng định sự cần thiết của những
nghiên cứu về quản lý hoạt động chuyên môn. Những nghiên cứu này góp

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quản lý hoạt động chuyên môn của trường Tiểu học.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Quan hệ quản lý trong quản lý hoạt động chuyên môn của các trường
Tiểu học trong bối cảnh phân cấp quản lý giáo dục
4. Giả thuyết khoa học
Trong bối cảnh tăng cường phân cấp trong quản lý giáo dục hiện nay, các
quan hệ quản lý trong quản lý hoạt động chuyên môn ở các trường Tiểu học
mặc dù đã được xác lập nhưng chưa được vận hành theo đúng chức năng,
nhiệm vụ của từng chủ thể quản lý. Nếu xác định được những hạn chế này thì
sẽ đề xuất được biện pháp để vận hành các quan hệ quản lý trong quản lý hoạt
động chuyên môn của các trường Tiểu học đáp ứng yêu cầu của phân cấp
trong quản lý giáo dục hiện nay.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Hệ thống hóa lý luận về hoạt động chuyên môn, quản lý hoạt động
chuyên môn và quan hệ quản lý hoạt động chuyên môn của các trường Tiểu học.
5.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ quản lý trong quan hệ quản lý
hoạt động chuyên môn của các trường Tiểu học tại một số tỉnh khu vực Đồng
bằng Sông Hồng.
3
5.3. Đề xuất biện pháp để vận hành các quan hệ quản lý trong quản lý
hoạt động chuyên môn của các trường Tiểu học đáp ứng yêu cầu của phân cấp
trong quản lý giáo dục.
5.4. Khảo nghiệm và thực nghiệm một số biện pháp đã đề xuất.
6. Phạm vi nghiên cứu
6.1. Giới hạn về đối tượng nghiên cứu:
Quan hệ quản lý trong quản lý hoạt động chuyên môn của các trường
Tiểu học tỉnh được giới hạn trong phạm vi quản lý của Phòng Giáo dục và
Đào tạo đối với các trường tiểu học và những quan hệ quản lý trong quản lý

học hiện nay chưa đáp ứng được các yêu cầu của phân cấp quản lý trong quản
lý giáo dục tiểu học. Vì vậy, phải xác lập lại và có biện pháp để vận hành
những quan hệ quản lý trong quản lý hoạt động chuyên môn của các trường
tiểu học.
9. Đóng góp mới của đề tài luận án
9.1. Thiết lập cơ sở lý luận của việc xác lập mối quan hệ quản lý trong
quản lý hoạt động chuyên môn ở trường tiểu học theo yêu cầu của phân cấp
quản lý trong quản lý giáo dục tiểu học.
9.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ quản lý trong quan hệ quản lý
hoạt động chuyên môn của các trường tiểu học hiện nay.
9.3. Đề xuất các biện pháp vận hành các quan hệ quản lý trong quản lý
hoạt động chuyên môn của các trường tiểu học theo yêu cầu của phân cấp
quản lý trong quản lý giáo dục tiểu học.
10. Cấu trúc luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo luận án
gồm 3 chương:
5
Chương 1: Cơ sở lý luận về quan hệ quản lý trong quản lý hoạt động
chuyên môn của trường Tiểu học
Chương 2: Thực trạng quan hệ quản lý trong quản lý hoạt động chuyên
môn của các trường Tiểu học
Chương 3: Biện pháp vận hành quan hệ quản lý trong quản lý hoạt động
chuyên môn của các trường Tiểu học theo yêu cầu phân cấp quản lý trong
quản lý giáo dục hiện nay.
6
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUAN HỆ QUẢN LÝ TRONG QUẢN LÝ
HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Ở nước ngoài

vụ cho các mục tiêu chính trị.
- Quan điểm quản lí giáo dục phù hợp
Quan điểm này ra đời vào những năm 70 của thế kỉ XX. Nội dung cơ
bản của quan điểm là nhấn mạnh mối quan hệ giữa giáo dục và văn hoá. Theo
đó, các quan hệ quản lí trong quản lí giáo dục vừa phải vận hành theo tính quy
luật của giáo dục, vừa tuân thủ tính quy luật của văn hóa. Quản lí giáo dục là
phải vận hành được các quan hệ quản lý nhằm đạt mục tiêu làm cho giáo dục
phát triển trong điều kiện bảo tồn và phát huy truyền thống và bản sắc văn hoá.
Ở Liên Xô của, các tư tưởng về quản lý giáo dục bắt đầu được chú ý
đến và phát triển từ những năm 20 của thế kỷ XX. Đây là giai đoạn “bùng nổ
quản lý” trong tất cả các lĩnh vực hoạt động tại đất nước này.
Trong thời kỳ này, vấn đề về “hoạt động kỹ thuật xã hội” được nêu lên
thường xuyên hơn và kiên định hơn trong nghiên cứu lí luận của các nước xã
hội chủ nghĩa. Vào năm 1920, tại Maxkova đã thành lập Viện Trung ương các
nhà tổ chức giáo dục quốc dân. Đây là Trung tâm nghiên cứu khoa học về
giáo dục đầu tiên trên thế giới nghiên cứu các vấn đề về quản lí giáo dục.
Những năm hoạt động đầu tiên của Viện này đã được đánh dấu bằng
việc xác định các quan điểm trong lĩnh vực quản lí giáo dục. Quan niệm đầu
tiên dành cho nhà sư phạm với yêu cầu nhà sư phạm phải có hiểu biết về đối
8
tượng đặc biệt của mình. Họ cần biết sử dụng thiết thực và hợp lý các quy luật
xây dựng các mối quan hệ, xây dựng tập thể giáo dục và học tập ở nhóm lứa
tuổi khác nhau và ở từng môi trường giáo dục khác nhau. Nói cách khác, họ
phải là kỹ thuật viên cho sự nghiệp của mình, kỹ thuật viên thiết kế hợp lý các
quan hệ về giáo dục xã hội.
Tiếp đó là quan điểm về vấn đề sử dụng các phương pháp thực nghiệm
trong lĩnh vực giáo dục. Từ quan điểm này, ở nước Nga đã xuất hiện các
trường phổ thông thực nghiệm điển hình và các phòng lý luận dạy học nhằm
thực hiện sự ứng dụng thực nghiệm trong lĩnh vực xã hội và giáo dục. Trong
trào lưu này, những nghiên cứu về lĩnh vực quản lí giáo dục bị hạn chế và sau

như: nguyên tắc mô tả hành vi hệ thống toán học, nguyên tắc “hộp đen”,
nguyên tắc mô hình hoá, nguyên tắc quan hệ ngược.v.v.
Những nghiên cứu về quản lí giáo dục theo quan điểm điều khiển học, cụ
thể là điều khiển quá trình giáo dưỡng, giáo dục đã tồn tại trong một thời gian
dài mặc dù có rất nhiều phê bình.
N.G.Alekseev đã phát biểu trong hội đàm “bàn tròn” về các vấn đề giáo
dục như sau: “Hiện nay vấn đề tương quan về giáo dục tổ chức và tự phát đang
là trọng tâm. Giáo dục con người hiện đại đã vượt ra khỏi biên giới của các cơ
quan giáo dục và đã trở thành tài sản của các phương tiện thông tin đại chúng,
của các nhóm môi trường trực tiếp xung quanh, nghĩa là các môi trường khác
nhau.v.v. Ai và cái gì sáng lập, tính hiệu quả và hiệu quả của hình thái tác động
khác nhau như thế nào, chúng khác biệt nhau ở điểm nào, phối hợp chúng có thể ở
điểm nào. Hàng loạt các câu hỏi được đặt ra ở đây là tương đối chưa hoàn hảo”.
Người có đóng góp đáng kể trong nghiên cứu quản lí giáo dục theo
phương hướng thứ hai là M.M Potasnhik. Ông và những người khác nghiên
10
cu v qun lớ h thng giỏo dc ó dỏnh s chỳ ý c bit n quan im
nghip v trong qun lớ giỏo dc. Cỏc chc nng ny bao gm: d bỏo, lp
chng trỡnh, k hoch hoỏ, t chc, iu khin, kim tra, phõn tớch, kớch
thớch. Khi nghiờn cu qun lý trng hc cng nh thc hin cỏc chc nng
qun lý lit kờ trờn, iu c bit i vi nhng ngi bo v quan im
nghip v qun lý ó nờu l cỏc tỏc gi c gng lm ti u cỏc chc nng
riờng ny. Có thể khẳng định, những nghiên cứu v qun lý cỏc c quan giỏo
dc ch yu ỏp dng quan im chc nng.
Trong cỏc nghiờn cu v qun lớ giỏo dc theo nh hng th ba, quan im
v chng trỡnh phỏt trin giỏo dc thc t c gii thiu ln u tiờn v khỏ
rng rói. Các tác giả của hớng nghiên cứu thứ ba chia quỏ trỡnh phỏt trin giỏo
dc lm hai phn khụng ng u: phn th nht - l tip tc tỏi sn xut nn
giỏo dc hin nay (mc dự cú nhng thiu sút rừ rng nhng du sao tỏi sn
xut vn bo m kt qu no y hỡnh thc giỏo dc ti thiu), cũn phn

Cỏc nghiờn cu v phõn cp qun lớ giỏo dc ó xỏc nh c th cỏc vn
nh: mc tiờu phõn cp, lý do v li th ca phõn cp trong qun lớ giỏo
dc; ri ro ca phõn cp; cỏc nhõn t nh hng n phõn cp.
Trong nghiờn cu v phõn cp qun lớ, vn quan h qun lớ c xỏc
nh tng ng vi tng mụ hỡnh phõn cp. Vớ d, trong mụ hỡnh phõn cp
kiu nh trng t ch, ngi ta hay cp n cỏc loi quan h qun lớ nh:
quan h t ch - tham d v quan h t ch - tham d - chu trỏch nhim .v.v.
1.1.2. Cụng trỡnh nghiờn cu Vit Nam
Cỏc cụng trỡnh nghiờn cu v quan h qun lớ trong qun lớ giỏo dc
nc ta cũn hn ch v cha cú nhng cụng trỡnh nghiờn cu chuyờn sõu v
vn ny.
12
Tác giả Trần Kiểm, Bùi Văn Quân có đề cập quan niệm về quan hệ quản
lí với tư cách là đối tượng nghiên cứu của khoa học quản lí giáo dục, từ đó
xác định các kiểu quan hệ quản lí trong quản lí giáo dục và đặc trưng của
quan hệ quản lí giáo dục.
Tác giả Nguyễn Tiến Hùng đề cập đến vấn đề vè quan hệ quản lí trong
những nghiên cứu về phân cấp quản lí giáo dục.
Những nghiên cứu về quan hệ quản lý trong quản lý hoạt động chuyên
môn của trường tiểu học được thực hiện theo các hướng sau:
Thứ nhất, nghiên cứu về quản lý nhà nước về giáo dục, trong đó xác
định nhiệm vụ, chức năng của các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục nói
chung và trong quản lý hoạt động chuyên môn nói riêng. Hướng nghiên cứu
này được thể hiện trong các công trình nghiên quản lý nhà nước về giáo dục
của các tác giả: Nguyễn Minh Đường, Vũ Ngọc Hải, Phan Văn Kha, Đặng
Quốc Bảo, Bùi Minh Hiền.
Thứ hai, nghiên cứu về quản lý hoạt động chuyên môn dưới góc độ
quản lý tác nghiệp tại trường học, trong đó xác định vị trí, vai trò, chức năng,
nhiệm vụ của các chủ thể quản lý trường học như Hiệu trưởng, phó hiệu
trưởng, tổ trưởng chuyên môn và giáo viên. Hướng nghiên cứu này được thực

Các nghiên cứu về quản lí có thể được khái quát theo những khuynh
hướng như sau:
Thứ nhất, nghiên cứu quản lí theo quan điểm của điều khiển học và lí
thuyết hệ thống. Theo đó, quản lý là một quá trình điều khiển, là chức năng
của những hệ có tổ chức với bản chất khác nhau (sinh học, xã hội, kỹ thuật
v.v…) nó bảo toàn cấu trúc, duy trì chế độ hoạt động của các hệ đó. Quản lý là
tác động hợp quy luật khách quan, làm cho hệ vận động, vận hành và phát triển.
Thứ hai, nghiên cứu quản lí với tư cách là một hoạt động, một lao động tất
yếu trong các tổ chức của con người. Theo đó, "Quản lý là sự tác động liên
14
tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý hay tổ chức
quản lý) lên đối tượng quản lý về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế
bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương
pháp, các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát
triển đối tượng"; "Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể
quản lý đến đối tượng quản lý trong tổ chức, làm cho tổ chức đó vận hành và
đạt được mục đích của tổ chức"; “ Hoạt động quản lý bao gồm hai quá trình
tích hợp với nhau: Đó là, quá trình "quản" và quá trình "lý". Quá trình "quản"
bao gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái "ổn định"; quá trình "lý" bao
gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ thống, đưa hệ thống vào thế phát triển.
Nếu chỉ lo việc "quản" tổ chức sẽ trì trệ, bảo thủ; nếu chỉ quan tâm đến "lý" tổ
chức đó sẽ rơi vào thế mất cân bằng, mất ổn định. Như vậy quản lý chính là
hoạt động tạo ra sự ổn định và thúc đẩy sự phát triển của tổ chức đến một
trạng thái mới có chất lượng mới cao hơn”
(7)
.
Thứ ba, nghiên cứu quản lí với tư cách là một quá trình trong đó các
chức năng quản lí được thực hiện trong sự tương tác lẫn nhau. Theo hướng
này, "Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các
công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các

con người. Quản lí là do con người và vì con người.
iii) Khẳng định con người là đối tượng cơ bản của quản lí phải đồng
thời nhấn mạnh rằng, con người sống và hoạt động trong những nhóm, những
tổ chức nhất định (từ đây gọi chung là tổ chức). Như vậy, dạng quản lí cơ bản
là quản lí xã hội, trong quản lí xã hội, quản lí con người và hành vi của của
con người là chính yếu. Một cách khái quát, quản lí nói chung (hay nói đến
quản lí) là quản lí các tổ chức của con người và hành vi, hoạt động của con
người trong các tổ chức đó.
16
Với cách hiểu quản lí là quản lí tổ chức của con người, hoạt động của
con người, có thể định nghĩa khái niệm quản lí như sau:
Quản lý là quá trình tiến hành những hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ
chức và thực hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lí theo kế
hoạch chủ động và phù hợp với quy luật khách quan để gây ảnh hưởng đến
đối tượng quản lí nhằm tạo ra sự thay đổi hay tạo ra hiệu quả cần thiết vì sự
tồn tại (duy trì), ổn định và phát triển của tổ chức trong một môi trường luôn
biến động.
Quan niệm trên nhấn mạnh những khía cạnh sau của quản lí:
1/ Quản lí có hình thức thực thể là những hoạt động do chủ thể quản lí
thực hiện. Điều đó có nghĩa không có những hoạt động này, chưa có hoạt
động quản lí trên thực tế, chưa có cơ sở để khẳng định hoạt động quản lí đã
xảy ra. Các hoạt động của chủ thể quản lí có hai nội dung chính. Thứ nhất, tác
động đến đối tượng quản lí (con ngưòi và những đối tượng khác); Thứ hai,
khai thác, tổ chức và thực hiện các nguồn lực.
Cần lưu ý rằng, nguồn lực cũng tồn tại như một trong những đối tượng
quản lí nhưng không đồng nhất hoạt động tác động đến đối tượng quản lí với
hoạt động khai thác, tổ chức nguồn lực. Rất nhiều hoạt động tác động đến đối
tượng quản lí cần đến điều kiện là nguồn lực. Khai thác, tổ chức và thực hiện
nguồn lực, trong những trường hợp cụ thể là tạo điều kiện để hoạt động tác
động của chủ thể đến đối tượng quản lí được thực hiện có hiệu quả.

nghĩa tương đối. Trong nhiều trường hợp, chủ thể quản lí phải đồng thời thực
hiện các mục đích này một cách đồng thời bởi trình độ phát triển của các bộ
phận của tổ chức là khác nhau và sự phát triển của tổ chức theo thời gian
không phải bao giờ cũng tuần tự theo các mức độ của sự phát triển.
18
Mục đích quản lí được cụ thể hoá bởi các mục tiêu quản lí. Mục tiêu
quản lí được hiểu là các trạng thái cần và có thể có của tổ chức trong những
giai đoạn nhất định được xác định theo tình thế của tổ chức và mối quan hệ
giữa tổ chức và môi trường. Trạng thái cần có là trạng thái mà tổ chức phải
đạt được để có thể tồn tại và phát triển. Trạng thái có thể có là trạng thái mà
tổ chức có thể đạt được hoặc không đạt được tuỳ thuộc vào khả năng và mức
độ huy động các nguồn lực của tổ chức.
4/ Quản lí luôn tồn tại với tư cách là hệ thống. Hệ thống quản lí được
tạo bởi nhiều thành tố, nhưng các thành tố cơ bản thường được đề cập khi
phân tích hệ thống quản lí là:
+ Chủ thể quản lí: là trung tâm thực hiện những hoạt động khai thác, tổ
chức và thực hiện nguồn lực của tổ chức; thực hiện những tác động hướng
đích, có chủ định đến đối tượng quản lí. Chủ thể quản lí có thể là cá nhân
hoặc tập thể.
+ Đối tượng quản lí: là những đối tượng chịu tác động và thay đổi dưới
những tác động hướng đích có chủ định của chủ thể quản lí. Đối tượng quản lí
là con người (cá nhân và tập thể) trong tổ chức và các yếu tố được sử dụng là
nguồn lực của tổ chức (thông qua việc khai thác, tổ chức và thực hiện).
Đối tượng quản lí bao giờ cũng tồn tại trong một khách thể quản lí xác
định. Khách thể quản lí là cơ sở khách quan của đối tượng quản lí (cụ thể hơn
là cơ sở khách quan làm nảy sinh đối tượng quản lí). Ví dụ: hệ thống giáo dục quốc
dân là khách thể của quản lí giáo dục, từ đó những yếu tố như tài chính, nhân
lực có thể trở thành đối tượng của những chủ thể quản lí giáo dục xác định.
Trong quan hệ với chủ thể quản lí, đối tượng quản lí luôn là cái khách quan,
thuộc hiện thực bên ngoài chủ thể quản lí. Đối tượng quản lí nằm ở khách thể

chức. Ví dụ: phong tục, tập quán, truyền thống và tiền lệ của tổ chức
Hệ thống quản lí vận hành theo cả hai loại cơ chế này, trong đó cơ chế
hình thức có vai trò chủ đạo. Là chủ đạo vì cơ chế hình thức được xác lập một
cách chính thống, được đảm bảo bởi quyền lực của nhà nước và của tổ chức
20

Trích đoạn THỰC NGHIỆM
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status