BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐAI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ NGẦN NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT
& THÀNH PHẦN HÓA HỌC
CỦA LÁ XOÀI TRÒN YÊN CHÂU,
SƠN LA KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƢỢC SĨ
HÀ NỘI-2013
BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐAI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô giáo cùng các anh chị kĩ
thuật viên khác tại Bộ môn Dƣợc Liệu, Bộ môn Thực Vật và các bộ môn khác
trong trƣờng đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt qúa trình
học tập và nghiên cứu để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2013
Sinh viên
Nguyễn Thị Ngần
MỤC LỤC
DANH MỤC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC ĐỒ THỊ VÀ HÌNH VẼ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chƣơng I: TỔNG QUAN 2
1.1. Đặc điểm thực vật chi Mangifera L. 2
1.1.1.Vị trí phân loại chi Mangifera L. 2
1.1.2. Đặc điểm hình thái và phân bố của của chi Mangifera L. 2
1.3.3. Khóa phân loại của chi Mangifera L. 2
1.3.4. Chi Mangifera L. ở Việt Nam 5
1.2. Thành phần hóa học của chi Mangifera L. 6
3.1.2. Đặc điểm vi phẫu lá và cuống lá xoài tròn 24
3.1.3. Đặc điểm bột lá xoài tròn 27
3.2. Kết quả nghiên cứu về hóa học 28
3.2.1. Định tính các nhóm chất hữu cơ bằng phản ứng hóa học 28
3.2.2. Định tính dịch chiết lá xoài tròn bằng sắc kí lớp mỏng 32
3.2.3. Khảo sát khả năng chiết xuất mangiferin của EtOH bằng sắc ký lớp
mỏng 34
3.2.4. Định lƣợng mangiferin trong lá xoài tròn bằng phƣơng pháp HPLC 35
3.2.5. Chiết xuất mangiferin từ lá xoài tròn 37
3.3. Bàn luận 41
Chƣơng 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 44
4.1. Kết luận 44
4.2. Đề xuất 44
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Phiếu giám định tên khoa học và phiếu chứng nhận mã số tiêu bản của
cây xoài tròn Yên Châu, Sơn La.
Phụ lục 2: Pic sắc kí của và phổ hấp thụ tử ngoại của dung dịch mangiferin chuẩn
1ppm
Phụ lục 3: Pic sắc kí của các dung dịch M
1,
M
2
, M
3
, M
4
, M
5
.
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 : Một số loài thuộc chi Mangifera L. và phân bố tại Việt Nam.
Bảng 3.1: Các vết (R
f
, màu sắc) trên sắc kí đồ của dịch chiết lá xoài tròn khai triển
với hệ dung môi EtOAc-HCOOH-H
2
O [10:1,5:1].
Bảng 3.2: Diện tích pic của dãy dung dịch chuẩn ở các nồng độ khác nhau.
Bảng 3.3: Kết quả định lƣợng mangiferin trong lá xoài tròn khi chiết bằng dung môi
EtOH 90
o
, 70
o
và 50
o
.
Bảng 3.4: Kết quả định lƣợng mangiferin trong các mẫu M
Hình 1.8: Các hợp chất triterpenoid tetracyclic nhóm damaran đƣợc phân lập từ chi
Mangifera L.
Hình 1.9: Khung pregnan, pregnenolon, progesterol.
Hình 1.10: Khung stigmastan và một số dẫn chất stigmastan trong xoài.
Hình 1.11: Công thức của mangiferin.
Hình 3.1: Hình ảnh cây và hoa xoài tròn Yên Châu-Sơn La.
Hình 3.2: Ảnh chụp các bộ phận của hoa, quả, lá xoài tròn.
Hình 3.3: Vi phẫu gân chính và phiến lá xoài tròn.
Hình 3.4: Một góc của vi phẫu gân chính lá xoài tròn.
Hình 3.5: Vi phẫu phiến lá xoài tròn.
Hình 3.6: Vi phẫu cuống lá xoài tròn.
Hình 3.7: Một góc của vi phẫu cuống lá xoài tròn.
Hình 3.8: Các đặc điểm của bột lá xoài tròn.
Hình 3.9: Hình ảnh sắc kí đồ của dịch chiết dƣợc liệu bằng dung môi ethanol ở ba
nồng độ 50
o
,70
o
, 90
o
, khai triển hệ dung môi EtOAc-HCOOH-H
2
O
[10:1,5:1].
Hình 3.10: Đồ thị đƣờng chuẩn mangiferin.
Hình 3.11: Hình ảnh sắc kí đồ chất M so sánh với mangiferin chuẩn, khai triển hệ
dung môi EtOAc-HCOOH-H
2
O [2:0,3:0,2].
Hình 3.12: Tinh thể chất M.
tròn (Mangifera indica L.) là một đặc sản của tỉnh Sơn La, nổi tiếng trên cả nƣớc.
Tuy nhiên, cho đến nay mới chỉ khai thác quả xoài tròn, còn cành, lá cây xoài tròn
thông qua việc tỉa cành hàng năm đều không đƣợc sử dụng. Để có thể làm tăng giá
trị sử dụng nguồn nguyên liệu lớn, lá xoài tròn (Mangifera indica L.) của huyện
Yên Châu, tỉnh Sơn La, góp phần xóa đói, giảm nghèo ở các tỉnh vùng sâu, vùng xa,
chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm thực vật và thành phần hóa học
của lá Xoài tròn Yên Châu, Sơn La” với hai mục tiêu chính: một là giám định
đƣợc tên khoa học của cây Xoài tròn Yên Châu dựa trên các nghiên cứu về đặc
điểm hình thái và vi học; hai là xác định đƣợc sự có mặt và hàm lƣợng của
mangiferin trong lá xoài.
2 Chƣơng I: TỔNG QUAN
1.1. Đặc điểm thực vật chi Mangifera L.
1.1.1.Vị trí phân loại chi Mangifera L.
Theo hệ thống phân loại của Takhatajan (1987, 2009) [6], [46], họ Đào lộn
hột và chi Mangifera L. có vị trí nhƣ sau :
Ngành Ngọc lan (Mangiphylata)
Lớp Ngọc lan (Magnoliopsida)
Phân lớp Hoa hồng (Rosidae)
Liên bộ Cam (Rutanae)
Bộ Cam (Rutales)
Họ Đào lộn hột (Anacardiaceae Lindl. 1830)
Phân họ Anacardioideae (Anacardioideae)
Chi Mangifera (Mangifera Linnaeus, 1753)
1.1.2. Đặc điểm hình thái và phân bố của của chi Mangifera L.
Đặc điểm hình thái chung của chi Mangifera L.: Cây gỗ thƣờng xanh, có
kích thƣớc lớn. Lá đơn mọc so le, có cuống, phiến lá nguyên, dai. Cụm hoa hình
chùy ở ngọn cành. Hoa nhỏ, mẫu 4 hay mẫu 5, tiền khai hoa lợp. Cánh hoa đôi khi
Nhóm Rawa Kosterm: nhóm này có 9 loài trong đó có loài M. minutifolia có
ở Việt Nam.
Nhóm Mangifera: nhóm này đƣợc phân chia tiếp thành 3 phân nhóm nhỏ
hơn:
Phân nhóm hoa mẫu 4: có 15 loài
Phân nhóm hoa mẫu 4-5: có 5 loài trong đó có hai loài M. indica và
M. dongnaiensis có mặt ở Việt Nam.
Phân nhóm hoa mẫu 5: có 15 loài trong đó có các loài M. indica; M.
laurina (hay M. longipes Griff.) và M. Flava có ở Việt Nam.
Loài M. indica có mặt ở cả hai phân nhóm hoa mẫu 4-5 và hoa mẫu 5. Trong
69 loài, ngoài các loài đã đƣợc phân loại trên còn có 12 loài không có vị trí phân
loại chính xác vì không có đủ chứng cứ.
Các đặc điểm mà Kostermans và Bompard (1993) dựa vào để phân loại chi
Mangifera L. gồm có:
4 (1). Hình dạng đĩa hoa.
(2). Số nhị hoa hữu thụ.
(3). Hạt có phức tạp không.
(4). Hình dạng của các nhánh thứ cấp trong cụm hoa.
(5). Lông tơ trên chùm hoa.
(6). Hình dạng, số lƣợng và đặc điểm gân lá.
(7). Hình dạng kích thƣớc cánh hoa.
(8). Hoa mẫu 4 hay mẫu 5 (đây không phải là đặc điểm cố định, thƣờng kết hợp
cả hai loại).
(9). Mạng lƣới gân đặc biệt ở mặt dƣới của lá.
(10). Hình dạng lá trƣởng thành.
(11). Tính nhất quán của lá.
(12). Cây rụng lá hay cây không rụng lá.
STT
Loài
Tên thƣờng gọi
Phân bố
1
M. indica L.
Xoài
Trung và Nam bộ
2
M. odorata Griff.
Xoài thơm
Miền Nam
3
M. cochinchinensis Engel.
Xoài nụt
Bình Dƣơng, Đồng Nai
4
M. camptosperma Pierre.
Xoài bùi
Bình phƣớc, Bình Dƣơng,
Tây Ninh, Tp Hồ Chí Minh
5
M. dongnaiense Pierre.
Xoài Đồng Nai
Lâm Đồng, Đà Lạt, Bình
Dƣơng, Đồng Nai
6
M. duperreana Pierre.
Quéo
Lâm Đồng, Ninh Thuận,
Khánh Hòa
1.2. Thành phần hóa học của chi Mangifera L.
Cho đến nay đã có rất nhiều nghiên cứu về thành phần hóa học của các loài
thuộc chi Mangifera L. Trong đó loài M. indica L. là loài phổ biến và đƣợc nghiên
cứu nhiều nhất. Thành phần hóa học đáng chú ý gồm có: Các hợp chất phenol và
acid benzoic, coumarin, flavonoid, xanthonoid, tinh dầu (monoterpen,
sesquiterpen), steroid, triterpen và vitamin. Đặc biệt mangiferin, một xanthon
glycoside đƣợc nghiên cứu nhiều nhất và là thành phần có nhiều hoạt tính sinh học.
1.2.1. Nhóm các hợp chất của phenol và acid benzoic
Các hợp chất thuộc nhóm này gồm có: acid gallic [40], [43], và các dẫn chất
của nó : methyl galate, n-propylga late [43]. Chúng chủ yếu đƣợc tìm thấy ở hoa, lá
và vỏ thân của các loài thuộc chi Mangifera L.
Hình 1.1: Acid gallic và các dẫn chất của nó phân lập từ chi Mangifera L.
Ngoài ra còn có các dẫn chất acid benzoic và acid 3,4-dihydroxy benzoic,
propyl benzoate [43], 5-[2(Z)-heptadecyl] resorcinol [24], 5-(12Cis- heptadecencyl)
resorcinol và 5-pentadecyl resorcinol đƣợc tìm thấy trong vỏ thân xoài [26].
1.2.2. Coumarin
Hai hợp chất thuộc nhóm coumarin đã đƣợc tìm thấy vỏ thân, vỏ rễ của loài
M. indica: acid ellagic (I) [40], mangcoumarin (II) [39].
7 (I) (II)
Hình 1.2: Công thức cấu tạo của acid ellagic (I) và mangcoumarin (II).
1.2.3. Flavonoid
Flavonoid là một trong những thành phần hóa học chính của chi Mangifera
L., chúng đƣợc tìm thấy trong lá, quả và hạt của cây. Các flavonoid đƣợc tìm thấy
trong các loài của chi Mangifera L. chủ yếu thuộc các nhóm: Anthocyanidin:]7-O-
methylcyanidin 3-O-β -D-galactopyranoside, 7-O- methylcyanidin [25]; Flavan-3-
Camphren ∆
2
-Caren ∆
3
-Caren α-Pinen
β-Pinen β- Myrecen Carveol
ρ-Cymene ρ-Geranial Linalol
Hình 1.5: Một số hợp chất monoterpen có trong chi Mangifera L.
Các monoterpen tìm thấy trong các loài của chi này chủ yếu thuộc nhóm các
dẫn chất không chứa oxy nhƣ: ∆
2
- và
∆
3
-caren, camphren, limonen, β-myrecen, α-
9 và β-phellandren, α- và β-pinen, β-ocimen, Cis-ocimen caryophylen, α-terpinolen,
α- và γ-terpinen, α-thujen,… Ngoài ra, còn có các dẫn chất chứa oxy gồm có: p-
cymen, carveol, ρ-linalol ,…[14], [38], [39], [44], [47].
Theo một nghiên cứu về tinh dầu chiết xuất từ vỏ quả xoài M. indica L. ở
Nigeria, cho thấy hàm lƣợng các monoterpen cao (83,2%) trong đó thành phần chủ
yếu là: ∆
3
-caren (58,2%), α-pinen (13,0%) [15].
tìm thấy ở vỏ cây.
Acid hydroxy mangiferolic. 3β,24,25-Triol-cycloartane.
Hình 1.7: Cấu trúc một số dẫn chất cycloartan phân lập từ chi Mangifera L.
Anjaneyulu và cộng sự đã phân lập đƣợc hai hợp chất teriterpen tetracyclic
nhóm damaran là 3β,20(S)-diol-dermar-24-en (III) [17] [19] và 3-oxo-dammar-24-
en-20S,26a-diol (IV) [20] từ một số thứ của loài M. indica L. của Ấn Độ.
Hình 1.8: Các hợp chất triterpenoid tetracyclic nhóm damaran đƣợc phân lập
từ M. indica L.
1.2.7. Steroid
Cho đến nay đã tìm thấy khoảng 9 steroid có trong các loài M. indica, M.
persiciformis, M. sylvatica. Các steroid đã đƣợc tìm thấy thuộc hai nhóm khung cơ
bản là pregnan và stigmastan.
Nhóm Pregnan: năm 1992, Anjaneyulu và cộng sự đã phân lập đƣợc hai hợp
chất pregnenolon và progesteron từ hoa xoài [19].
R
1
R
2
(III) -OH CH
3
(IV) =O CH
2
-OH
11
Nhựa vỏ cây xoài màu nâu đen, không mùi, vị đắng hắc, tiếp xúc không khí
thì đặc lại, khi hòa vào nƣớc có thể dùng để bôi ghẻ [11].
Lá xoài đƣợc dùng để trị các bệnh đƣờng hô hấp trên nhƣ ho, viêm phế quản,
tiêu chảy kiết lỵ, viêm ngứa ngoài da. Liều 20-30g/ngày, sắc uống [13].
1.3.2. Trong Y học hiện đại
Vỏ thân, vỏ cành, lá xoài dùng để chiết xuất dịch chiết toàn phần hoặc chiết
mangiferin tinh khiết làm thuốc. Trên thị trƣờng Cuba hiện có chế phẩm Vimang®
(dịch chiết toàn phần từ vỏ thân, lá xoài) đƣợc sử dụng nhƣ một thực phẩm chức
năng để hỗ trợ điều trị một số bệnh miễn dịch, dị ứng, chống oxy hóa, hỗ trợ trong
điều trị HIV. Trên thị trƣờng Việt Nam hiện nay cũng có rất nhiều sản phẩm với
thành phần chính là Mangiferin chủ yếu dùng để chữa bệnh do virus herpes nhƣ:
Viên nang cứng Mangoherpin 100mg, kem Mangoherpin 5%,… và diệt khuẩn nhƣ
dung dịch Manginovim 60ml.
1.4. Các nghiên cứu về chiết xuất và định lƣợng mangiferin
1.4.1. Tính chất của mangiferin
Mangiferin là một xanthonoid có công thức hóa học là: C
19
H
18
O
11
(M=
442,35), đƣợc Wiechowski (1923) phân lập từ vỏ cây Mangifera indica L Iseda
(1957) đã xây dựng cấu trúc mangiferin. Sau đó Ramanahan và Sechadi (1960) đã
nghiên cứu điều chỉnh lại cấu trúc. Cấu trúc đƣợc thừa nhận hiện nay là một
glycoside có phần aglycon có bộ khung xanthon với 4 nhóm hydroxyl và một phân
tử glucose đính vào C số 2 .
Hình 1.11: Công thức của mangiferin
13
/MeOH (1:1) thu đƣợc mangiferin màu vàng nhạt
dạng vô đinh hình. Kết tinh lại bằng methanol thu đƣợc tinh thể mangiferin hình
kim màu vàng nhạt [45].
S. Muruganandan và cộng sự cũng chiết mangiferin bằng ethanol theo qui
trình tƣơng tự nhƣng tinh chế bằng phƣơng pháp kết tinh. Dịch chiết ethanol thu
đƣợc đem cô dƣới áp xuất giảm đến cắn, loại chất béo nhiều lần rồi hòa tan vào
ethanol. Để 2 tuần ở nhiệt độ phòng thu đƣợc bột màu trắng ở dạng vô định hình.
14 Kết tinh lại nhiều lần trong hỗn hợp dung môi H
2
O-EtOAc thu đƣợc mangiferin tinh
thể màu vàng, hình kim. Độ tinh khiết đƣợc xác định bằng HPLC đạt 95,56% [41].
Để đánh giá khả năng chiết xuất của một số dung môi và hàm lƣợng
mangiferin từ lá của ba thứ xoài thuộc loài M. indica L., Aranya Jutiviboonsuk và
Chanchai Sardsaengjun đã khảo sát ba dung môi methanol, ethanol và acetone 70%
để chiết xuất mangiferin. Ngâm lạnh 100g bột lá mỗi thứ xoài với mỗi dung môi
chiết xuất ở nhiệt độ phòng, sau một tuần rút dịch chiết và thêm dung môi mới, làm
3 lần. Dịch chiết đem lọc, bốc hơi chân không ở 40
o
C đến cắn. Phân tán cắn vào
50ml hỗn hợp dung môi gồm dung môi chiết xuất và nƣớc (tỷ lệ 1:1, tt/tt). Sau đó
chiết với 100ml dichlomethan x 4 lần. Gạn lấy lớp dung môi-nƣớc đem thủy phân
trong bình hồi lƣu với acid sulfuric ở pH=3 trong 1h, khuấy trộn liên tục. Làm lạnh
đến nhiệt độ phòng, lắc với 100ml ethylacetat x 3 lần. Gạn lấy lớp ethylacetat đem
bốc hơi ở 40
o
C trong thiết bị bốc hơi chân không. Cắn thu đƣợc đƣợc hòa tan vào
methanol 70%
này, độ hấp thụ tuân theo định luật Lambert-beer tỷ lệ thuận với nồng độ. Do đó có
thể sử dụng phƣơng pháp đo độ hấp thụ tử ngoại để định lƣợng mangiferin.
Cân chính xác 1,00g dƣợc liệu đã xác định độ ẩm. Chiết với chloroform
trong bình Soxhlet đến khi dịch chiết không màu. Chiết tiếp với methanol cho tới
khi hết mangiferin. Cho dịch chiết methanol vào bình định mức 100ml, tráng bình
chiết 3lần bằng methanol. Thêm methanol đủ thể tích, lắc đều. Hút chính xác 5ml
cho vào bình định mức 100ml thứ 2, bổ sung đủ thể tích. Dung dịch trong bình định
mức 2 đem đo quang ở bƣớc sóng 369nm, đo 3 lần, lấy kết quả trung bình, mẫu
trắng là methanol. Xây dựng đƣờng chuẩn bằng cách chuẩn bị dãy dung dịch có
nồng độ: 0,0075%; 0,0025%; 0,002%; 0,001% trong methanol. Đo quang ở bƣớc
sóng 369nm với mẫu trắng là methanol.
Đo độ hấp thụ là một phƣơng pháp khá đơn giản có thể thực hiện ở nhiều
phòng thí nghiệm và độ chính xác cao nên có thể dùng để kiểm nghiệm dƣợc liệu
[10].
1.4.3.3. Phƣơng pháp sắc kí sử dụng sắc kí lỏng cao áp (HPLC)
Tác giả Bùi Thị Hằng đã nghiên cứu xây dựng phƣơng pháp sắc kí lỏng cao
áp để định lƣợng mangiferin. Dung dịch mẫu thử đƣợc chuẩn bị nhƣ sau: cân 1,00g
dƣợc liệu xay nhỏ đã xác định hàm ẩm. Chiết bằng methanol cho đến khi hết
mangiferin trong bình Soxhlet. Cô cạn dịch chiết đến 80ml, chuyển sang bình định
mức 100ml, thêm methanol đến vạch chuẩn. Dung dịch mangiferin chuẩn có nồng
độ 0,02% trong methanol. Điều kiện sắc kí: pha tĩnh: Hitachi gel 3050, pha động:
methanol, cột: 2,5 x 500mm, detector tử ngoại ở bƣớc sóng 369nm, tốc độ dòng:
1ml/phút [7].